Ni sư Jeong Kwan: "Tôi nấu thức ăn cho tâm trí"

blogpost thumb

Bạn là những gì bạn ăn, cũng như bộ quần áo nói lên con người bạn. Bạn cũng là những gì bạn tạo tác.

Đối với ni sư Jeoung Kwang, người được New York Times vinh danh là “đầu bếp triết gia”, sáng tạo các món ăn thể hiện “cấp độ thiền định”. Và với thiền định, bà không tĩnh tọa hay chiêm nghiệm, mà là khám phá: khám phá con người và vạn vật xung quanh.

“Tôi không phải đầu bếp”, Jeong Kwan cho biết trong cuộc phỏng vấn của Thời báo Hàn Quốc tại am của bà ở Chùa Baekyangsa phía nam tỉnh Jeolla ngày 29 tháng 5 năm 2017, khi được hỏi về biệt danh mà những người nước ngoài đặt cho bà. “Tôi là một người tu hành. Tôi bất biến. Đây là nơi tôi thuộc về”

Trà hoa sen của ni sư Jeong Kwan

Bà cũng phủ nhận những tin đồn rằng bà mở nhà hàng ở nước ngoài.

“Tôi không có năng lực và cũng chẳng quan tâm đến làm kinh tế. Nơi chốn của tôi là tại đây,” bà nói một cách cương quyết.

Jeong Kwan nổi tiếng cả ở trong và ngoài nước như một đạo sư về ẩm thực. Bạn đạt được sự công nhận của quốc tế sau khi được mời tới New York để nấu ăn cho một nhóm nhà báo tại nhà hàng Le Bernardin của đầu bếp ba sao Michelin, Eric Ripert. Sau khi các nhà phê bình ẩm thực tán dương những món của bà, tên bà đã được lan truyền. Vào tháng Hai năm nay (tức năm 2017), bà lần đầu được mời với tư cách là một ni sư tới Liên hoan phim quốc tế Berlin, nơi tập phim về bà trong TV series “Chef’s Table” được trình chiếu.

“Nếu đầu bếp nấu ăn cho cơ thể, tôi nấu ăn cho tâm trí”, Jeong Kwan nói.

“Thức ăn nhà chùa kết nối cơ thể và tâm trí, năng lượng vật lý và năng lượng tinh thần. Bởi vì điều này rất quan trọng trong thiền định, nó không nên trở thành cản trở. Ăn đồ ăn tốt rất quan trọng. Nó cần được nấu từ nguyên liệu đúng mùa, với sự giản đơn, và giảm thiểu tối đa gia vị”

Theo Jeong Kwan, thiền định bao gồm toàn bộ hành trình từ thu hoạch, nấu nướng và thưởng thức chúng.

“Con người tạo ra hương vị. Điều đó có nghĩa là chúng ta cần biết phẩm tính của các nguyên liệu. Chúng ta cần biết khi nào một quả dưa chuột hay một quả cà tím vào độ ngon nhất. Chúng ta cần biết khi nào thu hoạch, làm sao để bảo quản, thái nó ra như thế nào, cho bao nhiêu muối thì đủ. Hương vị khác nhau ra sao khi ta cắt chúng với các kích cỡ khác nhau? Chúng ta cần liên tục quan sát cây cối và khám phá đặc tính tự nhiên của chúng”, Jeong Kwan giảng giải.

“Dưa chuột xuất xứ từ đâu, nó lớn lên như thế nào, nó đã qua miệng ta thế nào? Khi nó bị tiêu đi trong dạ dày của ta, chúng ta cần trồng lại những lô dưa chuột mới. Chúng ta sẽ làm thế bằng cách nào? Chúng ta sẽ ăn, tiêu hóa và tái tạo ra sao? Sự quan sát những nguyên liệu và trạng thái thiền định luôn song hành. Bạn càng thiền định nhiều, bạn càng khám phá nhiều.”

Cấp độ khám phá phụ thuộc vào độ sâu của thiền định.

“Giống như các đầu bếp tạo ra những vũ trụ trên đĩa của mình, sự thay đổi trong thức ăn chúng ta nấu phụ thuộc vào cấp độ thiền định”. Bà nói.

“Nếu một đầu bếp nấu nướng để kiếm sống, thật khó để sáng tạo. Nhưng khi chúng ta nấu nướng để thiền định, sự sáng tạo là vô hạn. Năng lượng hôm nay và năng lượng ngày mai khác nhau. Tri giác về thức ăn và nguyên liệu phụ thuộc vào sự trong sạch trong trái tim và tâm trí bạn.”

Thức ăn nhà chùa có thể mang đặc trưng cơ bản thuần chay, nhìn từ bên ngoài. Các thầy tu Phật giáo không ăn thịt hay sản phẩm bơ sữa. Họ hiếm khi ăn trứng, nhưng đó dường như là tất cả những gì có trong ẩm thực chay. Và như nhiều người đã biết, họ không ăn tỏi hay các loại gia vị bởi vì chúng mang đến năng lượng dư thừa gây kích thích cơ thể.

“Chúng tôi không ăn thịt bởi vì đức tin về tái sinh. Bò, lợn hay gà mà chúng ta giết có thể là bố mẹ, con cái hay bạn bè của ta. Cũng có thể là chúng ta khi chúng ta chết đi. Chúng ta sẽ phải chịu trách nhiệm thế nào vì những hậu quả từ việc giết hại chúng? Chúng ta sẽ làm gì với năng lượng tiêu cực được tạo ra trong quá trình đó?”

Nhưng điều đó không có nghĩa rằng thịt bị cấm hoàn toàn đối với những người theo đạo Phật.

“Có ba nguyên tắc cần tuân thủ khi tiêu thụ thịt: 1/ Bạn không tự giết thịt; 2/ Bạn không chọn từ khu chăn nuôi; 3/ Bạn không yêu cầu người khác giết động vật được nuôi cho bạn. Điều này có nghĩa là bạn có thể ăn thịt động vật đã bị giết và bán ở chợ.” Jeong Kwan nhắc nhở.

“Dù vậy, có nhiều cách để nạp protein và chất béo mà  không cần ăn thịt. Nó có nguồn gốc thực vật, như đậu, dầu được chiết xuất từ cây cối hoặc rau lên men. Khi rau tiếp xúc với nhiệt và không khí, chúng được chuyển hóa hoàn toàn về tính chất.”

Bữa ăn chay ni sư Jeong Kwan nấu tại Amsterdam

Trở thành một người ăn chay, dù sao đi nữa, không nên là một xu hướng hay một nguyên tắc, mà phải là một thứ gì đó thật tự nhiên để nó thành một phần trong bạn.

“Chế độ chay giúp một người quay lại với tự nhiên. Nó giúp con người tìm thấy tự tính của mình mà không hề bị biến dạng. Những người ăn chay thường có tính cách ôn hòa hơn”, bà cho hay.

“Đó là một chế độ ăn được khuyến khích nhưng mọi người nên quên đi thực tế rằng mình là người ăn chay. Họ không nên bị ám ảnh với các nguyên tắc. Nó phải đến một cách tự nhiên, và họ sẽ thích ứng với tự nhiên.”

Bà than thở rằng con người hiện đại đang đi ngược lại tự nhiên.

“Con người bị bệnh bởi vì Trái Đất đang bệnh. Họ cần tìm cách cứu Trái Đất và tự cứu chính mình. Họ cần khám phá logic của tự nhiên. Thực phẩm tự nhiên, đó là khỏe mạnh và hạnh phúc,” vị ni sư nói.

Bà khuyên thị dân hãy ra ngoài với tự nhiên để khám phá trật tự của nó.

“Họ cần phải ra ngoài dù chỉ một lần trong tuần hoặc tháng để trải nghiệm. Họ cần biết họ đang ăn gì. Thực phẩm chính là thuốc. Nếu bạn ăn đồ ăn đóng gói, nó không có tính năng chữa lành. Trước khi ai đó chọn lựa liệu rằng mình có nên ăn chay hay không, họ cần nhận thức rằng tại sao điều đó lại cần thiết.”

 Yun Suh-young

Hà Thủy Nguyên dịch

Đối thoại của Krishnamurti và David Bohm về nguồn gốc của sự xung đột tâm lý

blogpost thumb
Lời người dịch: Đây là một đối thoại kỳ thú của bậc thầy tâm linh Krishnamurti và nhà vật lý lượng tử David Bohm. Cuộc đối thoại hé lộ cách tâm linh và khoa học đã tiến gần đến nhau để nhận diện sự thật. Những câu hỏi được đặt ra khi hai ông cùng trao đổi về lý do thế giới của loài người vận hành bằng cướp bóc và nô dịch, rồi sau đó dẫn đến nỗi ám ảnh về “sự trở thành” đầy vọng tưởng, và đi sâu vào lối tâm thức mắc kẹt trong thời gian của nhân loại. Có lẽ cuộc đối thoại này với Krishnamurti đã gợi mở cho David Bohm trong quá trình đề xuất thuyết vũ trụ toàn ảnh của ông.
Bức ảnh chụp Krishnamurti và David Bohm đang đối thoại với nhau.

KRISHNAMURTI: Thưa ông, chúng ta sẽ bắt đầu theo cách nào đây?

David Bohm: Tôi hiểu rằng ông có đôi điều muốn nói.

KRISHNAMURTI: Về rất nhiều thứ nhưng tôi không biết phải bắt đầu như thế nào.

DAVID BOHM: Ồ.

KRISHNAMURTI: Thưa ông, tôi muốn hỏi liệu nhân loại có đi sai hướng không.

DAVID BOHM: Một ngã rẽ? Chà, hẳn là phải thế, lâu lắm rồi, tôi nghĩ vậy.

KRISHNAMURTI: Đó là những gì tôi cảm thấy. Một thời gian dài trước đây nhân loại hẳn đã chuyển hướng.

DAVID BOHM: Vâng.

KRISHNAMURTI: Tôi chỉ đang hỏi.

DAVID BOHM: Có vẻ như vậy.

KRISHNAMURTI: Đó là cách đang diễn ra – tại sao? Ông thấy đấy, như tôi thấy, nhân loại luôn cố gắng trở thành một cái gì đó – sự trở thành.

DAVID BOHM: Cũng có thể. Ông thấy đấy, tôi nghĩ rằng, ông biết đấy, tôi đã bị ấn tượng bởi một điều mà tôi đã đọc cách đây rất lâu về việc con người đã sai lầm khi họ bắt đầu cướp bóc và nô dịch cách đây khoảng 5 hay 6 nghìn năm. Và sau đó mục đích tồn tại chính là bóc lột, cướp bóc và nô dịch.

KRISHNAMURTI: Đúng vậy, nhưng đó là một sự trở thành mang tính ích kỷ.

DAVID BOHM: Vâng, vì vậy chúng ta nên làm rõ mối liên hệ này. Loại trở thành nào liên đới tới việc đó? Thay vì kiến tạo và khám phá những công nghệ mới, vật liệu mới, và hơn thế nữa, họ thấy dễ dàng hơn khi cướp bóc láng giềng và nô dịch.

KRISHNAMURTI: Đúng thế, tất cả những điều đó.

DAVID BOHM: Bây giờ họ muốn trở thành gì?

KRISHNAMURTI: Do đó, xung đột là gốc rễ của tất cả những điều này.

DAVID BOHM: Có nhưng xung đột là gì? Ông thấy nếu chúng ta có thể đặt mình vào vị trí của những người xa xưa, ông sẽ thấy mâu thuẫn đó như thế nào?

KRISHNAMURTI: Đâu là gốc rễ của xung đột, không chỉ bên ngoài, mà cả xung đột nội tâm to lớn của con người? Gốc rễ của nó là gì?

DAVID BOHM: Chà, có vẻ như đó là những mong muốn trái ngược nhau.

KRISHNAMURTI: Không. Có phải tất cả chúng ta đều cố gắng … luôn luôn là như vậy, trong tất cả các tôn giáo, ông phải trở thành một cái gì đó? Ông phải đạt được.

DAVID BOHM: Vâng, nhưng điều gì khiến mọi người muốn làm điều đó? Tại sao họ không hài lòng với bất cứ điều gì họ là? Ông thấy rằng tôn giáo sẽ không được chú ý trừ khi nó lôi cuốn người ta trở thành một cái gì đó.

KRISHNAMURTI: Đó không phải là sự trốn tránh hay đúng hơn là không thể đối mặt với thực tế và thay đổi thực tế, mà thà là chuyển tới chỗ khác, mỗi ngày lại càng nhiều hơn.

DAVID BOHM: Vâng. Ông sẽ nói gì về thực tế là mọi người không thể chịu đựng?

KRISHNAMURTI: Thực tế là người ta không thể … Các Kitô hữu nói, tội tổ tông.

DAVID BOHM: Vâng, đó là một thời gian dài – nó đã xảy ra trước đó rất lâu.

KRISHNAMURTI: Rất lâu trước đó. Tôi chỉ đang nói. Trước đó rất lâu. Người theo đạo Hindu có quan niệm về Karma, ông biết đấy. Nguồn gốc của tất cả những điều này là gì?

DAVID BOHM: Chà, chúng tôi đã nói rằng có một sự thật mà mọi người không thể chịu đựng. Dù đó là gì họ cũng muốn tưởng tượng ra một điều gì đó tốt hơn.

KRISHNAMURTI: Vâng, một cái gì đó tốt hơn. Trở thành cái gì đó tốt hơn, hơn nữa, nữa nữa.

DAVID BOHM: Vâng. Và ông có thể nói rằng về mặt công nghệ, họ bắt đầu tạo ra các kỹ thuật để làm cho mọi thứ trở nên có ý nghĩa hơn, và sau đó họ mở rộng điều này mà không hề hay biết, và nói rằng ‘Tôi cũng phải trở nên tốt hơn, chúng ta, tất cả chúng ta đều phải trở thành …’

KRISHNAMURTI: Vâng, bên trong cũng trở nên tốt hơn.

DAVID BOHM: Tất cả chúng ta cùng nhau phải trở nên tốt hơn.

KRISHNAMURTI: Vâng, tốt hơn. Đúng rồi. Gốc rễ của tất cả những điều này là gì?

DAVID BOHM: Chà, tôi nên nghĩ rằng việc dự tính mục tiêu trở nên tốt hơn này là điều tự nhiên, rằng bản chất nó nằm trong cấu trúc của suy nghĩ.

KRISHNAMURTI: Có phải nó đang trở nên tốt hơn ở bên ngoài – nguyên tắc trở nên tốt hơn ở bên ngoài, hướng vào bên trong, cố gắng trở nên tốt hơn.

DAVID BOHM: Vâng, rõ ràng là con người không biết bất kỳ lý do gì họ lại không làm như vậy, ông thấy đấy.

KRISHNAMURTI: Vâng. Tôi biết, tất nhiên.

DAVID BOHM: Họ nói, nếu trở nên tốt hơn bên ngoài là điều tốt, thì tại sao tôi không nên trở nên tốt hơn bên trong.

KRISHNAMURTI: Tốt hơn bên trong. Đó là nguyên nhân của nó?

DAVID BOHM: Chà, điều đó đối với tôi. Nó đang đến gần hơn.

KRISHNAMURTI: Nó đang đến gần hơn? Thời gian có phải là yếu tố không? Thời gian như là ‘Tôi cần kiến ​​thức để làm – điều đó không quan trọng, bất kể nó là gì – tôi cần thời gian cho điều đó’. Nguyên tắc tương tự được áp dụng bên trong.

DAVID BOHM: Vâng. Chung nhận định khi nói rằng chúng ta dự kiến ​​một thứ gì đó tốt hơn ở bên ngoài đòi hỏi thời gian và do đó, điều tương tự cũng phải được thực hiện bên trong.

KRISHNAMURTI: Thời gian có phải là yếu tố không?

DAVID BOHM: Chà, bản thân thời gian, tôi không thể coi nó là yếu tố duy nhất.

KRISHNAMURTI: Không, không. Thời gian, đang trở thành đã ngụ ý thời gian.

