Bước hềnh hệch

blogpost thumb

“Chúng ta mua những thứ chúng ta không cần, bằng tiền chúng ta không có, để làm vừa lòng những người chúng ta không thích.” (Trích “Fight Club”)

Bước đi lạnh lẽo hai bờ gió dãy nhà chót vót cọc nhọn xuyên thủng khói mây
Thiên thần trói đôi cánh góc bàn chật những con số dâng dầy
Nở nụ cười điên điên loạn loạn cơn tâm thần vàng ệch một góc trăng
Hềnh hệch, hềnh hệch, hềnh hệch…
Cười cho qua một kiếp tù đầy vẫn tưởng mình leo tới đỉnh tháp ngất ngây
Đỉnh tháp là cái chết linh hồn không cứu rỗi

Bước lên cao, bước lên cao, lại bước lên cao
Bước lên đâu nữa nhỉ?
Chút khoe mẽ đời hoan hoan hỉ hỉ
Hềnh hệch, hềnh hệch, hềnh hệch
Tên tù nhân điên loạn đu dây vắt vẻo nóc nhà vun vút
Tung hứng hàng hàng con số
Tới mồ ma

Bước vào cuộc mưu sinh cúi mình chờ rớt rơi bạc đồng cặn bữa tiệc thừa lãnh chúa chán chê
Hềnh hệch, hềnh hệch, hềnh hệch
Tên tù nhân nuốt vội nguyện đời nô lệ
Nốc rượu cho tê chẳng đớn đau
Chút rượu thừa từ bàn lãnh chúa
Hềnh hệch lên đi, hềnh hệch lên đi
Nhà tù rôm rả cười đùa
Hềnh hệch cho văng linh hồn vãi vương cống rãnh
Xác thân lết chân đỉnh tháp
Linh hồn đã xả trôi

Bước khỏi góc thu mình chiều u uất hoang vu
Não phân hủy chỉ còn xương sọ rỗng
Bộ xương nhe răng há miệng
Hềnh hệch, hềnh hệch, hềnh hệch
Nấm mồ nhốt chặt đôi cánh đã quên
Bầy xương đi trắng phố vẩy vung
Chiều cuối năm đã ngập mùi xác thối
Bay cao hơn vun vút nóc nhà

Hà Thủy Nguyên

Chân tâm chi dụng - Trần Thánh Tông

blogpost thumb

Chân tâm được dụng
Sáng suốt lặng lẽ
Không đi không đến
Chẳng bớt chẳng thêm
Được nhiều được ít
Mặc thuận mặc nghịch
Như hạc cưỡi mây
Như tường vững chãi
Nhẹ như cọng lông
Nặng như tảng đá
Tự tại tâm sáng
Vằng vặc lòng trung
Không thể đếm đo,
Chẳng hề lưu dấu
Nay trẫm vì người
Tỏ bày gan ruột

Bản Hán Việt:

Chân tâm chi dụng,
Tinh tinh tịch tịch.
Vô khứ vô lai,
Vô tổn vô ích.
Nhập đại nhập tiểu,
Nhậm thuận nhậm nghịch.
Động như vân hạc,
Tĩnh như tường bích.
Kỳ khinh như mao,
Kỳ trọng như thạch.
Sái sái nhi tịnh,
Khoả khoả nhi xích.
Bất khả đạc lượng,
Toàn vô tung tích.
Kim nhật vị quân,
Phân minh phẫu phách.

Tạp thi kỳ 1 - Tào Phi

blogpost thumb

Hà Thủy Nguyên dịch

Miên man đêm thu lặng
Lành lạnh gió bắc hàn
Trở mình không chợp mắt
Choàng áo bước lang thang
Loanh quanh đi lại đứng
Sương trắng ướt áo rồi.
Cúi nhìn sóng nước lạnh
Ngẩng xem trăng sáng soi
Thiên Hán về tây cả
Tam Ngũ chiếu giữa trời
Côn trùng buồn rỉ rả
Cô nhạn liệng về nam
Rầu rầu cơn buồn thảm
Dằng dặc nhớ quê nhà
Nguyện tung bay đôi cánh
Nào đâu cầu vượt sông
Nương gió dài than thở
Đứt lìa lòng đau thương.

 

Bản phiên âm  Hán Việt:

Mạn mạn thu dạ trường,
Liệt liệt bắc phong lương.
Triển chuyển bất năng mị,
Phi y khởi bàng hoàng.
Bàng hoàng hốt dĩ cửu,
Bạch lộ triêm ngã thường.
Phủ thị thanh thuỷ ba,
Ngưỡng khán minh nguyệt quang.
Thiên Hán hồi tây lưu,
Tam Ngũ chính tung hoành.
Thảo trùng minh hà bi,
Cô nhạn độc nam tường.
Uất uất đa bi tư,
Miên miên tư cố hương.
Nguyện phi an đắc dực,
Dục tế hà vô lương.
Hướng phong trường thán tức,
Đoạn tuyệt ngã trung trường.

 

Ra khỏi cuồn cuộn đại dương để là giọt nước nhẹ nhàng - Walt Whitman

blogpost thumb

Hà Thủy Nguyên dịch

1
Ra khỏi cuồn cuộn đại dương để là giọt nước nhẹ nhàng
Thầm thì, tôi yêu em, tự lâu trước khi tôi nhắm mắt
Tôi đã đi qua chặng dài vô tận để chạm tới em
Vì tôi không thể chết cho đến ngày gặp gỡ
Vì tôi e một ngày tôi sẽ đánh mất em

2.
(Giờ đây ta gặp gỡ an lành
Yên bình trở lại đại dương mênh mang tình tôi
Tôi là phần bé nhỏ của đại dương, em yêu, nơi ta chẳng phân lìa
Ô kìa tuyệt diệu, gắn kết tất thảy, hoàn hảo biết bao!
Nhưng với tôi, với em, biển bất tuân nào chia cách nổi,
Dù trong khắc giờ chúng ta đối lập, nhưng đối lập được mấy nỗi đâu
Đừng nóng vội, chỉ chút cách xa thôi – để biết em tôi cúi chào gió, biển cả và đất liền,
Ngày ngày mặt trời xuống biển, em yêu, chỉ bởi em thôi.)

*Nguyên tác:

“Out of the rolling ocean the crowd came a drop gently to me”

1.
Out of the rolling ocean the crowd came a drop gently to me,
Whispering, I love you, before long I die,
I have travell’d a long way merely to look on you to touch you,
For I could not die till I once look’d on you,
For I fear’d I might afterward lose you.

2.
(Now we have met, we have look’d, we are safe,
Return in peace to the ocean my love,
I too am part of that ocean, my love, we are not so much separated,
Behold the great rondure, the cohesion of all, how perfect!
But as for me, for you, the irresistible sea is to separate us,
As for an hour carrying us diverse, yet cannot carry us diverse forever;
Be not impatient – a little space – know you I salute the air, the ocean and the land,
Every day at sundown for your dear sake, my love.)

* Tranh minh họa Aivazovsky

Yên ca hành kỳ 2: Biệt nhật - Tào Phi

blogpost thumb

Biệt nhật hà dị hội nhật nan,
Sơn xuyên du viễn lộ man man.
Uất đào tư quân vị cảm ngôn,
Ký thư phù vân vãng bất hoàn.
Thế linh vũ diện huỷ hình nhan,
Thuỳ năng hoài ưu độc bất than.
Cảnh cảnh phục chẩm bất năng miên,
Phi y xuất hộ bộ đông tây.
Triển thi thanh ca liêu tự khoan,
Lạc vãng ai lai tồi tâm can.
Bi phong thanh lệ thu khí hàn,
La duy từ động kinh Tần hiên.
Ngưỡng đới tinh nguyệt quan vân gian,
Phi thương thần minh,
Thanh khí khả liên,
Lưu liên hoài cố bất tự tồn.