DAVID BOHM: Đúng, nhưng người ta sẽ phải đặt một câu hỏi ở đây: thời gian tự nó – chúng tôi không thấy nó sẽ gây ra rắc rối như thế nào. Chúng tôi phải nói rằng thời gian bên ngoài không gây khó khăn gì.

KRISHNAMURTI: Nó gây ra đôi chút.

DAVID BOHM: Đôi chút chứ không phải không …

KRISHNAMURTI: Nhưng còn ý niệm bên trong về thời gian.

DAVID BOHM: Đúng vậy, chúng ta phải xem tại sao thời gian lại tàn phá nội tâm như vậy.

KRISHNAMURTI: Bởi vì tôi đang cố gắng trở thành một cái gì đó.

DAVID BOHM: Đúng, nhưng nếu tôi có thể nói thì hầu hết mọi người sẽ nói đó là điều đương nhiên. Chúng ta phải nói về việc trở thành tại sao lại sai trái.

KRISHNAMURTI: Trong đó có xung đột.

DAVID BOHM: Vâng. ĐỒNG Ý. Thế thì hãy nói về xung đột.

KRISHNAMURTI: Rõ ràng là khi tôi cố gắng trở thành một thứ gì đó thì đó là một cuộc chiến liên tục.

DAVID BOHM: Vâng. Chúng ta có thể đi sâu vào điều đó: tại sao nó là một trận chiến liên tục.

KRISHNAMURTI: Ồ, điều đó khá đơn giản.

DAVID BOHM: Ông thấy đó không phải là một trận chiến nếu tôi cố gắng cải thiện vị trí của mình ở bên ngoài.

KRISHNAMURTI: Bề ngoài, không.

DAVID BOHM: Đúng đó, vậy thì nó không phải là điều hiển nhiên. Ý tôi là sẽ rất tốt nếu làm thật rõ tại sao nó là một trận chiến khi chúng ta đang cố gắng làm điều gì đó bên trong.

KRISHNAMURTI: Có phải chúng ta đang hỏi tại sao bên ngoài nó ít nhiều đều đúng, nhưng bên trong khi áp dụng cùng một nguyên tắc thì nó lại mang đến một sự mâu thuẫn.

DAVID BOHM: Vâng. Và mâu thuẫn là?

KRISHNAMURTI: Giữa ‘cái là’ với cái ‘trở thành cái nên là’.

DAVID BOHM: Đúng vậy, nhưng bên ngoài dường như cũng có sự mâu thuẫn bởi vì chúng ta có một tình huống nào đó ở đây và chúng ta cố gắng biến nó thành một thứ khác. Bây giờ điều đó có vẻ ổn.

KRISHNAMURTI: Điều đó có vẻ bình thường, lành mạnh.

DAVID BOHM: Bây giờ khó khăn là tại sao nó là sự mâu thuẫn bên trong chứ không phải bên ngoài, hay ngược lại?

KRISHNAMURTI: Bên trong nó hình thành, phải không, một trung tâm, một trung tâm tự cao tự đại.

DAVID BOHM: Vâng, nếu chúng tôi có thể tìm ra lý do tại sao nó lại như vậy. Nó có diễn ra khi chúng ta làm điều đó bên ngoài không? Không cần, có vẻ như nó không cần phải làm.

KRISHNAMURTI: Không cần phải làm.

DAVID BOHM: Vâng. Bây giờ khi chúng ta đang làm điều đó bên trong thì chúng ta đang cố ép mình trở thành một thứ gì đó mà chúng ta không phải như vậy. Đúng chứ?

KRISHNAMURTI: Vâng.

DAVID BOHM: Và đó là một cuộc chiến. Thế là rõ ràng.

KRISHNAMURTI: Đó là một sự thật.

DAVID BOHM: Nhưng bề ngoài có vẻ như đó không cần phải là một cuộc chiến. Bởi vì vật chất sẽ cho phép chính nó được định hình – ông biết đấy, từ cái là gì đến cái nó phải như thế nào – phải không? Ông thấy chứ?

KRISHNAMURTI: Có phải bộ não của một người đã quá quen với xung đột đến mức người ta từ chối bất kỳ hình thức sống nào khác không?

DAVID BOHM: Chà, điều đó phải đến sau, nếu ông thấy nó, nhưng …

KRISHNAMURTI: Tôi hiểu điều đó, tôi hiểu điều đó.

DAVID BOHM: Sau một thời gian, mọi người đi đến kết luận rằng xung đột là không thể tránh khỏi và cần thiết, và tự nhiên họ sẽ …

KRISHNAMURTI: Nhưng nguồn gốc của xung đột, chúng ta đang đi sâu vào nó. Đó là nó. Nguồn gốc của xung đột là gì?

DAVID BOHM: Tôi nghĩ rằng chúng ta đã chạm vào nó khi nói rằng chúng ta đang cố gắng ép buộc bản thân. Một mặt, tôi nghĩ khi chúng ta là một thứ gì đó mà chúng ta muốn trở thành, và sau đó chúng ta cũng muốn trở thành một thứ khác, thứ gì đó khác biệt và do đó chúng ta muốn hai thứ khác nhau cùng một lúc. Điều đó có vẻ đúng?

KRISHNAMURTI: Tôi hiểu điều đó. Nhưng tôi đang cố gắng tìm ra nguồn gốc của tất cả sự khốn khổ, bối rối này – hiểu ý tôi chứ? – xung đột, đấu tranh – khởi đầu của nó là gì? Đó là lý do tại sao tôi đã hỏi ngay từ đầu: nhân loại đã đi nhầm đường chưa? Đó có phải là nguồn gốc của ‘Tôi không phải là Tôi’?

DAVID BOHM: Chà, điều đó có thể đang tiến gần hơn. Tôi nghĩ rằng điều đó đang tiến gần hơn đến sự tách biệt giữa ‘tôi không phải là tôi’.

KRISHNAMURTI: Vâng, chính là nó, chính là nó. Và cái ‘tôi’ – tại sao loài người lại tạo ra cái ‘tôi’ này chắc chắn sẽ gây ra xung đột này? ‘Tôi’ và ông, và tôi tốt hơn, vân vân, vân vân.

DAVID BOHM: Tôi nghĩ đó là một sai lầm đã mắc phải cách đây rất lâu, hay như ông gọi đó là một bước ngoặt sai lầm, một lần nữa đã tạo ra sự tách biệt giữa nhiều thứ khác nhau mà bề ngoài chúng ta không biết rõ hơn, thế mà mọi người vẫn tiếp tục làm.

KRISHNAMURTI: Tiếp tục đi.

DAVID BOHM: Không phải vì ác ý – mà chỉ đơn giản là không biết điều tốt hơn.

KRISHNAMURTI: Đúng, đúng, đúng.

DAVID BOHM: Không thấy điều họ đang làm.

KRISHNAMURTI: Đó có phải là nguồn gốc của tất cả những điều này không?

DAVID BOHM: Vậy là gần rồi. Tôi không chắc rằng đó là nguồn gốc. Ông cảm thấy như nào?

KRISHNAMURTI: Tôi có khuynh hướng quan sát rằng nó là … nguồn gốc là cái đó, bản ngã, ‘tôi’.

DAVID BOHM: Vâng, ông có thể nói, nhưng …

KRISHNAMURTI: Nếu không có bản ngã thì không có vấn đề, không có xung đột, không có thời gian – thời gian theo nghĩa trở thành, không trở thành, hiện hữu và không hiện hữu.

DAVID BOHM: Nhưng có thể chúng ta vẫn sẽ sa đà vào bất cứ thứ gì đã khiến chúng ta tạo ra bản ngã ngay từ đầu.

KRISHNAMURTI: Có phải – khoan đã, khoan đã, khoan đã. Có phải năng lượng quá rộng lớn, vô hạn, lại bị cô đặc hoặc thu hẹp lại trong tâm trí, và bản thân bộ não bị thu hẹp lại vì nó không thể chứa tất cả nguồn năng lượng khổng lồ này – ông vẫn bắt kịp những gì tôi đang nói chứ?

DAVID BOHM: Vâng

KRISHNAMURTI: Và do đó dần dần thu hẹp vào ‘tôi’..

DAVID BOHM: Tôi không hoàn toàn làm theo điều đó. Ý tôi là tôi hiểu rằng đó là những gì đã xảy ra nhưng tôi không hoàn toàn thấy tất cả lộ trình. Nếu ông nói rằng năng lượng rất rộng, rất lớn, và bộ não mà ông nói nó không thể xử lý, hay nó quyết định rằng nó không thể xử lý?

KRISHNAMURTI: Nó không thể xử lý.

DAVID BOHM: Nhưng nếu nó không thể xử lý, thì có vẻ như không có lối thoát?

KRISHNAMURTI: Không, không, khoan. Chờ đã, chờ đã, chờ đã. Chậm rãi. Tôi chỉ muốn thăm dò, thâm nhập vào nó một chút.

Tại sao bộ não, với tất cả suy nghĩ và đủ thứ, lại tạo ra cảm giác ‘tôi’ này? Tại sao? Bên ngoài, gia đình – ông thấy chứ? – bên ngoài nó phải như vậy.

DAVID BOHM: Chà, chúng ta cần một cảm giác nhận dạng chắc chắn để hoạt động.

KRISHNAMURTI: Vâng, hoạt động. Để hoạt động, để có một giao dịch, chức năng.

DAVID BOHM: Để biết nơi ông thuộc về.

KRISHNAMURTI: Đúng, và hơn thế. Và đó có phải là sự vân động đã mang lại điều đó? Sự vận động của bên ngoài, nơi tôi phải xác định – gia đình, ngôi nhà, v.v., dần dần trở thành ‘tôi’?

DAVID BOHM: Tôi nghĩ rằng năng lượng mà ông đang nói đến cũng được đưa vào nó.

KRISHNAMURTI: Vâng, tôi muốn dẫn một cách từ từ. Tôi có một ý niệm bên trong, tôi sẽ nói với ông sau.

DAVID BOHM: Bằng cách nào đó – ông thấy chắc chắn những gì ông nói là đúng rằng theo một cách nào đó, điều này dần dần được củng cố nhưng tự nó sẽ không giải thích được sức mạnh to lớn mà bản ngã có. Nó sẽ chỉ là một thói quen sau đó. Bản ngã trở nên thống trị hoàn toàn đòi hỏi nó phải trở thành tâm điểm của năng lượng cao nhất, ông biết đấy, năng lượng lớn nhất, trong tất cả các năng lượng?

KRISHNAMURTI: Có phải vậy không? Rằng bộ não không thể chứa năng lượng rộng lớn này.

DAVID BOHM: Giả sử bộ não đang cố gắng kiểm soát điều này, để nắm giữ, đưa nó vào trật tự.

KRISHNAMURTI: Năng lượng không có trật tự.

DAVID BOHM: Không, nhưng ông thấy nếu bộ não cảm thấy nó không thể kiểm soát được điều gì đó đang diễn ra bên trong, nó sẽ cố gắng thiết lập trật tự.

KRISHNAMURTI: Đó là trọng tâm điều tôi muốn nói… Ý tôi là, thưa ông, chúng ta có thể nói rằng bộ não – bộ não của ông, bộ não của anh ấy, bộ não của cô ấy – không chỉ mới sinh ra, mà nó rất rất cổ xưa?

DAVID BOHM: Chà, dù sao thì tôi cũng phải xem điều đó nghĩa là gì. Nó cổ xưa theo nghĩa nào?

KRISHNAMURTI: Theo nghĩa nó đã phát triển.

DAVID BOHM: Tiến hóa, vâng, tốt, từ động vật.

KRISHNAMURTI: Từ động vật, và hơn cả thế.

DAVID BOHM: Và động vật đã tiến hóa và vì vậy hãy cắt nghĩa toàn bộ quá trình tiến hóa bằng cách nào đó đã được chứa trong não.

KRISHNAMURTI: Tôi muốn đặt câu hỏi về sự tiến hóa. Tôi hiểu nói, từ xe bò đến máy bay phản lực – tôi hiểu điều ấy, sự tiến hóa đó.

DAVID BOHM: Vâng. Nhưng trước khi ông đặt câu hỏi, chúng ta phải xem xét rằng có bằng chứng về sự phát triển của một loạt các bước, ông có thể thấy con người phát triển qua một loạt các giai đoạn – ông không nghi ngờ điều đó, phải không?

KRISHNAMURTI: Không, tất nhiên là không, tất nhiên là không.

DAVID BOHM: Ý tôi là về mặt vật lý, rõ ràng là sự tiến hóa đã xảy ra theo một cách nào đó.

KRISHNAMURTI: Về mặt vật lý, có.

DAVID BOHM: Và bộ não đã lớn hơn.

KRISHNAMURTI: Đúng.

DAVID BOHM: Phức tạp hơn. Ông có thể đặt câu hỏi liệu sự tiến hóa về mặt tinh thần có bất kỳ ý nghĩa nào không. Tôi hiểu điều đó.

KRISHNAMURTI: Ông thấy đấy, thưa ông, tôi muốn xóa bỏ (cười) thời gian.

DAVID BOHM: Đúng vậy. Thôi, cứ tự nhiên.

KRISHNAMURTI: Về mặt tâm lý, ông hiểu không?

DAVID BOHM: Vâng, tôi hiểu.

KRISHNAMURTI: Đối với tôi đó là kẻ thù.

DAVID BOHM: Được rồi. Vâng, tôi hiểu điều đó rất rõ.

KRISHNAMURTI: Ông hiểu không?

DAVID BOHM: Vâng.

KRISHNAMURTI: Chà, đó là một cái gì đó! (Cười) Và đó có phải là nguyên nhân của nó không?

DAVID BOHM: Tôi không biết chúng ta muốn nói gì về ‘nguyên nhân’ nhưng đó là một điểm quan trọng.

KRISHNAMURTI: Không, nguồn gốc của sự khốn khổ của con người?

DAVID BOHM: Chà, chắc chắn là việc sử dụng thời gian này. Con người phải sử dụng thời gian cho một mục đích nhất định và anh ta đã lạm dụng nó.

KRISHNAMURTI: Điều đó có thể hiểu được. Tôi hiểu điều đó.

DAVID BOHM: Có phải vậy không?

KRISHNAMURTI: Ý tôi là nếu tôi phải học một ngôn ngữ thì tôi phải có thời gian.

DAVID BOHM: Nhưng còn việc lạm dụng thời gian bằng cách kéo dài nó ở bên trong.

KRISHNAMURTI: Vào bên trong, đó là điều tôi đang nói về.

DAVID BOHM: Vâng. Về bản chất.

KRISHNAMURTI: Đó có phải là nguyên nhân của điều này – sự nhầm lẫn của con người – coi thời gian như một phương tiện để trở thành, và ngày càng trở nên hoàn thiện hơn, ngày càng tiến hóa hơn, ngày càng thân thuộc hơn? Ông vẫn đang nghe chứ?

DAVID BOHM: Vâng, vâng, tôi hiểu. Chắc chắn tôi nghĩ nếu chúng ta không làm thế thì toàn bộ cấu trúc sẽ sụp đổ.

KRISHNAMURTI: Sụp đổ, thế là xong.

DAVID BOHM: Nhưng liệu vẫn còn nguyên nhân nào khác không, tôi không biết.

KRISHNAMURTI: Chờ chút. Tôi muốn đi sâu vào vấn đề đó một chút. Nếu tôi – không, cá nhân tôi không nói về mặt lý thuyết. Đối với tôi, ý niệm về ngày mai không tồn tại, về mặt tâm lý.

DAVID BOHM: Đúng vậy.

KRISHNAMURTI: Tức là, thời gian là một chuyển động bên trong hoặc bên ngoài. Đúng chứ?

DAVID BOHM: Ý ông là thời gian tâm lý?

KRISHNAMURTI: Vâng. Thời gian tâm lý và thời gian hướng ngoại.

DAVID BOHM: Vâng. Và một mối quan hệ nhất định giữa hai điều đó.