Bản dịch thơ của Hà Thủy Nguyên: 

Chia lìa dễ sao khó gặp chàng
Sông núi xa với đường mênh mang
Nhớ nhung kết lại lời gan ruột
Gửi theo mây nổi nào quay về
Lệ rơi mưa táp hủy dung nhan
Ai người lặng nhớ chẳng thở than.
Canh cánh lòng đêm không chìm giấc
Trùm áo lang thang bước giữa đàng
Thơ này ca lên dịu buồn tan
Vui đi sầu tới nát tâm can
Buồn buồn sắc gió khí thu hàn
Rèm lụa lay lay hiên Tần lạnh
Ngẩng đầu vén mây ngắm trăng sao
Hoàng oanh gáy sáng
Nghe mà xót xa
Nhớ nhung đau đớn buồn chẳng nguôi.

Thiện tai hành kỳ 1 - Tào Phi

blogpost thumb

Thơ của một võ tướng mà lại hư vô như thế đấy!

Hà Thủy Nguyên dịch

Lên núi hái rau
Chiều tàn hiu hắt
Sơn khê gió nổi
Sương đẫm áo rồi
Trĩ hoang kêu loạn
Vượn hú tìm nhau
Nhớ trông quê cũ
Sầu chất thành cao!
Núi cao có vách
Cây lớn có cành
Ta buồn không chốn
Người nào biết đâu
Đời người sống tạm
Lo lắng mà chi?
Ta nay chẳng cười
Năm tháng qua mau
Nước cuồn cuộn chảy
Thuyền bập bềnh trôi
Mặc nước vần xoay
Như người khách lạ
Quất roi ruổi ngựa
Áo nhẹ choàng thân
Năm đi năm đến
Lòng biếng sầu lo.

*Bản Hán Việt:

Thướng sơn thái vi,
Bạc mộ khổ ky.
Khê cốc đa phong,
Sương sương triêm y.
Dã trĩ quần cẩu,
Viên hầu tương truy.
Hoàn vọng cố hương,
Uất hà luy luy!
Cao sơn hữu nhai,
Lâm mộc hữu chi.
Ưu lai vô phương,
Nhân mạc chi tri.
Nhân sinh như ký,
Đa ưu hà vi?
Kim ngã bất lạc,
Tuế nguyệt như trì.
Thang thang xuyên lưu,
Trung hữu hành chu.
Tuỳ ba chuyển bạc,
Hữu tự khách du.
Sách ngã lương mã,
Bị ngã khinh cừu.
Tải trì tải khu,
Liêu dĩ vong ưu.

*:Nhạc phủ thi tập” ghi tác giả bài này là Tào Tháo, “Tống thư” phần “Nhạc chí” ghi là của Tào Phi. Riêng mình nghĩ có khả năng là của Tào Phi hơn, vì Tào Tháo thơ văn không có cái không khí chán đời thế này.

Các bạn có thử so sánh với văn phong trong một bài Thiện tai hành khác của Tào Tháo: https://www.thivien.net/Tào-Tháo/Thiện-tai-hành-kỳ-2/poem-b1fXZ6zcojddT24qShYwtw

Đan tế nhật hành - Tào Phi

blogpost thumb

Hà Thủy Nguyên dịch

Ráng hồng khuất vầng dương

Cầu vồng trời cao buông

Rào rào hang suối tuôn

Ào ào cây lá rụng

Chim lẻ lạc bầy rồi

Điệu buồn ám tầng mây

Trăng hết tròn lại khuyết

Hoa chẳng nở hai lần

Xưa nay đều vậy cả

Ôi biết nói gì đây.

*Bản Hán Việt:

Đan hà tế nhật,

Thái hồng thuỳ thiên.

Cốc thuỷ sàn sàn,

Mộc lạc phiên phiên.

Cô cầm thất quần,

Bi minh vân gian.

Nguyệt doanh tắc xung,

Hoa bất tái phồn.

Cổ lai hữu chi,

Ta ngã hà ngôn.

Điếu can hành - Tào Phi

blogpost thumb

Đông việt hà tế thuỷ,
Dao vọng đại hải nhai.
Điếu can hà san san,
Ngư vĩ hà si si.
Hành lộ chi hiếu giả,
Phương nhị dục hà vi?

Bản dịch thơ của Hà Thủy Nguyên:

Nước sông đổ về Đông
Xa ngắm bờ biển lớn
Cần câu kìa mảnh mảnh
Đuôi cá kìa rung rung
Lại qua đều ưa thích
Sao chẳng đớp mồi thơm?

“Điếu can hành” là một khúc nhạc phủ đã thất truyền lời gốc. Tích là: Bá Thường Tử trốn kẻ thù tới bên sông là ngư phủ, nhưng vì ông quá nhớ vợ nên đã viết thành khúc này. Dựa trên tích này, nhiều vị có lẽ cho rằng Tào Phi vì nhớ vợ mà viết. Nhưng mình không đồng quan điểm ấy. Các hình ảnh trong bài thơ đều dài và rộng, các biểu tượng sông lớn, biển rộng thể hiện cho tráng chí. Hình ảnh người câu cá, mồi thơm, cá không đớp… cho thấy tâm trạng chờ đợi. Tào Phi chờ đợi ai? Ông thích mỹ nhân nào là có được lòng mỹ nhân ấy, như vậy, có lẽ ông không cần “thả thính” các mỹ nhân. Thứ mà ông thực sự mong cầu là nhân tài. Trong bài “Đại tường thượng hao hành”, tâm trạng này rất sục sôi. Như vậy, ý tứ của bài thơ này, theo mình là nỗi lòng mong ngóng của một chủ quân cầu hiền tài, thả thính hiền tài nhưng mà chẳng hiền tài nào đớp, khổ thế! 💩

 

 

Ngõ mưa - Đới Vọng Thư

blogpost thumb

Bản dịch của Hà Thủy Nguyên

Mở bung ô giấy dầu, lẻ bước
Phảng phất nơi xa ngái, vời vợi
Hiu hắt trắng ngõ mưa rơi
Ta mong mỏi ngóng chờ
Một dáng hình như đóa đinh hương
Nàng tựa như tủi lại như hờn.

Nàng đấy ư
Dung nhan nàng dáng vẻ đinh hương
Hương thơm nàng ngát vẻ đinh hương
U sầu nàng đượm dáng đinh hương
Tủi hờn nơi ngõ mưa
Lại phảng phất nhớ thương.

Nàng phảng phất nơi mưa trắng quạnh hiu
Ô giấy dầu ngõ mưa
Đơn độc như ta
Cũng đơn độc như ta
Âm thầm bước ngập ngừng
Cũng âu sầu, lạnh lẽo, thê thương.

Nàng lặng lẽ tới gần
Tới gần, lại bước qua
Mắt ánh lộ một vẻ bâng khuâng
Nàng thoảng qua
Quẩn quanh như giấc mộng
Mênh mang hiu hắt quẩn quanh như giấc mộng

Thoảng qua trong giấc mộng
Vẫn một đóa đinh hương
Tôi thoáng gần nàng khoảnh khắc
Nàng lặng lẽ bước xa xăm, xa xăm
Xa xăm nơi bờ tường đổ nát
Ngõ mưa đã tận rồi.

Đường quanh quẩn mưa sầu
Nhan sắc nàng phai nhạt
Hương thơm nàng tản mát
Và ngay cả nàng, cũng tiêu tan
Ánh mắt đượm vẻ bâng khuâng
Đinh hương vẫn cứ buồn thương

Mở bung ô giấy dầu, lẻ bước
Phảng phất nơi xa ngái, vời vợi
Hiu hắt trắng ngõ mưa rơi
Ta mong mỏi ngóng chờ
Một dáng hình như đóa đinh hương
Nàng tựa như tủi lại như hờn.

*Đới Vọng Thư (1905 – 1950), là một nhà thơ Tượng Trưng của Trung Quốc. Ông là người đã dịch nhiều bài thơ của Baudelaire và Verlain sang tiếng Trung.