KRISHNAMURTI: Tất nhiên. Bây giờ nếu thời gian tâm lý không tồn tại thì không có xung đột, không có ‘tôi’, không có ‘tôi’ là nguồn gốc của xung đột. Ông có hiểu không, thưa ông? Những gì tôi đang cố gắng đạt được là, bên ngoài chúng ta đã chuyển động, phát triển – micrô này, rồi đủ thứ.

DAVID BOHM: Và cả trong cấu trúc vật chất bên trong.

KRISHNAMURTI: Cấu trúc, mọi thứ. Nhưng về mặt tâm lý, chúng ta cũng đã hướng ra bên ngoài.

DAVID BOHM: Đúng vậy, chúng ta đã tập trung cuộc sống của mình vào đời sống bên ngoài. Có phải đó là những gì ông đang nói?

KRISHNAMURTI: Vâng.

DAVID BOHM: Chúng ta đã hướng sự chú ý ra bên ngoài.

KRISHNAMURTI: Không. Tôi đã mở rộng khả năng của mình ra bên ngoài.

DAVID BOHM: Ồ, vâng, chúng ta đã phát triển bề ngoài.

KRISHNAMURTI: Và bên trong nó cũng là chuyển động bên ngoài.

DAVID BOHM: Vâng, bất cứ điều gì chúng ta làm bên ngoài, chúng ta cũng làm nó bên trong.

KRISHNAMURTI: Vâng. Tôi không biết liệu tôi có đang truyền đạt điều này không.

DAVID BOHM: Tôi hiểu rằng để phát triển ra bên ngoài theo một cách nào đó thông qua thời gian và cơ chế, chúng ta phải áp dụng cấu trúc hướng nội đó.

KRISHNAMURTI: Vâng, bây giờ nếu không có chuyển động bên trong như thời gian, chuyển động, ngày càng trở nên nhiều hơn, thì điều gì sẽ xảy ra? Ông hiểu những gì tôi đang cố gắng truyền tải?

DAVID BOHM: Vâng. Vậy thì nếu chúng ta nói toàn bộ chuyển động của thời gian này ngừng lại – bất kể điều đó có nghĩa là gì – từ ‘ngừng’ là sai vì đó là thời gian.

KRISHNAMURTI: Thời gian kết thúc, hoặc bất kể nó là gì.

DAVID BOHM: Không có sự chuyển động của thời gian mà năng lượng là …

KRISHNAMURTI: Ông thấy chuyển động bên ngoài cũng giống như chuyển động bên trong.

DAVID BOHM: Vâng. Bất cứ điều gì ông làm bên ngoài, ông phải làm bên trong. Điều đó có vẻ đúng.

KRISHNAMURTI: Và nó là cùng một chuyển động.

DAVID BOHM: Vâng. Nó đang di chuyển vòng quanh lại vòng quanh.

KRISHNAMURTI: Vâng, vâng, liên quan đến thời gian.

DAVID BOHM: Vâng.

KRISHNAMURTI: Nếu chuyển động đó chấm dứt thì điều gì sẽ xảy ra? Tôi tự hỏi liệu tôi có đang truyền đạt bất cứ điều gì không. Có phải tất cả chúng ta đang nói những điều vô nghĩa? (Cười) Tôi không nghĩ mình đang nói vô nghĩa.

Thưa ông, chúng ta có thể nói theo cách này: chúng ta chưa bao giờ chạm vào bất kỳ chuyển động nào khác ngoài chuyển động bên ngoài.

DAVID BOHM: Vâng, nói chung là. Chúng ta đặt hầu hết năng lượng của mình vào chuyển động hướng ngoại.

KRISHNAMURTI: Hướng ngoại, và tâm lý cũng hướng ngoại.

DAVID BOHM: Chà, nó là sự phản ánh của chuyển động bên ngoài đó.

KRISHNAMURTI: Chúng ta nghĩ rằng nó hướng vào trong nhưng thực ra nó lại hướng ra ngoài – phải không?

DAVID BOHM: Vâng.

KRISHNAMURTI: Bây giờ nếu chuyển động đó kết thúc, như nó phải xảy ra, thì liệu có một chuyển động thực sự hướng vào trong – chuyển động không theo thời gian?

DAVID BOHM: Ông muốn nói: có một loại chuyển động khác không?

KRISHNAMURTI: Sự chuyển động. Đúng.

DAVID BOHM: Nó vẫn chuyển động nhưng không theo thời gian.

KRISHNAMURTI: Thời gian. Đúng rồi.

DAVID BOHM: Bây giờ chúng ta phải đi vào vấn đề đó. Ông có thể đi xa hơn.

KRISHNAMURTI: Nó không hẳn … Ông thấy đó từ ‘chuyển động’ có nghĩa là thời gian.

DAVID BOHM: Chà, nó có nghĩa là thực sự thay đổi địa điểm từ nơi này sang nơi khác. Nhưng dù sao thì ông vẫn có một số khái niệm không tĩnh. Bằng cách từ chối thời gian, ông không muốn quay trở lại trạng thái tĩnh, thứ vẫn là thời gian.

KRISHNAMURTI: Ông thấy bộ não của một người đã được huấn luyện, quen thuộc, trong nhiều thế kỷ để đi lên phía bắc, ví dụ thế. Và nó đột nhiên nhận ra rằng đi về phía bắc là một cuộc xung đột vĩnh viễn. Khi nó nhận ra nó di chuyển về phía đông. Trong chuyển động đó, bản thân bộ não đang thay đổi. Đúng chứ?

DAVID BOHM: Vâng, có gì đó thay đổi.

KRISHNAMURTI: Chất lượng của não thay đổi.

DAVID BOHM: Được rồi. Tôi có thể thấy nó sẽ thức dậy theo một cách nào đó theo một chuyển động khác – phải không?

KRISHNAMURTI: Vâng, khác. Lại một … chuyển động khác – ông thấy đó …

DAVID BOHM: Từ ‘dòng chảy’ có tốt hơn không?

KRISHNAMURTI: Nếu tôi không đi về phía bắc, và tôi đã đi về phía bắc suốt cuộc đời của mình, và việc đi về phía bắc sẽ bị ngừng lại, nhưng lại không đi về phía đông, hay nam hay tây. Sau đó xung đột chấm dứt. Đúng? Bởi vì nó không di chuyển theo bất kỳ hướng nào.

DAVID BOHM: Được rồi. Vì vậy, đó là điểm mấu chốt – hướng chuyển động. Khi chuyển động được cố định theo hướng, bên trong sẽ đi đến xung đột.

KRISHNAMURTI: Xung đột, đúng vậy.

DAVID BOHM: Bề ngoài chúng ta cần một hướng đi cố định.

KRISHNAMURTI: Tất nhiên, tất nhiên. Điều đó tôi hiểu.

DAVID BOHM: Vâng. Vì vậy, nếu chúng ta nói rằng nó không có hướng cố định thì nó đang làm gì? Nó có di chuyển theo mọi hướng không?

KRISHNAMURTI: Tôi hơi do dự khi nói về điều này. Có thể nói khi người ta thực sự đi đến trạng thái đó, đó là nguồn gốc của mọi năng lượng?

DAVID BOHM: Vâng, khi ông đi sâu hơn, hướng nội nhiều hơn.

KRISHNAMURTI: Đây là nội tâm thực sự, không phải chuyển động bên ngoài trở thành chuyển động bên trong mà là khi không có chuyển động bên ngoài và bên trong.

DAVID BOHM: Đúng vậy, chúng ta có thể phủ nhận cả bề ngoài và nội tâm, để nó dường như dừng lại ngay lúc đó.

KRISHNAMURTI: Đó có phải là nguồn gốc của tất cả năng lượng không?

DAVID BOHM: Vâng, có lẽ chúng ta có thể nói như vậy.

KRISHNAMURTI: Tôi có thể nói về bản thân mình một chút được không?

DAVID BOHM: Tất nhiên. Vâng.

KRISHNAMURTI: Xin thứ lỗi, nó có vẻ kì quặc.

DAVID BOHM: Ồ, không, không hẳn. Tôi muốn nói là nó vẫn có vẻ có ý nghĩa cho đến giờ.

KRISHNAMURTI: Trước hết, thiền định có ý thức không phải là thiền định. Đúng chứ?

DAVID BOHM: Ý ông là thiền có ý thức là gì?

KRISHNAMURTI: Đó là thiền có chủ định, thực hành và có chủ ý, đó thực sự là thiền định có tính toán. Đúng chứ? Có cách thiền nào không được định trước không? Đó không phải là bản ngã cố gắng trở thành một cái gì đó, hoặc bản ngã không cố gắng phủ định tiêu cực hay tích cực.

DAVID BOHM: Vâng. Bây giờ trước khi tiếp tục, chúng ta có thể tóm tắt thiền định là gì, bất cứ điều gì. Nó là một quan sát của tâm trí đang quan sát?

KRISHNAMURTI: Không, không, không. Nó đã vượt xa tất cả những điều đó.

DAVID BOHM: Vâng. Được rồi. Vì thế…

KRISHNAMURTI: Xin lỗi!

DAVID BOHM: Ý tôi là, được rồi, nhưng ông đã dùng từ ‘thiền định’.

KRISHNAMURTI: Tôi đang sử dụng thiền theo nghĩa trong đó không có chút nỗ lực nào, không có chút ý thức nào của việc cố gắng trở thành, đạt đến một cấp độ một cách có ý thức, v.v.

DAVID BOHM: Khi đó tâm trí chỉ đơn giản là với chính nó, im lặng.

KRISHNAMURTI: Đó là những gì tôi muốn đạt được.

DAVID BOHM: Nó không tìm kiếm gì cả.

KRISHNAMURTI: Đừng bận tâm, tôi không phiền, hai chúng ta đang nói chuyện. Tôi có thể là một con chim cúc cu (cười). Ông thấy đấy, tôi không thiền theo nghĩa thông thường của từ này. Những gì xảy ra với tôi là – Tôi không nói chuyện cá nhân, làm ơn, những gì xảy ra với tôi là, tôi thức dậy và thiền định.

DAVID BOHM: Được rồi, ở trạng thái đó.

KRISHNAMURTI: Và vào một buổi sáng, một đêm ở Thung lũng Rishi, tôi thức dậy – một loạt sự cố đã xảy ra, thiền định trong vài ngày – tôi thức dậy vào một đêm, vào giữa đêm, thực sự là mười hai giờ mười lăm phút (cười) , Tôi nhìn đồng hồ. Và tôi ngần ngại khi nói điều này bởi vì nó nghe có vẻ ngông cuồng và khá trẻ con: rằng nguồn năng lượng đã đạt đến. Và điều đó có một tác động phi thường đối với não bộ và cả thể chất. Phù! Xin lỗi khi nói về bản thân tôi nhưng ông hiểu tôi là gì …

DAVID BOHM: Được rồi…

KRISHNAMURTI: Chờ một chút, đợi một chút, tôi không phiền. Bây giờ tôi đang ở trong đó.

Và theo nghĩa đen là bất kỳ ý nghĩa nào về … Tôi không biết phải diễn đạt nó như thế nào – bất kỳ ý nghĩa nào về thế giới và tôi và điều đó – ông thấy không? – không có sự phân chia nào cả, chỉ có cảm giác về nguồn năng lượng to lớn này. Tôi không biết liệu tôi có đang truyền tải nó không.

DAVID BOHM: Vâng. Vì vậy, não đã tiếp xúc với nguồn năng lượng này.

KRISHNAMURTI: Vâng. Bây giờ, ở trái đất, như tôi đã nói chuyện trong sáu mươi năm, tôi muốn, không phải là giúp đỡ, tôi muốn người khác đạt được điều này – không đạt được nó – ông hiểu tôi đang nói gì không? Bởi vì tôi nghĩ rằng tất cả các vấn đề của chúng ta đều được giải quyết, chính trị, tôn giáo, mọi vấn đề đều được giải quyết bởi vì nó là năng lượng thuần túy ngay từ ban đầu. Tôi không biết nếu tôi …

DAVID BOHM: Vâng, ổn.

KRISHNAMURTI: Bây giờ tôi thế nào – không phải tôi, ông hiểu không? – làm thế nào để một người – không dạy dỗ, không giúp đỡ, không thúc ép, gây áp lực – làm thế nào để nói, ‘Cách này dẫn đến cảm giác hoàn toàn bình yên, tình yêu thương và tất cả những điều đó’? Tôi xin lỗi khi sử dụng tất cả những từ này. Thưa ông, ông có nó. Giả sử ông đã đến thời điểm đó và bộ não của ông đang đập rộn ràng với nó, ông sẽ giúp tôi như thế nào? Ông hiểu chứ? Giúp tôi, không phải lời nói, làm thế nào ông sẽ giúp tôi đi đến điều đó? Ông hiểu những gì tôi đang cố gắng nói?

DAVID BOHM: Vâng.

KRISHNAMURTI: Bộ não của tôi – bộ não, không phải của tôi – bộ não đã tiến hóa. Tiến hóa bao hàm thời gian và nó chỉ có thể suy nghĩ, sống trong thời gian. Bây giờ nó phủ nhận thời gian là một hoạt động to lớn không có vấn đề gì. Mọi vấn đề phát sinh, thắc mắc đều được giải quyết ngay lập tức. Không có thời gian của một vấn đề.

DAVID BOHM: Chà, điều này có được duy trì không? Tình trạng này có duy trì được không hay là trong khoảng thời gian đó?

KRISHNAMURTI: Rõ ràng là nó được duy trì, nếu không thì không có điểm nào trong nó. Nó không rời rạc, không liên tục và tất cả những điều đó. Bây giờ ông làm cách nào để mở hay đóng, bất cứ điều gì, ông thể hiện như thế nào, hãy giúp tôi nói, ‘Hãy nhìn xem, chúng ta đã đi sai hướng, chỉ có một sự bất động khác, và nếu điều đó xảy ra – ông vẫn nghe chứ? – mọi thứ sẽ đúng. ‘ (Cười) Nghe có vẻ ngớ ngẩn, tất cả những điều này.

DAVID BOHM: Vâng, vâng. Tôi nghĩ rằng tôi không thể biết liệu mọi thứ có đúng hay không. Thật khó để biết trước rằng mọi thứ sẽ chính xác. Nhưng dù sao thì chuyển động cũng có giá trị. Chắc chắn nó sẽ tạo ra một sự khác biệt lớn.

KRISHNAMURTI: Thưa ông, hãy quay lại những gì chúng ta đã bắt đầu. Đó là, nhân loại đã đi sai hướng, về mặt tâm lý, chứ không phải về mặt vật lý?

DAVID BOHM: Vâng, chúng ta đã đi vào điều đó – bước ngoặt bằng nhiều cách khác nhau mà chúng ta có thể chứng kiến, chứng kiến nó xuyên suốt.

KRISHNAMURTI: Có thể đảo ngược hoàn toàn ngã rẽ đó không? Hay dừng lại? Giả sử, bộ não của tôi đã quá quen với ý tưởng tiến hóa này rằng tôi sẽ trở thành một thứ gì đó, tôi sẽ đạt được một thứ gì đó, tôi phải có thêm kiến ​​thức, vân vân, vân vân, liệu bộ não đó có thể đột nhiên nhận ra không có thứ gọi là thời gian không? Ông hiểu những gì tôi đang cố gắng nói chứ?

DAVID BOHM: Vâng.

(Tạm ngừng)

KRISHNAMURTI: Một ngày nọ, tôi đã nghe Darwin nói trên tivi (cười), chuyến đi của ông ấy, và những gì ông ấy đạt được, vân vân, toàn bộ quá trình tiến hóa của ông ấy.

DAVID BOHM: Ồ, Darwin, vâng.

KRISHNAMURTI: Đối với tôi, dường như đó là một điều sai lầm về mặt tâm lý. Hoàn toàn không đúng sự thật.

DAVID BOHM: Một lần nữa có vẻ như ông ấy đã đưa ra bằng chứng rằng những loài này đã thay đổi theo thời gian. Bây giờ tại sao điều đó là không đúng sự thật?