Nguyên tác:
雨巷
撑着油纸伞,独自
彷徨在悠长,悠长
又寂寥的雨巷,
我希望逢着
一个丁香一样的
结着愁怨的姑娘 。

她是有
丁香一样的颜色,
丁香一样的芬芳,
丁香一样的忧愁,
在雨中哀怨,
哀怨又彷徨;

她彷徨在这寂寥的雨巷,
撑着油纸伞
像我一样,
像我一样地
默默彳亍着,
冷漠,凄清 ,又惆怅。

她静默地走近
走近,又投出
太息一般的眼光,
她飘过
像梦一般地,
像梦一般地凄婉迷茫。

像梦中飘过
一枝丁香的,
我身旁飘过这女郎;
她静默地远了,远了,
到了颓圮的篱墙,
走尽这雨巷。

在雨的哀曲里,
消了她的颜色,
散了她的芬芳,
消散了,甚至她的
太息般的眼光,
丁香般的惆怅。

撑着油纸伞,独自
彷徨在悠长,悠长
又寂寥的雨巷,
我希望飘过
一个丁香一样的
结着愁怨的姑娘

Tại sao tôi viết - George Orwell (2): Văn chương và chính trị

blogpost thumb

Có thể thấy rằng những xung lực khác nhau này đã phải giao tranh với nhau như thế nào, và bằng cách nào chúng lan truyền từ người này sang người khác theo thời gian. Theo bản chất – cứ cho rằng “bản chất” là trạng thái bạn đạt được khi bạn lần đầu trưởng thành – tôi là người mà ba động lực đầu tiên mạnh mẽ hơn động lực thứ tư. Ở thời bình, tôi có thể đã chỉ viết những cuốn sách mang tính trang trí, và vẫn hầu như không nhận thức gì về lòng trung thành chính trị của mình. Như thể tôi bị buộc phải trở thành một loại tuyên truyền viên. Đầu tiên, tôi mất 5 năm để làm công việc không phù hợp (một Cảnh sát Hoàng gia Ấn Độ, ở Miến Điện), rồi sau đó tôi rơi vào cảnh nghèo túng và cảm nhận được về sự thất bại.  Điều này làm tăng sự thù ghét tự nhiên đối với nhà cầm quyền và khiến tôi lần đầu ý thức một cách đầy đủ về sự tồn tại của tầng lớp lao động, và công việc ở Miến Điện đã mang lại cho tôi hiểu biết về bản chất của nền quân chủ: nhưng những trải nghiệm này không đủ để mang lại cho tôi một định hướng chính trị đúng đắn. Thế rồi Hitler xuất hiện, Nội chiến Tây Ban Nha, vân vân. Cho đến cuối năm 1935, tôi vẫn tiếp tục thất bại trong việc đưa ra một xác quyết. Tôi nhớ tôi đã viết một bài thơ ngắn vào ngày đó, thể hiện tình trạng lưỡng lự của mình:

 

Một cha sở hạnh phúc tôi đã từng

Hai trăm năm trước

Rao giảng về tận thế

Và ngắm hạt óc chóc mọc

 

Nhưng, bẩm sinh, than ôi, thời tội lỗi

Tôi bỏ lỡ thiên đàng phúc lạc

Vì lông mọc trên môi tôi

Và các giáo sĩ đều nhẵn nhụi

 

Và sau đó đều là thời toàn hảo

Ta dễ dàng phúc lạc

Ta lung lay đau khổ để yên giấc

Trên những bộ ngực cây cối.

 

Tất cả ngu dốt chúng ta dám sở hữu

Niềm vui chúng ta pha loãng

Chùm lông trên cành táo

Cũng khiến kẻ thù run sợ

 

Nhưng những quả mơ và bụng cô gái

Phủ lên dòng suối

Ngựa, vịt trong chuyến bay lúc bình minh

Đều là một giấc mơ

 

Cấm mơ thêm nữa;

Ta chặt đứt niềm vui hoặc che giấu chúng

Ngựa làm từ thép

Và kẻ béo múp nhỏ thó cưỡi chúng

 

Tôi là con sâu chẳng quay đầu

Hoạn quan không có hậu cung

Giữa linh mục và chính ủy

Tôi đi như Eugene Aram

 

Và chính ủy đang nói về vận may của tôi

Khi radio đang phát,

Nhưng linh mục đã hứa với một Austin Seven,

Vì Duggie luôn chi trả.