KRISHNAMURTI: Tất nhiên điều đó là hiển nhiên.

DAVID BOHM: Vâng, về mặt đó thì đúng. Tôi nghĩ sẽ không đúng nếu nói tâm trí tiến hóa theo thời gian.

KRISHNAMURTI: Tất nhiên.

DAVID BOHM: Nhưng về mặt vật lý, có vẻ như rõ ràng đã có một quá trình tiến hóa.

KRISHNAMURTI: Vâng, đường cong đi lên.

DAVID BOHM: Và điều này đã làm tăng khả năng của não để làm những việc nhất định. Ví dụ, chúng ta không thể thảo luận điều này nếu bộ não không phát triển lớn hơn.

KRISHNAMURTI: Tất nhiên thưa ông, tôi hiểu tất cả những điều đó.

DAVID BOHM: Nhưng tôi nghĩ ông đang ám chỉ rằng tâm trí không bắt nguồn từ não bộ. Đó có phải là … nhưng bộ não có lẽ là một công cụ cho nó, cho tâm trí?

KRISHNAMURTI: Tâm trí. Và tâm trí không phải là thời gian.

DAVID BOHM: Tâm trí không phải là thời gian.

KRISHNAMURTI: Chỉ cần xem nó có nghĩa là gì. Chúng ta đang tiến gần hơn.

DAVID BOHM: Nó không tiến hóa bằng não.

KRISHNAMURTI: Không. Nghe có vẻ kỳ lạ, phải không? (Cười)

KRISHNAMURTI: Ông hiểu điều đó có nghĩa là gì chứ? Người Hindu nói Atman, Nguyên lý cao nhất ở con người, đó là tâm trí. Tôi có thể đang dịch sai, diễn giải sai. Và bộ não là của thời gian. Tôi đang diễn giải nó như vậy, họ có thể không diễn giải theo cách đó. Vậy đó có phải là nguồn gốc của xung đột?

DAVID BOHM: Chà, chúng ta phải xem tại sao điều đó tạo ra xung đột, ông thấy đấy. Không rõ ngay cả khi nói bộ não là của thời gian, nhưng đúng hơn là nó đã phát triển theo cách mà thời gian ở trong đó.

KRISHNAMURTI: Vâng, đó là ý tôi muốn nói.

DAVID BOHM: Nhưng không nhất thiết phải như vậy.

KRISHNAMURTI: Nó đã phát triển.

DAVID BOHM: Nó đã phát triển nên nó có thời gian tích tụ bên trong nó.

KRISHNAMURTI: Vâng, khi nó đã phát triển, thời gian là một phần của nó.

DAVID BOHM: Nó đã trở thành một phần của chính cấu trúc của nó.

KRISHNAMURTI: Vâng.

DAVID BOHM: Và điều đó là cần thiết. Và bây giờ tâm trí hoạt động mà không có thời gian, và bộ não do đó không thể.

KRISHNAMURTI: Không. Ông thấy điều đó có nghĩa là chúa ở trong con người và chúa chỉ có thể hoạt động nếu bộ não yên lặng, nếu bộ não không bị mắc kẹt trong thời gian.

DAVID BOHM: Chà, tôi không có ý đó. Tôi đang nói rằng bộ não có cấu trúc thời gian không thể phản ứng đúng với tâm trí. Đó thực sự là những gì dường như có liên quan ở đó.

KRISHNAMURTI: Liệu bộ não có thể tự nhận thấy rằng nó mắc kẹt trong thời gian và chừng nào nó đang di chuyển theo hướng đó thì xung đột là vĩnh viễn, vô tận? Ông làm theo những gì tôi đang nói?

DAVID BOHM: Vâng. Bây giờ chúng ta phải nói bộ não, lúc đó bộ não có nhìn thấy không?

KRISHNAMURTI: Đúng vậy, bộ não có khả năng thấy rằng những gì nó đang làm bây giờ, bị mắc kẹt trong thời gian, trong quá trình đó xung đột không kết thúc..

DAVID BOHM: Vâng. Ông sẽ không nói rằng bộ não không hoàn toàn bị mắc kẹt trong thời gian. Nó có thể đánh thức người khác … để xem.

KRISHNAMURTI: Điều đó có nghĩa là, có một phần của bộ não không thuộc về thời gian.

DAVID BOHM: Không bị mắc kẹt. Một số chức năng, hoặc một số …

KRISHNAMURTI: Người ta có thể nói điều đó không?

DAVID BOHM: Tôi không biết.

KRISHNAMURTI: Điều đó có nghĩa là – chúng ta quay lại cùng một điều bằng những từ ngữ khác – rằng bộ não, hoàn toàn không bị thay đổi bởi thời gian, vì vậy có một phần của bộ não …

DAVID BOHM: Chà, không phải một bộ phận, mà là các chức năng của não bị chi phối bởi thời gian nhưng điều đó không nhất thiết có nghĩa là nó không thể thay đổi. Xu hướng chung là để thời gian thống trị bộ não.

KRISHNAMURTI: Vâng. Đó là, liệu bộ não, bị chi phối bởi thời gian, có thể không phụ thuộc vào nó?

DAVID BOHM: Đúng vậy. Trong khoảnh khắc đó nó đi ra ngoài thời gian. Và nó chỉ bị chi phối – tôi nghĩ bây giờ tôi có thể thấy điều này – nó chỉ bị chi phối khi ông cho nó thời gian, ông thấy suy nghĩ cần có thời gian bị chi phối nhưng mọi thứ nhanh chóng không bị chi phối.

KRISHNAMURTI: Vâng, đúng vậy. Khi bộ não đã quen với thời gian, nó có thể thấy rằng trong quá trình đó không có sự kết thúc xung đột, nó có thể thấy điều này không? Xem xét rằng nó có thể nhân ra không?  Nó sẽ nhận ra điều đó dưới áp lực? Chắc chắn không. Nó sẽ nhận ra điều đó dưới sự ép buộc và phần thưởng, hình phạt hay bất kỳ hình thức nào như vậy? Nó sẽ không. Nó sẽ kháng cự hoặc trốn thoát và tất cả phần còn lại của nó. Đúng chứ? Vì vậy, yếu tố nào sẽ khiến bộ não thấy con đường nó đã đi là không đúng – chúng ta hãy sử dụng từ này cho lúc này. Và điều gì sẽ khiến nó đột nhiên nhận ra rằng nó hoàn toàn tinh quái? Ông vẫn nghe chứ?

DAVID BOHM: Vâng.

KRISHNAMURTI: Điều gì sẽ tạo nên nó? Ma túy?

DAVID BOHM: Chà, rõ ràng là điều đó sẽ không hiệu quả.

KRISHNAMURTI: Thuốc, chắc chắn là không. Một số loại hóa chất?

DAVID BOHM: Chà, không, không có cái nào cả, tất cả đều ở bên ngoài …

KRISHNAMURTI: Vâng, vậy thôi. Tôi muốn nói rõ rằng đây đều là những áp lực bên ngoài. Sau đó, điều gì sẽ khiến bộ não nhận ra điều này?

DAVID BOHM: Bây giờ ý ông là ông đã nhân ra điều gì?

KRISHNAMURTI: Nhận ra rằng, con đường mà nó đã và đang đi sẽ luôn là con đường của xung đột.

DAVID BOHM: Vâng, tôi nghĩ điều này đặt ra câu hỏi rằng bộ não đang chống lại sự nhận thức như vậy.

KRISHNAMURTI: Tất nhiên, tất nhiên. Bởi vì nó đã quen với điều đó, trong nhiều thế kỷ đã sử dụng. Ông sẽ làm thế nào để bộ não nhận ra sự thật này? Ông hiểu không thưa ông? Nếu ông có thể làm điều đó, nó đã hoàn thành.

Ông thấy họ đã cố gắng, như ông hẳn đã nói chuyện với nhiều người, họ đã thử nhịn ăn, không sex, khổ hạnh, nghèo khó, khiết tịnh đúng nghĩa của nó, thanh tịnh, giữ tâm chính niệm; họ đã cố gắng từ bỏ; họ đã thử mọi thứ mà con người đã phát minh ra, nhưng không ai trong số họ thành công.

DAVID BOHM: Chà, ông nói gì? Rõ ràng đây đều là những mục tiêu hướng ngoại, chúng vẫn đang trở thành.

KRISHNAMURTI: Có, nhưng họ không bao giờ nhận ra nó là bề ngoài.

DAVID BOHM: Điều đó đang trở thành. Mọi người trong số đó đều nỗ lực để phá vỡ quá trình trở thành – một phần của tâm trí, phải không?

KRISHNAMURTI: Vâng, đúng vậy. Vậy có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn tất cả những điều đó.

DAVID BOHM: Ông thấy đấy, tôi nghĩ rằng để đi xa hơn, người ta phải phủ nhận chính khái niệm thời gian theo nghĩa hướng về tương lai, và quá khứ …

KRISHNAMURTI: Đó chỉ là nó thưa ông, chỉ là nó.

DAVID BOHM: Đó là toàn bộ thời gian và luôn thế.

 KRISHNAMURTI: Thời gian là kẻ thù. Đối mặt với nó và vượt ra ngoài nó. (Cười)

DAVID BOHM: Chối bỏ, đó là một tồn tại độc lập. Ông thấy đấy, tôi nghĩ rằng chúng ta có ấn tượng rằng thời gian tồn tại độc lập với chúng ta và chúng ta đang ở trong dòng thời gian và do đó sẽ có vẻ vô lý nếu chúng ta phủ nhận nó bởi vì đó là những gì chúng ta đang có, ông thấy đấy.

KRISHNAMURTI: Vâng, đúng đúng. Vì vậy, nó có nghĩa là thực sự chuyển động – xin nhắc lại alf – khỏi mọi thứ mà con người đã ghép lại như một phương tiện vượt thời gian.

DAVID BOHM: Vâng, phải nói rằng không có điều gì, phương pháp nào mà con người sử dụng bên ngoài có thể thực hiện được … (mất tiếng)

KRISHNAMURTI: Không, hoàn toàn không, hoàn toàn không.

DAVID BOHM: Bởi vì mọi phương pháp đều bao hàm thời gian.

KRISHNAMURTI: Tất nhiên, tất nhiên. Nó rất đơn giản, rõ ràng.

DAVID BOHM: Vì vậy, ông bắt đầu ngay lập tức bằng cách thiết lập toàn bộ cấu trúc của thời gian, toàn bộ khái niệm về thời gian được giả định trước trước khi ông bắt đầu.

KRISHNAMURTI: Đúng vậy.

Ông sẽ truyền đạt điều này cho tôi như thế nào? Làm thế nào ông hoặc ‘X’ với một người bị mắc kẹt trong thời gian và sẽ chống lại nó, chiến đấu với nó, anh ta nói, không còn cách nào khác, v.v., ông sẽ truyền đạt điều này cho anh ta như thế nào?

DAVID BOHM: Tôi nghĩ rằng ông chỉ có thể – ý tôi là mặc dù thời gian không phải là vấn đề – trừ khi ai đó đã nhìn vào điều này, ông biết đấy, và đi sâu vào nó, ông không có khả năng truyền đạt nó cho người nào đó mà ông chỉ gặp trên phố. (Cười)

KRISHNAMURTI: Thế thì chúng ta đang làm gì? Vì điều đó không thể được truyền đạt qua lời nói, vậy thì họ phải làm gì?

DAVID BOHM: Tôi nghĩ rằng cả ngôn từ và những gì bên ngoài ngôn từ, ông biết đấy, đều là một phần của sự giao tiếp, sự truyền đạt đó.

KRISHNAMURTI: Thưa ông, ông có thể giải quyết một vấn đề ngay lập tức khi nó phát sinh. Người ta phải đi vào điều đó bởi vì ông có thể giải quyết nó ngay lập tức, ông có thể làm điều ngu xuẩn nhất.

DAVID BOHM: Ông có thể nghĩ rằng ông đang giải quyết nó.

KRISHNAMURTI: Vâng, vâng, tôi đang nói điều đó. Ông có thể làm điều dại dột nhất và nghĩ rằng mình đã giải quyết xong.

DAVID BOHM: Bởi vì ông có thể có được cảm giác ngay lập tức từ thời gian, từ suy nghĩ bởi vì suy nghĩ mang lại cảm giác của bây giờ.

KRISHNAMURTI: Không cho phép thời gian. Giả sử tôi có một vấn đề, bất kỳ vấn đề nào, nó không quan trọng – một vấn đề tâm lý: trí óc có thể nhận ra, giải quyết nó ngay lập tức không? Không lừa dối bản thân, không chống lại nó – ông hiểu không? – tất cả. Để đối mặt với nó và kết thúc nó.

DAVID BOHM: Đúng vậy, đối với một vấn đề tâm lý, đó là cách duy nhất.

KRISHNAMURTI: Tôi đang nói về một vấn đề tâm lý.

DAVID BOHM: Bởi vì nếu không thì rõ ràng là chúng ta sẽ mắc vào chính nguồn gốc của vấn đề.

KRISHNAMURTI: Tất nhiên, tất nhiên, tất nhiên. Liệu hoạt động đó có phải là thời gian kết thúc – thời gian tâm lý mà chúng ta đang nói đến.

DAVID BOHM: Nếu chúng ta có thể thực hiện hành động tức thì này để giải quyết vấn đề mà ông gọi là vấn đề, đó là bản thân.

KRISHNAMURTI: Thưa ông, một người tham lam, hay đố kỵ, muốn chấm dứt nó ngay lập tức – tham lam, chấp trước, và vân vân, có hàng tá thứ. Thưa ông, điều tôi đang cố gắng truyền đạt là: điều đó sẽ không cho manh mối về sự kết thúc của thời gian sao?

DAVID BOHM: Vâng, bởi vì bất kỳ hành động nào không phải là ngay lập tức đã mang lại đúng lúc.

KRISHNAMURTI: Vâng, vâng, thưa ông. Tôi biết tất cả những điều đó.

DAVID BOHM: Thời gian kết thúc là ngay lập tức – phải không?

KRISHNAMURTI: Tất nhiên là ngay lập tức. Liệu điều đó có chỉ ra bước ngoặt sai lầm mà nhân loại đã thực hiện?

DAVID BOHM: Vâng, mang theo thời gian và suy nghĩ để điều hòa tâm lý … (không nghe được)

KRISHNAMURTI: Vâng, chúng ta đang nói chuyện về mặt tâm lý, hãy giữ điều đó.

DAVID BOHM: Nếu con người cảm thấy có điều gì đó không ổn về mặt tâm lý thì anh ta mang ý niệm về thời gian và ý nghĩ về việc trở thành, và điều đó tạo ra vô số vấn đề.

KRISHNAMURTI: Liệu điều đó có mở ra cánh cửa – đây là một cụm từ – sẽ mở ra cánh cửa cho cảm giác này, thời gian không có vị trí bên trong? Ông thấy đấy, có nghĩa là thưa ông, tư tưởng không có chỗ đứng ngoại trừ bên ngoài, đúng không?

DAVID BOHM: Nếu ông định nói rằng suy nghĩ là một quá trình liên quan đến thời gian …

KRISHNAMURTI: Tất nhiên là như vậy.

DAVID BOHM: Vâng, ý tôi là không phải ai cũng sử dụng ý tưởng đó, sử dụng nó theo cách đó, nhưng …

KRISHNAMURTI: Ông sẽ không nói rằng suy nghĩ là tiến trình của thời gian ư? Bởi vì suy nghĩ dựa trên kinh nghiệm, kiến ​​thức, trí nhớ và phản ứng, là toàn bộ thời gian.

DAVID BOHM: Đúng vậy, nhưng chúng tôi vẫn thường thảo luận về một loại suy nghĩ sẽ là phản ứng của trí thông minh. Nhưng suy nghĩ như chúng ta thường biết – chúng ta hãy thử đặt vấn đề rằng suy nghĩ như chúng ta thường biết nằm bên trong thời gian.

KRISHNAMURTI: Suy nghĩ như chúng ta biết bây giờ là thời gian.

DAVID BOHM: Vâng. Vâng, có thể mọi người có thể đã biết nó hơi khác theo thời gian. Nhưng tôi sẽ nói một cách tổng quát.

KRISHNAMURTI: Nói chung, cho đến bây giờ, (cười) suy nghĩ là thời gian.

DAVID BOHM: Nó dựa trên ý niệm về thời gian, thời gian là trên hết.

KRISHNAMURTI: Vâng, được rồi, dựa trên ý niệm. Đối với tôi chính nó là thời gian.

DAVID BOHM: Được rồi. Chính suy nghĩ tạo ra thời gian, đúng.

KRISHNAMURTI: Có nghĩa là khi không có thời gian thì không có suy nghĩ?

DAVID BOHM: Chà, không suy nghĩ nào thuộc dạng đó.

KRISHNAMURTI: Không, không có suy nghĩ – tôi chỉ muốn chậm, chậm, chậm, chậm lại đã.

DAVID BOHM: Bởi vì nếu không, chúng ta có thể mâu thuẫn với một số điều khác, ông thấy đấy.

KRISHNAMURTI: Tất nhiên, tất nhiên, tôi biết tất cả những điều đó.

DAVID BOHM: Chúng ta có thể nói rằng có một loại suy nghĩ bị thời gian chi phối – ông biết đấy – mà chúng ta đã sống trong đó. Đúng không?

KRISHNAMURTI: Vâng. Nó đã kết thúc.

DAVID BOHM: Vâng. Có thể có một kiểu suy nghĩ khác không bị chi phối bởi thời gian, ông biết đấy, nhưng đó sẽ là … bởi vì ông đang nói rằng ông vẫn có thể sử dụng suy nghĩ để làm mọi việc.

KRISHNAMURTI: Tất nhiên, thưa ông, đó là …

DAVID BOHM: Vâng, đúng vậy. Chúng ta phải cẩn thận để không nói rằng suy nghĩ nhất thiết bị chi phối bởi thời gian.

KRISHNAMURTI: Không. Tôi phải đi từ đây đến đó, đến nhà của tôi, điều đó cần thời gian, suy nghĩ, tất cả những thứ còn lại. Tôi không nói về loại thời gian đó.

DAVID BOHM: Vâng. Được rồi. Vì vậy, hãy làm rõ ràng rằng ông đang nghĩ về suy nghĩ trong tâm trí, mà nội dung của nó là trật tự của tâm trí.

KRISHNAMURTI: Vâng, vâng.

DAVID BOHM: Và chúng ta sẽ nói rằng suy nghĩ đó rõ ràng là thời gian.

KRISHNAMURTI: Vâng. Ông có thể nói, để tôi nói … kiến ​​thức là thời gian?

DAVID BOHM: Vâng, tốt, kiến ​​thức …

KRISHNAMURTI: Tất cả kiến ​​thức là thời gian.

DAVID BOHM: Chà, cho đến nay nó đã được biết đến và có thể dự kiến ​​trong tương lai, v.v.

KRISHNAMURTI: Tất nhiên, tương lai, quá khứ. Kiến thức là thời gian. Qua thời gian kiến thức được tiếp thu. Khoa học, toán học, bất kể nó là gì, triết học – Tôi đọc triết học, tôi đọc cái này cái kia. Vì vậy, toàn bộ sự vận động của tri thức đều tham gia vào thời gian. Đúng? Hãy xem nó …

DAVID BOHM: Ông thấy đấy, tôi nghĩ rằng một lần nữa chúng ta …

KRISHNAMURTI: Đã hiểu, kiến ​​thức, cách làm một chiếc ghế …

DAVID BOHM: Không chỉ vậy, mà tôi nghĩ rằng chúng ta nói rằng con người đã đi sai hướng và mắc vào loại kiến ​​thức này, thứ bị chi phối bởi thời gian bởi vì nó là kiến ​​thức tâm lý.

KRISHNAMURTI: Vâng. Vì vậy, họ sống trong thời gian.

DAVID BOHM: Họ sống trong thời gian bởi vì họ đã cố gắng tạo ra kiến ​​thức về bản chất của tâm trí.

KRISHNAMURTI: Vâng, vâng.

DAVID BOHM: Bây giờ ông đang nói rằng tâm trí không có kiến​​thức thực sự về tâm trí. Ông sẽ đặt nó theo cách đó?

KRISHNAMURTI: Đó là gì?

DAVID BOHM: Không có kiến ​​thức về tâm trí, ông có thể nói theo cách đó không?

KRISHNAMURTI: Khoảnh khắc ông sử dụng từ ‘kiến thức’, nó ngụ ý thời gian.

DAVID BOHM: Vâng, và khi đó ông đang nói rằng tâm trí không phải là thời gian.

KRISHNAMURTI: Không. Khi ông kết thúc thời gian, theo nghĩa mà chúng ta đang nói đến, không có kiến ​​thức nào là kinh nghiệm.

DAVID BOHM: Chúng ta phải xem từ ‘kinh nghiệm’ nghĩa là gì.

KRISHNAMURTI: Trải nghiệm, trí nhớ – trải nghiệm.

DAVID BOHM: Mọi người nói, ‘Tôi học hỏi bằng kinh nghiệm, tôi trải qua một cái gì đó.’ Tôi trải nghiệm …

KRISHNAMURTI: Cái đang trở thành.

DAVID BOHM: Chúng ta hãy làm cho nó rõ ràng. Ông thấy rằng có một loại kinh nghiệm ông có được trong công việc của mình, chẳng hạn, nó trở thành kỹ năng và nhận thức.

KRISHNAMURTI: Tất nhiên, điều đó hoàn toàn khác thưa ông.

DAVID BOHM: Vâng, vậy thì chúng ta phải nói rằng không có ích gì khi có kinh nghiệm về tâm trí, về kinh nghiệm tâm lý.

KRISHNAMURTI: Vâng, hãy nói theo cách đó. Đó là, kinh nghiệm tâm lý nằm trong thời gian.

DAVID BOHM: Đúng, và nó không có ích gì bởi vì ông không thể nói, ‘Khi tôi trở nên thành thạo trong công việc của mình, tôi sẽ trở nên thành thạo trong việc vận hành tâm trí của mình’.

KRISHNAMURTI: Đúng vậy, đúng vậy.

DAVID BOHM: Theo một cách nào đó, ông trở nên có kỹ năng suy nghĩ nhưng về cơ bản thì không trở thành kỹ năng.

KRISHNAMURTI: Vâng. Vì thế. Ông hiểu không, thưa ông, điều này dẫn đến đâu? Giả sử tôi nhận ra kiến ​​thức là thời gian, bộ não nhận ra nó, và thấy tầm quan trọng của thời gian theo một hướng nhất định, và không có giá trị nào của thời gian theo một hướng khác, thì đó không phải là một mâu thuẫn. Đúng?

DAVID BOHM: Vâng, tốt, được. Tôi muốn nói rằng giá trị của thời gian được giới hạn trong một hướng hoặc một khu vực nhất định và xa hơn nữa nó không có giá trị.

KRISHNAMURTI: Vâng. Vậy trí óc hay bộ não không có kiến ​​thức là gì? Ông hiểu chứ?

DAVID BOHM: Không có kiến ​​thức, kiến ​​thức tâm lý?

KRISHNAMURTI: Vâng, tôi đang nói chuyện tâm lý.

DAVID BOHM: Đúng vậy, không phải là thời gian mà không có kiến​​thức tâm lý để tự tổ chức.

KRISHNAMURTI: Vâng.

DAVID BOHM: Vì vậy, chúng ta đang nói rằng bộ não cảm thấy nó phải tự tổ chức bằng cách hiểu biết về tâm lý của chính nó.

KRISHNAMURTI: Sau đó có phải tâm trí, não bị rối loạn đúng không? Chắc chắn không.

DAVID BOHM: Không. Nhưng tôi nghĩ mọi người có thể cảm thấy, khi đối mặt với điều này, sẽ có sự rối loạn.

KRISHNAMURTI: Tất nhiên.

DAVID BOHM: Ông thấy đấy, tôi nghĩ rằng điều ông đang nói là khái niệm kiểm soát tâm lý bản thân không có ý nghĩa gì.

KRISHNAMURTI: Vì vậy, kiến ​​thức của ‘tôi’ là thời gian.

DAVID BOHM: Vâng, tốt, kiến ​​thức …

KRISHNAMURTI: Kiến thức tâm lý.

DAVID BOHM: Vâng, tôi hiểu rằng, kiến ​​thức của ‘tôi’, toàn bộ tri thức, là ‘tôi’, là thời gian.

KRISHNAMURTI: Vâng. Vậy thì tồn tại là gì khi không có điều này?

DAVID BOHM: Vâng.

KRISHNAMURTI: Ông hiểu những gì …

DAVID BOHM: Vâng. Được, vậy …

KRISHNAMURTI: Không có thời gian, không có kiến ​​thức – theo nghĩa tâm lý, làm ơn, không có ý thức về ‘tôi’, vậy thì ở đó là gì? Nói đến điểm đó, thưa ông, hầu hết mọi người sẽ nói, ‘Thật là kinh dị.’

DAVID BOHM: Vâng, có vẻ như sẽ không có gì cả, ông thấy đấy.

KRISHNAMURTI: Không có gì. Ông đã dẫn chúng tôi đến một bức tường trống.

DAVID BOHM: Thật là buồn tẻ! (Cười) Nó sợ hãi hoặc nó ổn.

KRISHNAMURTI: Nhưng nếu một người đã đi đến điểm đó thì điều gì ở đó? Một lần nữa nó có vẻ khá sáo mòn và hô hào nhưng thực tế không phải vậy. Ông sẽ nói là do không có gì là tất cả mọi thứ?

DAVID BOHM: Vâng, tôi chấp nhận điều đó. Tôi biết điều đó. Đó là sự thật, nó có tất cả …

KRISHNAMURTI: Không, nó không là gì cả.

DAVID BOHM: Ông thấy đấy.

KRISHNAMURTI: Không sao, đúng vậy (cười).

DAVID BOHM: Và cho đến nay, một điều là có giới hạn và đây không phải là một điều bởi vì không có giới hạn. Ý tôi là là ít nhất nó có mọi thứ tiềm năng, theo một nghĩa nào đó.

KRISHNAMURTI: Chờ đã, thưa ngài. Nếu nó không là gì và vì vậy mọi thứ, vì vậy mọi thứ đều là năng lượng.

DAVID BOHM: Vâng. Nền tảng của mọi thứ là năng lượng.

KRISHNAMURTI: Tất nhiên. Mọi thứ đều là năng lượng. Và nguồn gốc của thứ này là gì? Hay là không có nguồn năng lượng nào? Chỉ duy có có năng lượng.

DAVID BOHM: Năng lượng chỉ là. Năng lượng là thứ nó là.

KRISHNAMURTI: Tôi không hoàn toàn đồng ý …

DAVID BOHM: Năng lượng là cái gì. Không cần nguồn. Đó là một trong những cách tiếp cận.

KRISHNAMURTI: Không. Nếu không có gì và do đó có mọi thứ, và mọi thứ đều là năng lượng – chúng ta phải rất cẩn thận bởi vì ở đây người Hindu cũng có ý tưởng này, đó là Brahman là tất cả. Ông hiểu không thưa ông? Điều đó trở thành một ý niệm, một nguyên lý và sau đó được thực hiện và tất cả những điều đó. Nhưng thực tế là, nếu không có gì thì sẽ có mọi thứ và tất cả những gì là năng lượng vũ trụ. Nhưng điều gì đã bắt đầu năng lượng này?

DAVID BOHM: Đó có phải là một câu hỏi có ý nghĩa không?

KRISHNAMURTI: Không. Điều gì đã bắt đầu?

DAVID BOHM: Nhưng chúng ta không nói về thời gian.

KRISHNAMURTI: Không, tôi biết chúng ta không nói về thời gian nhưng ông thấy những người theo đạo Cơ đốc sẽ nói, ‘Chúa là năng lượng và Ngài là nguồn của mọi năng lượng.’

DAVID BOHM: Vâng.

KRISHNAMURTI: Và con trai của ông ấy đã đến để giúp thế giới, blah blah blah. Bây giờ là …

DAVID BOHM: Chà, những người theo đạo Thiên Chúa có ý tưởng về cái mà họ gọi là tiếng thiêng, chính là cội nguồn của Chúa, ông thấy đấy, họ còn đi xa hơn.

KRISHNAMURTI: Và cả những người theo đạo Hindu cũng có điều này. Ý tôi là thế giới Ả Rập và thế giới Do Thái cũng có ý niệm này. Chúng ta có đang đi ngược lại tất cả những điều đó không?

DAVID BOHM: Chà, nghe có vẻ giống nhau ở một số khía cạnh.

KRISHNAMURTI: Và không tương tự. Chúng ta phải hết sức cẩn thận.

DAVID BOHM: Vâng. Chúng ta phải làm cho nó rõ ràng, ông thấy. Nhiều điều như thế này đã được nói qua nhiều thời đại.

KRISHNAMURTI: Tôi biết, tôi biết.

DAVID BOHM: Đó là một khái niệm quen thuộc, ông thấy đấy.

KRISHNAMURTI: Vậy thì chỉ một người đang đi trong sự trống rỗng? Một người đang sống trong sự trống rỗng?

DAVID BOHM: Chà, điều đó không rõ ràng.

KRISHNAMURTI: Không có gì cả và mọi thứ đều là năng lượng. Cái này là cái gì?

DAVID BOHM: Chà, đây là một dạng bên trong năng lượng.

KRISHNAMURTI: Vì vậy, điều này không khác với năng lượng. Điều này.

DAVID BOHM: Cái gì? Vâng, vâng – cơ thể, vâng.

KRISHNAMURTI: Nhưng điều bên trong nói, ‘Tôi khác với điều đó’.

DAVID BOHM: Ông phải làm cho điều đó rõ ràng hơn.

KRISHNAMURTI: Cái ‘tôi’ nói, ‘Tôi hoàn toàn khác với tất cả những thứ này’.

DAVID BOHM: Đúng vậy, cái ‘tôi’ bao quanh chính nó và nói, ‘Tôi khác biệt, tôi là vĩnh cửu.’

KRISHNAMURTI: Bây giờ hãy đợi một chút. Tại sao nó khiến điều này diễn ra?

DAVID BOHM: Chà, chúng ta đã đi vào điều đó, bởi vì nó bắt đầu, ý niệm về sự tách biệt này.

KRISHNAMURTI: Tại sao nó lại phát sinh. Có phải sự tách biệt đã nảy sinh, bởi vì bề ngoài tôi xác định với một ngôi nhà, vân vân và nó đã di chuyển vào bên trong?

DAVID BOHM: Vâng. Và điểm thứ hai là một khi chúng ta thiết lập một khái niệm về điều gì đó bên trong thì cần phải bảo vệ điều đó.

KRISHNAMURTI: Để bảo vệ điều đó và tất cả phần còn lại của nó.

DAVID BOHM: Và do đó, điều đó đã tạo nên sự tách biệt.

KRISHNAMURTI: Tất nhiên.

DAVID BOHM: Bên trong rõ ràng là thứ quý giá nhất và sẽ phải được bảo vệ bằng tất cả năng lượng của ông.

KRISHNAMURTI: Tôi hiểu thưa ông. Vậy nó có nghĩa là chỉ có sinh vật sống, đó là một phần năng lượng? Không có chữ K nào cả, ngoại trừ Hộ chiếu, tên và hình thức, nếu không – không có gì cả. Và do đó mọi thứ và do đó tất cả năng lượng. Ông vẫn nghe chứ thưa ông?

DAVID BOHM: Đúng vậy, hình thức không tồn tại độc lập.

KRISHNAMURTI: Vâng. Không không. Tôi đang nói rằng chỉ có hình thức.

DAVID BOHM: Chỉ có hình thức, vâng.

KRISHNAMURTI: Đó là tất cả.