 

Tôi mơ tôi ở trong phòng cẩm thạch,

Và tỉnh dậy để biết là sự thực;

Tôi đã được sinh ra ở thời đại thế đấy;

Smith ư? Jones ư? Bạn ư?

 

Chiến tranh Tây Ban Nha và các sự kiện khác trong năm 1936 – 37 đã thay đổi quy mô và sau đó tôi biết mình đang ở đâu. Mỗi dòng trong tác phẩm nghiêm túc mà tôi bắt đầu từ năm 1936 đã được viết ra, trực tiếp hoặc gián tiếp, đều chống lại chế độ toàn trị và ủng hộ chủ nghĩa xã hội dân chủ, như tôi hiểu về nó. Đối với tôi, dường như vô lý khi ở trong một thời đại của chúng ta mà nghĩ rằng người ta có thể tránh viết về những chủ đề như vậy. Mọi người viết về chúng trong vỏ bọc này hoặc vỏ bọc khác mà thôi. Đơn giản là một câu hỏi về phe nào đang thực hiện vào điều gì sẽ tới sau đó. Và một người càng ý thức được về thiên kiến chính trị, thì càng có nhiều cơ hội để hành động một một cách chính trị mà không cần phải hi sinh sự liêm chính trong thẩm mỹ và trí tuệ của mình.

 

 

Những gì tôi mong muốn nhất trong suốt mười năm qua là khiến văn chương chính trị trở thành một nghệ thuật. Xuất phát điểm của tôi luôn là một cảm giác về lòng trung thành, một cảm giác về bất công. Khi tôi ngồi xuống và viết, tôi không nói với bản thân mình rằng: “Tôi sẽ tạo ra một tác phẩm nghệ thuật”. Tôi viết nó bởi vì có lời dối trá rằng tôi muốn phơi bày, những sự kiện mà tôi thu hút sự chú ý, và mối quan tâm ban đầu của tôi là muốn được lắng nghe. Nhưng tôi không thể viết được một cuốn sách, hoặc thậm chí một bài tạp chí dài, nếu đó còn chẳng phải là một trải nghiệm thẩm mỹ. Bất cứ ai quan tâm đến việc xem xét tác phẩm của tôi sẽ thấy rằng ngay cả khi nó được tuyên truyền một cách rõ ràng nó vẫn chứa đựng nhiều điều mà chính trị gia chuyên nghiệp coi là lạc đề. Tôi không thể, và cũng không muốn, hoàn toàn từ bỏ thế giới quan mà tôi đã có từ thời thơ ấu. Chừng nào tôi còn sống tôi và tôi còn cảm thấy rõ ràng mãnh liệt về lối văn chương, thì còn tiếp tục yêu trái đất, và còn mang tới niềm vui tới những đối tượng thô cứng và những mẩu thông tin vô dụng. Không ích gì để cố gắng kìm nén chiều kích nào đó của bản thân mình. Công việc này là để điều tiết những gì yêu ghét ăn sâu vào tôi với những hoạt động tập thể, công cộng thiết yếu mà thời đại này ép buộc lên tất cả chúng ta.