DAVID BOHM: Cũng có năng lượng, ông thấy đấy.

KRISHNAMURTI: Đó là một phần của năng lượng.

DAVID BOHM: Vâng.

KRISHNAMURTI: Vì vậy, chỉ có cái này, cái vỏ bên ngoài.

DAVID BOHM: Có dạng năng lượng bên ngoài.

KRISHNAMURTI: Vâng. Ông có nhận ra những gì chúng ta đã nói không? (Cười)

DAVID BOHM: Vâng.

KRISHNAMURTI: Đây có phải là phần cuối của cuộc hành trình?

DAVID BOHM: Chà, thật khó để … Không, tôi nghĩ là không.

KRISHNAMURTI: Phải chăng nhân loại đã trải qua hàng thiên niên kỷ để đi đến điều này: rằng tôi không là gì cả và do đó tôi là tất cả và tất cả năng lượng?

DAVID BOHM: Chà, nó không thể là kết thúc theo nghĩa mà nó có thể là khởi đầu.

KRISHNAMURTI: Chờ đã, đợi đã, đó là tất cả những gì tôi đang nói. Đó là tất cả. Tôi muốn ông bắt đầu với điều đó. Đó là duy nhất – kết thúc có một khởi đầu. Đúng? Bây giờ, tôi muốn đi sâu vào vấn đề đó một chút.

Đó có phải thời gian không?

DAVID BOHM: Tôi có thời gian, phải không? 05 giờ 15.

KRISHNAMURTI: Ông thấy sự kết thúc của tất cả điều này, sự kết thúc của thời gian mà chúng ta sẽ gọi nó một cách ngắn gọn, nó có phải là … có một sự khởi đầu mới. Đó là gì? Bởi vì điều này dường như hoàn toàn vô ích trong một khoảnh khắc.

DAVID BOHM: Cái gì?

KRISHNAMURTI: Toàn bộ tôi là năng lượng và chỉ cái vỏ tồn tại, và thời gian đã kết thúc. Tôi chỉ nghĩ vậy thôi. Dường như là vậy…

DAVID BOHM: Tôi hiểu rằng nếu ông dừng lại ở đó …

KRISHNAMURTI: Vâng, vậy thôi.

DAVID BOHM: Tôi nghĩ rằng điều đó thực sự dọn sạch mặt sàn vương đầy các mảnh vụn, của tất cả sự nhầm lẫn.

KRISHNAMURTI: Vâng, vâng. Vì vậy, kết thúc là một sự khởi đầu. Đó là gì? Bắt đầu cũng có nghĩa là thời gian.

DAVID BOHM: Không nhất thiết. Tôi nghĩ rằng chúng ta đã nói rằng có thể có một chuyển động không có thời gian.

KRISHNAMURTI: Thời gian. Đó là lý do tại sao tôi muốn nói rõ.

DAVID BOHM: Vâng, nhưng rất khó để diễn đạt nó. Vấn đề không phải là tĩnh, là tĩnh mà ở một khía cạnh nào đó lại chuyển động không theo trật tự của thời gian. Tôi nghĩ chúng ta sẽ phải nói điều đó ngay bây giờ.

KRISHNAMURTI: Vâng. Vì vậy, chúng ta sẽ sử dụng từ ‘bắt đầu’ và tước bỏ thời gian của nó.

DAVID BOHM: Vâng, bởi vì kết thúc và bắt đầu không có thời gian đặc thù. Chúng có thể là bất kỳ lúc nào hoặc không.

KRISHNAMURTI: Không có thời gian, không có thời gian.

DAVID BOHM: Không có thời gian, đúng vậy, không có thời gian.

KRISHNAMURTI: Sau đó, điều gì xảy ra? Điều gì xảy ra? Điều gì đang xảy ra sau đó? Không phải với tôi, không phải não của tôi. Điều gì đang xảy ra?

DAVID BOHM: Ý ông là năng lượng?

KRISHNAMURTI: Thưa ông, chúng ta đã nói khi người ta phủ nhận thời gian thì sẽ không có gì cả. Sau cuộc nói chuyện dài này, không có gì có nghĩa là tất cả. Mọi thứ đều là năng lượng. Và chúng ta dừng lại ở đó. Nhưng đó không phải là kết thúc. Đúng?

DAVID BOHM: Không.

KRISHNAMURTI: Không. Đó là tất cả. Đó không phải là kết thúc. Sau đó, những gì đang xảy ra? Thưa ông, chúng ta có thể tiếp tục vào ngày mai.

DAVID BOHM: Đúng vậy.

KRISHNAMURTI: Tôi nghĩ chúng ta nên dừng lại. Tôi muốn tiếp tục với nó nhưng tốt hơn chúng ta nên dừng lại.

DAVID BOHM: Được.

KRISHNAMURTI: Đó có phải là sự sáng tạo không?

DAVID BOHM: Vâng, đại loại là thế.

KRISHNAMURTI: Không phải nghệ thuật tạo ra chữ viết, tôi không nói về nó …

DAVID BOHM: Vâng, nếu chúng ta thảo luận về ý nghĩa của việc sáng tạo. Có lẽ chúng ta có thể làm được điều đó.

KRISHNAMURTI: Chúng ta sẽ làm điều đó vào ngày mai.

Hà Thủy Nguyên

Nguồn bài: https://jkrishnamurti.org/content/roots-psychological-conflict

*Tranh minh họa lấy từ nhân vật Dr Manhattan trong bộ truyện tranh “Watchmen”.

Sống không phản kháng - Krishnamurti

blogpost thumb

Tôi thực sự không biết tại sao tôi ngồi trên bục này. Tôi cảm thấy tôi nên ngồi trên mặt đất cùng với tất cả những người còn lại, nhưng tôi đã ở đây rồi. Đó không phải là vị trí thẩm quyền. Tôi nghĩ rằng điều này cần phải được làm rõ ngay từ đầu. Tôi không ngồi đây với tư cách là Hội đồng Delphi, đặt ra giới luật hoặc cố gắng thuyết phục bạn nên có bất kỳ thái độ, hành động hoặc suy nghĩ nào. Nhưng vì tất cả chúng ta đều ở đây, và chúng ta đều khá nghiêm túc về vấn đề này, vì bạn đã gặp phải tất cả những rắc rối để dẫn đến bước này , và tất cả những gì sau đó, tôi nghĩ rằng, nếu chúng ta có thể, hãy tìm hiểu tại sao con người lại sống chính xác trong một thế giới bị cô lập, chia rẽ bởi niềm tin, thú vui, lo toan, lý tưởng, thuộc về các giáo phái và cộng đồng khác nhau – cộng sản, xã hội chủ nghĩa, Đảng Lao động, Kitô hữu chia thành vô số giáo phái, như người Ấn giáo, Phật tử cũng vậy – tại sao chúng ta sống trong sự chia rẽ, nhị nguyên, đi ngược lại mọi dạng tồn tại, chống đối lẫn nhau, để rồi xung đột và chiến tranh. Đây là hình mẫu của loài người trên khắp thế giới – nghệ sĩ, quân nhân, nhạc sĩ, khoa học gia, những con người được gọi là tôn giáo, doanh nhân…, những quốc tịch, định kiến chủng tộc, chúng ta sống theo cách này dường như từ thuở sơ khai. Và người ta liệu có tự hỏi rằng có phải luôn như thế này, bởi vì điều này không thể mang đến hòa bình, đây là cách con người tạo ra chiến tranh dù cho họ nói về tình yêu hay hòa bình trên trái đất hay gì đó khác.

Vì vậy, liệu có cơ hội cho những con người hoàn toàn nghiêm túc tìm kiếm lối sống bất nhị, không hệ tư tưởng hay lý thuyết, nhưng thực sự là một trạng thái bên ngoài ngôn ngữ dù trong hình thức hay bản chất, liệu bạn và tôi có thể sống một cuộc sống trong đó sự biện biệt tuyệt đối chấm dứt, không chỉ ở cấp độ lời nói mà còn ở các tầng sâu, trầm lắng trong tâm tưởng của chính mình. Vì lẽ tôi thấy nếu giữa chúng ta không thể tồn tại điều này thì chúng ta ắt phải gây chiến với nhau. Bạn cùng ý kiến, niềm tin và tín điều và nhận định của mình, còn tôi thì cũng có của tôi. Và thế là không có sự giao tiếp thực sự, không bao giờ có sự liên hệ với nhau. Đây chính xác là điều đang diễn ra trên khắp thế giới. Đạo sư cùng các đệ tử chân truyền của mình, các tông phái, cộng đồng, giáo phái với các giáo điều của mình, và tất thảy. Rồi chúng ta ở đây, đối mặt với những điều này, không phải chỉ ở mặt ý thức hệ, mà thực sự bởi vì đó là… một trong những vấn đề chính trị quan trọng, là sự thống nhất giữa người và người, của nhân loại – cho dù điều ấy có xảy đến hay không. Và liệu con người, các cá nhân, bạn và tôi, có thể sống một cuộc sống không đối lập hay không, khi các ý kiến khác nhau không chia rẽ con người, dù là niềm tin, nhận định hay sự phản kháng. Tôi không biết đã bao giờ bạn đặt câu hỏi đó cho mình chưa, và nếu có, nếu có, tôi tự hỏi người ta sẽ nói gì, trong thẳm sâu, không phải nằm ở ý nghĩa của lời nói hay trí tuệ, mà bằng trái tim với toàn bộ bản thân mình để trả lời câu hỏi như vậy.

Liệu sáng nay chúng ta có thể đi sâu hơn vào vấn đề này? Liệu chúng ta có thể tự do thăm hỏi nhau? Bởi vì giao tiếp và mối quan hệ luôn đi cùng nhau. Nếu không có giao tiếp thì không có mối quan hệ, không chỉ giữa bạn và người đang nói mà còn với mỗi người. Nếu chúng ta chỉ duy trì ở mức độ lời nói, ở cấp độ xã giao, sự giao tiếp sẽ rất hời hợt, không thể đi xa hơn được. Nhưng để liên đới ở cấp độ phi ngôn ngữ đòi hỏi phải chấm dứt sự tồn tại nhị nguyên – giữa “tôi” và “bạn”, “chúng ta” và “họ”, người Công giáo và người Tin Lành, vân vân và vân vân.

Sau khi đặt câu hỏi, chúng ta có thể đi sâu vào và chứng kiến những gì phi ngôn ngữ và truyền đạt ra ngoài về việc có hay không một cuộc sống không chia rẽ và phân tách. Để thực hiện được điều đó, chúng ta phải nhận thức về bản thân bởi vì chúng ta là những gì thế giới biểu hiện. Thế giới không tách rời khỏi chúng ta, cộng đồng hay tập thể không tách rời khỏi mỗi chúng ta – chúng ta là tập thể, chúng ta là cộng đồng, chúng ta là thế giới. Một lần nữa, hãy ở cấp độ vô ngôn. Chúng ta có thể tuyên bố “Chúng ta là thế giới”, nhưng để cảm được điều này, chúng ta phải thực sự cảm thấy rằng chúng ta hoàn toàn là một phần của toàn bộ. Để giải quyết câu hỏi này, chắc chắn người ta phải nhận thức được toàn bộ cấu trúc và bản chất của chính mình, không chỉ nội tại mà cả bên ngoài – ẩn bên trong mọi hình thức, mọi ngôn từ, và biết rằng ngôn từ có thể gây chia rẽ. (Âm thanh từ đâu vọng đến làm gián đoạn bài nói chuyện) Đây là lần đầu tiên chúng ta có máy bay chốn này. (Tạm ngừng)

Như chúng ta đã nói, thế giới phân chia: người Anh, người Pháp. Tư tưởng phân chia. Nhận định trong mọi hình thức đều mang đến chia rẽ, cô lập. Hiển nhiên là cả các đức tin và sự phân chia tôn giáo như Công giáo hay Tin Lành, hay những thứ khác. Bên ngoài là hình thức, ngôn từ, việc tôi ngồi cao thế này tạo ra phân chia. Và bên trong, dưới lớp da này, cũng có những dạng phân chia và chia tách khác nhau, mà bản chất là “tôi”, cái tôi, bản ngã, bị suy nghĩ đặt cạnh nhau. Qúa trình này, khi người ta phải nhận thức cả bên trong cũng như bên ngoài, liệu có thể được hiểu và giải trừ? Tôi nghĩ rằng đó là một trong những vấn đề chính yêu trên thế giới, không phải chỉ là vấn đề kinh tế, nếu bạn ở trên đất nước này, với an sinh xã hội, nhà nước phúc lợi và đủ thứ, con người vẫn bị phân chia theo các cách khác nhau qua các vấn đề cá nhân, sự cô lập, thú vui, sự độc quyền… Và để trở nên nhận biết về bản thân, cả ở bên ngoài hay bên trong, quá trình cô lập này, sự kháng cự này có thể thực sự được hóa giải. Bởi vì điều này rất phức tạp, bởi vì suy nghĩ là chia rẽ. Bản chất của suy nghĩ là biện biệt, là mang đến sự phân mảnh khi quan sát – khoảng cách được tạo ra bởi người quan sát và đối tượng. Có sự phân chia.. Và sự phân chia do suy nghĩ mang tới. Chúng ta không bàn điều này một cách giáo điều nhưng ai đó có thể quan sát nó, trải nghiệm nó, kiểm tra nó.

Và như chúng ta đã nói, không thể có sự giao tiếp chừng nào còn tồn tại phân chia. Và những gì chúng ta coi là tình yêu, nếu đó là sản phẩm của suy nghĩ hoặc bị bủa vây bởi suy nghĩ, thì tình yêu đó bị chia rẽ. Và khi ai đó nhận thức được tất cả những điều này, họ phải làm gì, làm thế nào để hành động? Phải có sự rèn luyện về tư duy, một cách logic, tổng thể, lành mạnh, toàn bộ, và chính suy nghĩ đó phải… hiển nhiên là không tạo ra phân chia.

Thế nên đó là một vấn đề. Và nếu có sự nhạy cảm, chính là một phần của tình yêu, thế rồi suy nghĩ không có nơi để tồn tại, biết rằng suy nghĩ mang tới vụn vỡ, chia tách , phân chia. Vậy nên một ai đó có thể sống trong một thế giới bị chia rẽ hoàn toàn và có được vinh quang trong sự chia rẽ ấy? Bằng cách nào một người có thể sống hoàn toàn trong sự hài hòa cả bên trong và bên ngoài? Khoảnh khắc chúng ta có một công thức, một hệ thống, thì chính thứ công thức và hệ thống ấy mang lại chia rẽ – kể cả của bạn hay của tôi. Thế thì câu hỏi là “bằng cách nào” không giải quyết được vấn đề của chúng ta. Nếu tôi nói với bản thân rằng, bằng cách nào tôi sống với sự nhạy cảm vĩ đại, mà bản chất trong đó có vẻ là tình yêu, và làm cách nào tôi hành động, làm điều gì đó mà không mang lại sự chia rẽ? – khi tôi hỏi bản thân tôi rằng tôi làm thế nào để thực hiện điều đó, thì “làm thế nào” ẩn chứa một phương pháp, đúng không, một hệ thống – bằng cách này bạn sẽ thực hiện được điều đó, bạn sẽ nhận thấy sự hòa hợp này, trạng thái bất nhị này. Nhưng đó là ngôn từ, “bằng cách nào” gây ra phân tách. Đó là, có một ý tưởng, một hệ tư tưởng, một công thức mà suy nghĩ đã trở nên hài hòa: sống không phân tách – đó là thành tựu cuối cùng, và có sự phân chia giữa điều ấy và trạng thái thực tế của tôi. Và “bằng cách nào” là trung gian. Do đó “bằng cách nào” ngay lập tức sinh ra phân tách, chia rẽ giữa “nên là gì” và “ là gì”. Do đó, nếu ai đó có thể loại bỏ hoàn toàn “bằng cách nào”, tức là phương pháp, hệ thống, thực hành, thì sẽ không có hệ tư tưởng nào nữa cả, tức là “nên là gì”. Vậy thì sẽ chỉ còn “là gì” và không gì khác. “Là gì” là cách chúng ta sống, cảm nhận, suy nghĩ, hành động, yêu đương, là cách thức phân tách và chia rẽ. Đó là thực tế. Bây giờ bằng cách nào mà thực tế bị chuyển đổi thành điều gì đó bất nhị?

Tôi xin lỗi có quá nhiều ruồi. Tôi mừng rằng các bạn cũng thấy phiền toái về điều này.

Liệu tôi có thể quan sát cuộc đời nhị nguyên, chia rẽ và biệt lập của tôi? Dù tôi có thể nói nhiều đến thế nào với vợ tôi rồi “Tôi yêu em”,… thế thì tôi vẫn đang trong sự phân tách, bởi vì tôi ham muốn, tham lam, ghen tuông, đầy mâu thuẫn, thù ghét và những gì sôi sục trong tôi. Và đó là thực tế. Liệu tôi có thể chứng kiến… liệu tâm trí có thể chứng kiến thực tế bất nhị này? – tôi như người quan sát cứ thế chứng kiến dù cho có gì đó đã chia tách khỏi tôi. Liệu tôi có thể chứng kiến mà không phân tách? Liệu tôi có thể chứng kiến… liệu tâm thức có thể chứng kiến, không phải như người quan sát, không phải như một thực thể mong muốn thay đổi và biến chuyển những gì nó quan sát, mà chứng kiến không cần người quan sát. Liệu tôi có thể… mở rộng cái nhìn của mình – tâm trí, thứ muốn được gọi là tâm trí của tôi ấy – liệu có thể chứng kiến mà không kết luận ngoại trừ việc quan sát. Chỉ quan sát thực tế, không phải những gì suy nghĩ nói về thực tế – những tư tưởng, nhận định, định kiến, phán xét, như thích và không thích, cảm giác thất vọng, tuyệt vọng khi bạn chứng kiến thực tế – chỉ quan sát mà không suy nghĩ phản ứng lại những gì đã thấy. Tôi nghĩ rằng đó là nhận thức thực sự: quan sát với sự nhạy cảm trong toàn bộ não trạng, vốn bị ảnh hưởng và quá tải bởi những nhận định, ý tưởng, vui thú, hi vọng và vô vàn thứ khác của chính nó, để quan sát với bộ não hoàn toàn yên tĩnh và vẫn sống động với những gì đang quan sát. Tôi nói mọi người có thấy hiểu rõ hơn không hay mọi thứ quá phức tạp?

Hãy xem này, các ngài: chúng ta quan sát những gì diễn ra trên thế giới, bên ngoài – chia rẽ, phân tách, phân chia tôn giáo, chính trị, cuộc chiến này tiếp diễn suốt dòng thời gian, không chỉ giữa hai cá nhân, mà còn khắp thế giới. Và một người muốn sống hoàn toàn bình an vì họ nhận ra rằng mâu thuẫn dù ở bất cứ hình thức nào đều không mang tính sáng tạo và không phải là nền tảng mà điều thiện nở hoa. Và thế giới này là một phần của tôi. Tôi là thế giới, không phải chỉ là bằng lời nói mà trên thực tế là nội tại. Tôi đã tạo ra thế giới này, thế giới này tạo nên tôi. Tôi là một phần của xã hội này và xã hội này do tôi định đoạt. Và liệu có thể sống một cuộc sống với hành động, suy nghĩ, cảm nhận không chỉ bên ngoài mà còn sâu thẳm bên trong mà không có sự biệt lập nào? Bởi vì duy chỉ có thế mới sống bình yên. Không phải thực vật, mà còn cao hơn thế, sống động, tỉnh táo, nhạy cảm.

Theo cách hành động nào thì sẽ không có chia rẽ? Đối xử, trò chuyện, sử dụng ngôn từ không tạo ra sự chia rẽ giữa bạn và tôi, và trong bản thân mình. Chắc chắn rằng chỉ khi nhận thức toàn triệt, hoàn toàn nhạy cảm, không chỉ những gì diễn ra nội tại mà cả bên ngoài, cách phát ngôn, ngôn từ, cử chỉ, hành động. Nhận thức đòi hỏi rất nhiều năng lượng. Và liệu có ai có năng lượng đó?

Điều này có nghĩa là, bằng cách nào điều này có thể – lại “bằng cách nào”, tôi xin lỗi, tôi rút lại từ đó. Ai đó nhận ra rằng một lượng lớn năng lượng là cần thiết để cảnh tỉnh, nhận thức, nhạy cảm để hiểu sự phân chia này, đời sống nhị nguyên đầy phản kháng này. Để cảnh tỉnh cần quan sát rất nhiều, và điều đó có nghĩa là năng lượng, cả nặng lượng thể chất và suy nghĩ, nặng lượng của sự nhạy cảm lớn. Bằng cách nào mà toàn bộ năng lượng này có được, biết rằng chúng ta hoang phí năng lượng trong những cuộc chuyện trò vô dụng, hưởng thụ nhiều loại ảo ảnh, tình dục và nhiều thứ khác, năng lượng này bị tiêu xài vào ham muốn, đấu tranh, nhiều dạng nhị nguyên khác. Và xã hội xây đắp con đường của đấu tranh và ham muốn.

Liệu tâm trí, trí não của chúng ta cũng thế, liệu có phải toàn bộ cấu trúc này, thứ được gọi là “tôi” nhận thức được những điều này, từng chút từng chút một, bị vỡ thành từng mảnh? Bạn biết đấy, đó là thiền định đích thực – tôi hơi ngại giới thiệu từ này. Do đó tâm trí nhận thức bản thân và không tạo nên người quan sát, thứ ở bên ngoài chứng kiến bên trong. Điều này chỉ có thể khi không có hệ tư tưởng, không mong muốn kết quả. Đó là không có cảm nhận gì về thời gian. Chỉ có thời gian cũng giống như tiến hóa khi cảm nhận được sự khác biệt giữa “là gì” và “nên là gì”. Và toàn bộ sự nỗ lực, sự căng thẳng và đấu tranh dùng để đạt được “nên là gì”, thật là sự lãng phí năng lượng. Để nhận thức được điều này, để nhận thức được sự thật này, một sự thật mà chính suy nghĩ, khi không biết nó nên làm gì với “là gì”, một thứ xấu, đẹp hay thế nào đi chăng nữa, một thứ “là gì” bên trong chính mình, suy nghĩ không thể vượt qua nó, thế nên nó đã vẽ ra ý tưởng “nên là gì” với hi vọng bằng cách đó có thể vượt qua “là gì”. Và để vượt qua “là gì” bạn phải có thời gian, dần dần, chậm rãi, ngày qua ngày.

Cho nên đây là con đường suy nghĩ mang đến sự phân chia, chia tách. Ngay lúc này, hãy quan sát điều đó, nhận thức về nó, không phải những gì bạn nên làm, không phải bằng cách nào để vượt qua, mà chỉ bởi nhận thức hoàn toàn với độ nhạy cảm cao. Tôi nghĩ rằng đó là tất cả những gì… tâm trí có thể làm, để thực sự nhận thức về quá trình nhị nguyên diễn ra trong dòng thời gian, và nhận thức về tình trạng nhị nguyên và phân chia đã đi vào tồn tại, rồi quan sát, rồi cảnh tỉnh, nhạy cảm chỉ với “là gì” và không gì khác. Nếu có ghét bỏ, giận dữ, tham lam, cứ nhận thức, đừng cố chuyển hóa. Bởi vì khi bạn cố thay đổi ghét bỏ, lo lắng, sợ hãi thế thì trong đó đã có “tôi” người đang thay đổi nó. Nhưng nếu ai đó có thể quan sát ghét bỏ hay lo lắng, sợ hãi, mà không có người quan sát, chỉ quan sát thôi, thì toàn bộ cảm giác chia rẽ về thời gian, nỗ lực, thành quả, đều dẫn đến một kết cục, và vì vậy họ có thể sống trong thế giới nội tại và bên ngoài trong trạng thái bất nhị… trong một trạng thái bất nhị không phản kháng. Vậy là tôi đã nói xong rồi. Giờ chúng ta hãy tiếp tục.

Liệu chúng ta có thể trao đổi thêm về điều này, dù sẽ có buổi trao đổi vào thứ 3 và thứ 5 – liệu chúng ta có thể đi sâu hơn bằng cách đặt ra các câu hỏi? Không phải tôi đang cho phép, mặc dù tôi đang ngồi ở đây, thật không may chút nào.

Người hỏi: Một trong những phức tạp trong dòng suy nghĩ mà ông đã theo đuổi, với tôi đó là nếu ông chứng kiến thế giới như nó tồn tại hôm nay, và ông muốn sống trong bình yên nội tại, và ông cảm thấy mình là một phần của xã hội mà ông chịu trách nhiệm vì những gì đang diễn ra trên thế giới, bằng cách nào ông có thể sống yên bình hay một mức độ hạnh phúc nào đó, mà vẫn biết về những điều khủng khiếp và đau lòng đang diễn ra trên thế giới ngày nay?

Krishnamurti: Tôi hi vọng rằng các bạn đã lắng nghe được câu hỏi. Nếu tôi chịu trách nhiệm cho toàn bộ mớ lộn xộn này, và tôi là – cuộc chiến tranh Việt Nam, Trung Đông, bạo loạn chủng tộc, định kiến – Tôi chịu trách nhiệm vì điều đó, bởi vì tôi là một phần của tất thảy, tôi góp phần vào đó, tôi tạo ra điều đó bởi chủ nghĩa quốc quyền nơi tôi – và cả những thứ khác nữa. Và câu hỏi là, bằng cách nào tôi có thể sống bình yên khi tôi mang tới toàn bộ mớ lộn xộn này, những sai lầm quan tôi, vì những gì tôi phải chịu trách nhiệm. Đó có phải câu hỏi mà bạn muốn hỏi không?

Người hỏi: Vâng, đúng vậy.

Krishnamurti: Tôi phải thay đổi bản thân mình, có vậy thôi. Tôi phải thay đổi bản thân mình toàn bộ và triệt để. Liệu có thể không? Khi tôi coi bản thân mình là người Anh, người Hindu hay gì đó khác, hay thuộc về một nhóm người nào đó, một giáo phái, đức tin, nhận thức hay hệ tư tưởng, tôi còn góp phần vào sự hỗn loạn này, vào tất cả những gì điên rồ quanh tôi. Và liệu tôi có thể vứt bỏ tất cả những nhận định, định kiến, niềm tin, tín điều hoàn toàn khỏi mình? Vứt bỏ mà không cần nỗ lực, bởi vì tôi tạo ra nỗi lực tức là tôi lại bước vào thế giới nhị nguyên. Thế thì liệu tôi có thể hoàn toàn thôi là một người Hindu, không chỉ ở hình thức mà bản chất? Bên ngoài cũng như bên trong cuối cùng đều chấm dứt mọi ý thức về đấu tranh, sự phân chia thứ bậc trong cuộc sống, so sánh tôi với người khác, những người thông minh hơn, giàu có hơn, tài giỏi hơn tôi. Một lần nữa xin nhắc lại không được phép có nỗ lực. Nếu điều này không được thực hiện, tôi là một phần của hỗn độn. Và điều này thay đổi không chỉ là vấn đề thời gian, nó phải diễn ra ngay lúc này, ngay lập tức. Nếu tôi nói “Tôi sẽ dần thay đổi”, thế thì tôi sẽ lại rơi vào bẫy phân chia.

Liệu tôi có thể, liệu tâm trí, là tâm trí có thể quan sát thực tế rằng tôi đang tranh đấu, muốn được lấp đầy bằng bực dọc, sợ hãi, lo lắng, hối hận và tuyệt vọng và gì đó nữa, quan sát nó, nhìn nó, như một mối nguy? Và khi một người nhìn thấy gì đó nguy hiểm, họ phản ứng tức thì. Người đó không hề nói khi tiến đến ranh giới: “Ồ, tôi sẽ đi từ tốn. Tôi sẽ nghĩ về điều đó” – bạn chỉ rời khỏi đó. Thế là có phải chúng ta đã thấy sự nguy hiểm phi ngôn ngữ, nhưng trên thực thế lại là sự nguy hiểm của phân chia? Bạn thuộc về điều gì đó và tôi lại thuộc về thứ khác, với niềm tin của bạn, với sự vui thú, đau buồn, lo toan riêng biệt của bạn và tôi cũng có của tôi. Khi những điều này còn tồn tại, chúng ta vẫn chỉ sống trong hỗn độn.

Vậy câu hỏi là, sống trong một thế giới điên rồ, đáng buồn và đáng thất vọng, cùng với sự nở bừng của phúc lạc và vẻ đẹp của một đám mây hay một bông hoa, điều này liệu có thể… liệu có thể có sự thay đổi hoàn toàn?

Người hỏi: Thưa ngài, yêu cầu chúng tôi nhận thức về “là gì” dường như là quá nhiều. Nỗi đau của “là gì” có vẻ như còn nhiều hơn những gì chúng tôi có thể chịu đựng suốt toàn bộ thời gian mà không cố thoát khỏi nó. Dường như quá nhiều thứ phải xử lý.

Krishnamurti: Để nhận diện “là gì” đúng là quá nhiều, mà không cần phải cố thoát khỏi nó. Chúng ta không thể chịu đựng điều này. Chúng ta có thể bóng gió về “là gì” và thế đã là quá nhiều. Cho nên chúng ta cần bỏ qua sự chú ý vào thời gian mà thỉnh thoảng chẳng cần để ý quá, đúng không. Nếu tôi không thể chịu đựng được điều gì thì tôi phải bỏ nó lại một thời gian. Cứ để nó lại đó, nghỉ ngơi, nhưng trong suốt thời gian còn lại hãy chú ý vào sự lãng tâm của bạn. Bạn hiểu những gì tôi muốn nói chứ? Tôi – chứng kiến: tôi đang ghen tị. Chúng ta sẽ thấy điều đó rất phổ biến. Tôi dành tất cả sự chú ý của mình cho nó, xem những gì liên quan đến nó – ghét, sợ hãi, chiếm hữu, thống trị, cô lập, cô đơn, thiếu bạn đồng hành, tất cả những điều đó – ghen tị – và tôi quan sát điều này trong bất nhị. Nếu tôi dành toàn bộ sự chú ý vào đó, tôi đã hiểu nó hoàn toàn, do đó không cần phải nghỉ ngơi. Tôi đã hoàn toàn hiểu sự nguy hiểm ấy, do đó tôi đã rời xa nó. Chỉ đến khi tôi không tập trung toàn bộ mà chỉ chú ý chút ít thì tôi mới cảm thấy mệt mỏi. Sau rồi, tôi nói “Chúa tể của tôi, tôi phải nghỉ ngơi một chút để thoát khỏi công việc chết tiệt này”. Và vì vậy tôi trốn khỏi nó. Vì vậy, biết rằng ta đã trốn khỏi nó, chúng ta đang gợi ý rằng biết về cách bạn chạy trốn, biết về chạy trốn có sự lãng tâm, nhận thức về sự lãng tâm. Hãy bỏ sự ghen tị của bạn lại nhưng nhận thức về sự lãng tâm trong khi bạn bỏ chạy. Để rồi sự lãng tâm trở thành chú tâm. Điều này sẽ mài sắc tâm trí của bạn.

Hà Thủy Nguyên dịch

Nguồn bài: https://jkrishnamurti.org/content/living-without-resistance

Tôi (thứ gọi là tâm trí của tôi) chọn cách dịch thoát ý bài nói chuyện này của Krishnamurti (có thể chỉ là tâm trí của ông ấy chứ không phải ông ấy), bởi vì đó là một bài nói chuyện, nên có nhiều chỗ bị sai ngữ pháp và diễn đạt không đầy đủ vì ảnh hưởng của văn phong nói. Rất mong các bạn ( thực ra là tâm trí của các bạn) góp ý để tránh trường hợp (tâm trí) tôi hiểu sai điều (tâm trí) Krishnamurti muốn nói, ông ấy không thích điều đó.