 

Điều này không dễ. Nó đặt ra các vấn đề về cấu trúc và ngôn ngữ, và nó cũng đặt ra một cách thức mới về sự trung thực. Hãy để tôi đưa ra chỉ một ví dụ về loại khó khăn đã phát sinh. Cuốn sách của tôi về cuộc nội chiến Tây Ban Nha, “Tôn kính dành cho Catalonia” (Homage to Catalonia”), tất nhiên là một cuốn sách chính trị rõ rệt, nhưng tổng quan nó được viết ra với sự tách rời và chú ý nhất định đối với hình thức. Tôi đã rất cố gắng để kể toàn bộ sự thật mà không vi phạm bản năng văn chương của mình. Nhưng trong những phần khác có hẳn một chương dài đầy các trích dẫn trên báo và những thứ tương tự thế, để bảo vệ những người theo chủ nghĩa Trotsky đã bị buộc tội mưu đồ cùng Franco. Rõ ràng một chương như vậy, sau một hoặc hai năm sẽ khiến người đọc thông thường chẳng quan tâm nữa, chắc chắn sẽ làm hỏng cuốn sách. Một nhà phê bình mà tôi tôn trọng đã đọc tôi tôi nghe một bài giảng về điều này. Ông ta nói: “Tại sao ông lại nhét tất cả vào đó? Ông đã biến những gì có thể tạo ra một cuốn sách hay thành báo chí.” Những gì ông ta nói là đúng, nhưng tôi không thể làm khác được.  Tôi tình cờ biết, điều mà rất ít người ở Anh được phép biết, rằng những người đàn ông vô tội đã bị buộc tội sai. Nếu tôi không giận dữ về điều đó thì tôi không bao giờ viết nên cuốn sách này.

 

Dù hình thức này hay hình thức khác, vấn đề sẽ lại nảy sinh. Vấn đề của ngôn ngữ tinh vi hơn và sẽ mất rất nhiều thời gian để bàn cãi. Tôi sẽ chỉ nói rằng những năm sau này tôi đã cố viết ít hình ảnh hơn và nhiều chính xác hơn. Trong mọi trường hợp nào tôi nhận ra rằng vào thời điểm bạn hoàn thiện phong cách văn chương của mình, bạn vẫn luôn vượt lên khỏi nó. “Trại súc vật” (“Animal Farm”) là cuốn sách đầu tiên tôi cố gắng hợp nhất mục đích chính trị và mục đích nghệ thuật , với toàn bộ ý thức rằng tôi đang làm gì. Tôi chưa viết cuốn tiểu thuyết nào trong vòng bảy năm, nhưng tôi hi vọng sẽ viết ra một cuốn khác sớm thôi. Đó chắc chắn là một thất bại, mỗi cuốn sách đều là thất bại, nhưng tôi biết rõ loại sách mà tôi muốn viết.

 

Nhìn lại qua vài trang cuối, tuôi thấy rằng tôi đã khiến điều này xuất hiện dù cho động lực văn chương của tôi là toàn bộ công chúng. Tôi không muốn để lại điều đó như ấn tượng cuối cùng. Tất cả các nhà văn đều vô dụng, ích kỷ, và lười biếng, và ở đáy động lực của mình đều ẩn chứa một bí ẩn. Viết một cuốn sách là một cuộc chiến khủng khiếp và kiệt quệ, giống một căn bệnh dài đau đớn. Người ta không bao giờ thực hiện được một điều như vậy nếu không bị điều khiển bởi con quỷ mà người ta vốn không chống lại được hoặc hiểu về nó. Chúng ta đều biết rằng con quỷ đó chỉ đơn giản tương tự một loại bản năng khiến cho một đứa trẻ la hét gây chú ý. Tuy nhiên cũng đúng là người ta có thể viết những điều không thể đọc nổi trừ phi người ta liên tục tranh đấu để biểu hiện cá tính của riêng mình. Văn hay giống như một ô cửa sổ. Tôi không dám chắc rằng động lực nào của tôi là mạnh mẽ nhất, nhưng tôi biết chắc đâu là điều xứng đáng để đi theo. Và nhìn lại công việc của mình, tôi thấy rằng lần nào cũng vậy, cứ khi nào tôi thiếu mục đích chính trị thì sẽ viết ra những cuốn sách vô hồn với những đoạn văn màu mè, những câu văn vô nghĩa, những tính từ trang trí và nói chung là giả dối.

 

Gangrel, mùa hè 1946

Hà Thủy Nguyên dịch