4000 NĂM LỊCH SỬ CỦA CHÚA – THUỞ BAN ĐẦU (2): THẦN THOẠI SÁNG THẾ Ở LƯỠNG HÀ

blogpost thumb

Dường như con người ở thế giới cổ xưa tin rằng chỉ có thể bằng cách dự phần trong đời sống linh thiêng họ mới có thể trở thành con người đích thực. Đời sống trần tục vốn dĩ mỏng manh và mờ nhạt do tính hữu hạn, nhưng nếu như con người mô phỏng hành vi của các vị thần, họ sẽ thể hiện được sức mạnh và công hiệu to lớn hơn. Do đó, người ta tin rằng các vị thần đã chỉ dẫn cho con người cách xây dựng các đô thị và đền thờ, đơn thuần chỉ là những bản sao chép của gia đình đích thực ở cõi giới thần thánh của họ. Thế giới linh thiêng của các vị thần – như đã được kể lại trong thần thoại – không chỉ là một lý tưởng để con người khao khát mà còn là nguyên mẫu cho hiện hữu của con người; đó là mẫu gốc hay nguyên mẫu tạo nên mô hình cho cuộc sống hạ giới của chúng ta. Những gì diễn ra trên mặt đất do đó được tin rằng là bản sao của những gì ở thế giới thần thánh, sự nhận thức này đã tạo nên thần thoại, các tổ chức xã hội và cúng tế của hầu hết các nền văn hóa từ xa xưa và đến nay vẫn còn ảnh hưởng đến các xã hội mang nhiều tính truyền thống hơn trong thời đại ngày nay. (1). Ví dụ như, ở Iran cổ đại mỗi con người hoặc vật hữu tình trong thế giới trần tục (getik) đều được tổ chức để phóng chiếu thế giới nguyên mẫu của thực tại thiêng liêng (menok). Đây là một quan điểm vốn rất khó cho chúng ta để có thể nhận định ở thế giới hiện đại, kể từ khi chúng ta nhận ra sự tự trị và tính độc lập như những giá trị tối cao của con người. Tuy nhiên kiểu “chơi no sớm lo kiệt lực” (tác giả sử dụng câu thành ngữ post coitum omne animal tristis est với nghĩa mỉa mai xu hướng bốc đồng rồi sớm rã đám giống như sau cơn hứng thú làm tình thì các bộ phận sinh dụng của cả nam và nữ đều tiu nghỉu) đã thể hiện một kinh nghiệm chung: sau một chốc lát háo hức và cuồng nhiệt có thể đoán trước, chúng ta thường cảm thấy rằng chúng ta đã để vuột mất điều gì đó vĩ đại hơn mà chúng ta không thể nắm bắt được. Sự bắt chước thần thánh vẫn là một ý niệm tôn giáo quan trọng: nằm xuống trong lễ Sabbath hay rửa chân cho ai đó vào ngày thứ Thứ Năm Maundy – những hành động vốn vô nghĩa đối với chúng ta – giờ đây lại có ý nghĩa và linh thiêng bởi vì người ta tin rằng những hành động này đã từng được từng được Chúa thực hiện.

Một tín ngưỡng tâm linh tương tự cũng được biểu hiện ở Lưỡng Hà cổ đại. Tại thung lũng Tigris – Euphrates, ngày nay thuộc Iraq, người Sumer – chủ nhân của các nền văn hóa vĩ đại Oikumene (xã hội văn minh) đã định cư từ khoảng 4000 BC. Trong những đô thị Ur, Erech và Kish của mình, người Sumer đã tạo ra các văn bản viết trên đất sét, xây những những tòa tháp thờ tự kỳ vĩ được gọi là “ziggurats” và phát triển một nền luật pháp, văn chương và thần thoại đáng ngưỡng mộ. Không lâu sau đó, khu vực này đã bị xâm chiếm bởi những người Akkad thuộc văn hóa Semit, những người đã tiếp thu ngôn ngữ và văn hóa của người Sumer. Sau đó, vào khoảng 2000 BC, những người Amorites đã xâm lược nền văn minh Sumer – Akka và biến Babylon thành thủ phủ. Cuối cùng, khoảng 500 năm sau đó, những người Assyria đã chiếm đóng gần khu vực Ashur và còn xâm lược Babylon trong suốt thế kỷ thứ 8 BC. Truyền thống Babylon cũng ảnh hưởng đến thần thoại và tôn giáo của Canaan, nơi trở thành Vùng Đất Hứa của người Israel cổ đại. Giống với những người khác ở thế giới cổ đại, những người Babylon gắn liền những thành tựu văn hóa của họ với các vị thần, bởi các vị thần sẽ hé lộ đời sống của họ cho các tổ tiên huyền bí của họ biết. Vì vậy Babylon tự cho bản thân là hình ảnh phản chiếu của thiên đường, với mỗi đền thờ là một bản sao của cung điện trên thiên đường. Sự liên kết này với thế giới thần thánh được tưởng niệm và duy trì hàng năm trong các Lễ hội Năm Mới vốn được tổ chức từ thế kỷ 17 BC. Được tưởng niệm tại các thành phố thần thánh của Babylon trong suốt tháng Nisan, tức tháng 4 của chúng ta, lễ hội tạo nên quyền lực của vị vua và thiết lập sự trị vì của ông ta trong những năm sau đó. Tuy nhiên sự ổn định chính trị chỉ được duy trì chừng nào sự cai trị của các vị thần mang đến trật tự cho thế giới hỗn loạn vào lúc sáng thế, vẫn còn tiếp diễn và hiệu quả. Mười một ngày linh thiêng của lễ hội do đó đã vạch sẵn cho những người tham gia khoảng thời gian tránh xa điều thô tục để đi vào thế giới linh thiêng và vĩnh cửu của các vị thần bằng các nghi lễ thờ cúng. Con dê tế thần sẽ bị giết để chấm dứt một năm đã già và đang chết dần; sự sỉ nhục công khai của nhà vua và sự lên ngôi của người đứng đầu lễ hội nhằm thế chỗ của nhà vua tái hiện sự hỗn loạn lúc khởi thuỷ; và một trận chiến giả tái diễn trận chiến của các vị thần chống lại các thế lực hủy diệt.

Những hành động mang tính biểu tượng này vì thế có giá trị nghi lễ; chúng cho phép người Babylon đắm mình trong sức mạnh (hay mana) linh thiêng cai trị nền văn minh vĩ đại của họ. Nền văn hóa chẳng khác nào một thành quả mong manh luôn lâm nguy do những thế lực gây hỗn loạn và tan rã. Và buổi chiều ngày thứ tư của lễ hội, các thầy tư tế và người diễn xướng đi thành hàng dọc vào Thánh đường nơi Thiên Chúa ngự và ngâm Enuma Elish, bài trường thi tưởng niệm chiến thắng của các vị thần trước sự hỗn loạn. Câu chuyện này không phải kể lại những gì hiện hữu ở thế giới mặt đất mà là một sự tượng trưng đa nghĩa để gợi nên một huyền tích vĩ đại và giải phóng năng lượng linh thiêng. Diễn đạt thành văn về sự sáng thế là không thể, do đó không ai có thể biểu thị các sự kiện không thể hình dung nổi này: thần thoại và biểu tượng vì vậy chỉ là cách phù hợp để mô tả chúng. Tóm lại, Enuma Elish giúp chúng ta thấu rõ tinh thần đã tạo ra Chúa Sáng Thế nhiều thế kỷ sau đó. Dù cho chuyện kể về sáng thế trong kinh thánh và kinh Koran khác nhau đến đâu, những thần thoại kỳ lạ này không bao giờ biến mất hoàn toàn nhưng chỉ quay trở lại dòng lịch sử của Chúa ở thời kỳ khá muộn, được khoác lên đặc trưng của tôn giáo nhất thần. Câu chuyện bắt đầu với sự khai sinh của các vị thần – một chủ đề mà, như chúng ta sẽ thấy, rất quan trọng với bí giáo Do Thái và Islam. Ở thuở ban đầu, như Enuma Elish kể lại, từ hoang địa ẩm ướt và vô định hình vốn là một vật chất linh thiêng, các vị thần hiện ra từng đôi một. Trong thần thoại Babylon, mà sau này có trong Kinh Thánh, không hề có sự sáng tạo từ hư không, một ý tưởng hoàn toàn lạ lẫm đối với thế giới cổ đại. Trước cả sự tồn tại của các vị thần và con người, những vật thể thô linh thiêng này đã tồn tại từ vĩnh cửu. Khi người Babylon cố hình dung vật thể linh thiêng nguyên thủy này, họ đã nghĩ rằng nó tương tự với vùng đầm lầy hoang dã ở Lưỡng Hà, nơi những trận lũ thường xuyên đe dọa quét sạch những thành quả yếu ớt của con người. Trong Enuma Elish, sự hỗn độn không phải một khối rực lửa và sôi sục mà là một mớ lộn xộn ẩm ướt nơi vạn vật thiếu ranh giới, sự xác định và danh tính:

When sweet and bitter
mingled together, no reed was plaited,
no rushes muddied the water,
the gods were nameless, natureless, futureless.

Thế rồi ba vị thần trồi lên từ vùng đất hoang nguyên thủy: Apsu (được xác định là nước ngọt của các dòng sông), vợ của ông là Tiamat (biển mặn) và Mummu, Tử cung của hỗn độn. Tuy nhiên những vị thần này có thể nói là nguyên mẫu nguyên sơ và thấp cấp cần được cải thiện. Những cái tên “Apsu” và “Tiamat” có thể được dịch là “vực thẩm”, “hư không” hay “không đáy”. Chúng thể hiện sự trì trệ không định hình của sự vô tướng nguyên thủy và chưa có được danh tính rõ ràng.

Thế là, các vị thần khác cũng theo cách đó mà tách ra từ chính họ trong một quá trình được biết đến như sự khai sinh vốn rất quan trọng trong dòng lịch sử của Chúa. Các vị thần mới xuất hiện, một người được sinh ra từ người khác, từng đôi một, có được sự định nghĩa nhiều hơn những vị trước giống như sự tiến hóa thần thánh đang diễn ra vậy. Đầu tiên là Lahmu và Lahamn (tên họ nghĩa là “bùn”: nước và đất trộn lẫn với nhau). Sau đó là Ansher và Kishar, được định danh trang trọng với đường chân trời phân cách bầu trời và mặt biệt. Rồi Anu (các thiên đường) và Ea (mặt đất) tới và dường như hoàn thiện quá trình. Thế giới thần thánh có bầu trời, những dòng sông và mặt đất, phân chia và tách biệt khỏi nhau. Nhưng sự sáng tạo mới chỉ bắt đầu: các thế lực gây hỗn loạn và tan rã chỉ có thể bị ngăn chặn bằng một cuộc đấu tranh đau đớn và không ngừng nghỉ. Những vị thần trẻ tuổi, năng động đã nổi lên chống lại cha mẹ của họ, nhưng dù cho Ea đã có thể vượt qua Apsu và Mummu, ông vẫn không thể tiến lên chống lại Tiamat, người đã sản sinh ra một loạt các con quái vật biến hình để chiến đấu thay cho mình. May mắn thay Ea đã sinh ra một đứa trẻ tuyệt vời: Marduk, Thần Mặt trời, sinh linh hoàn hảo nhất của dòng dõi thần thánh. Tại cuộc gặp của Hội đồng các vị thầnMarduk hứa sẽ chiến đấu chống lại Tiamat với điều kiện rằng ông trở thành người cai trị của họ. Tuy nhiên, ông chỉ có thể tiêu diệt Tiamat với rất nhiều khó khăn và sau một trận chiến dài, nguy hiểm. Trong thần thoại này, sự sáng tạo là một cuộc đấu tranh, đạt được vất vả bằng việc chống lại vô vàn thử thách.

Thế rồi, Marduk đứng trên xác chết khổng lồ của Tiamat và quyết định tạo ra một thế giới mới: ông chia đôi cơ thể của bà thành hai phần là bầu trời và thế giới con người; tiếp đó ông đưa ra các luật lệ để giữ gìn trật tự của vạn vật. Mệnh lệnh phải được thực thi. Tuy nhiên, chiến thắng vẫn chưa hoàn tất. Nó phải được tổ chức lại bằng các phụng vụ năm này qua năm khác. Do đó, các vị thần tụ họp nhau tại Babylon, trung tâm của mặt đất mới, và xây dựng một ngôi đền nơi các nghi lễ tế thần diễn ra. Kết quả là một ziggurat vĩ đại để tôn vinh Marduk, ‘ngôi đền trần thế, biểu tượng thiên đường vô hạn’ đã ra đời. Khi công việc đã hoàn thành, Marduk ngồi ở vị trí tối cao và các vị thần hô lớn: “Đây là Babylon, thành phố thân yêu của thần thánh, ngôi nhà yêu dấu của ngài!” Sau đó, họ thực hiện phụng vụ ‘từ ấy vũ trụ có được cấu trúc, thế giới ẩn giấu được san phẳng và các vị thần ấn định vị trí của mình trong vũ trụ {3}. Những luật lệ và nghi lễ này ràng buộc tất cả mọi người; ngay cả các vị thần cũng phải quan sát bản thân đảm bảo sự sống còn của tạo hóa. Câu chuyện thần thoại thể hiện ý nghĩa bên trong của nền văn minh, theo cách người Babylon nhận thức. Họ biết rất rõ rằng tổ tiên của họ đã chế tạo ra ziggurat nhưng câu chuyện của Enuma Elish đã khai thác niềm tin của họ về việc công trình sáng tạo ấy chỉ có thể được duy trì nếu nó liên quan đến quyền lực thần thánh. Phụng vụ mà họ cử hành và Năm Mới đã có từ trước khi con người ra đời: nó được viết sẵn trong bản tính của vạn vật mà ngay cả các vị thần cũng phải tuân thủ. Thần thoại cũng thể hiện niềm tin rằng Babylon là một nơi linh thiêng, là trung tâm của thế giới và nhà của các vị thần – một khái niệm quan trọng trong hầu hết các hệ thống tôn giáo cổ đại. Ý tưởng về một thành phố thiêng liêng nơi con người dường như có thể chạm tới được quyền lực linh thiêng, cội nguồn của toàn bộ sự tồn tại và tính hiệu lực, đã trở nên quan trọng trong ba tôn giáo nhất thờ Thượng Đế của chúng ta.

Cuối cùng, bằng ý nghĩ sau cùng, Markduk tạo ra con người. Ông chiếm được Kingu (kẻ phối ngẫu vụng về của Tiamat, được bà ta tạo ra sau khi Apsu bị đánh bại), giết hắn và nặn ra người đàn ông đầu tiên bằng cách trộn thần với tro bụi. Các vị thần chứng kiến trong sự kinh ngạc và ngưỡng mộ. Tuy nhiên, có chút hài hước trong câu chuyện thần thoại về nguồn gốc của nhân loại, đó là không lẽ nào đỉnh cao của sự sáng tạo lại bắt nguồn vị thần ngu ngốc và kém cỏi nhất trong số các vị thần. Thế giới tự nhiên, đàn ông và phụ nữ có cùng bản chất và bắt nguồn từ cùng vật chất thần thánh. Thị kiến ngoại giáo ấy lại mang tính nhất thể. Các vị thần không bị tách rời khỏi nhân loại trong một phạm vi hữu thể riêng biệt: Thượng Đế không khác biệt về bản chất với con người. Do đó không cần một sự khải thị đặc biệt của các vị thần hay một bộ luật thần thánh ban xuống mặt đất từ trên cao. Các vị thần và con người cùng chia sẻ những khó khăn, sự khác biệt duy nhất đó là các vị thần quyền năng và bất tử hơn

(Còn tiếp)

Người dịch: Hà Thủy Nguyên

Tác giả: Karen Amstrong

(Trích “A History of God – The 4000 year quest of Judaism, Christianity and Islam)

Mua sách tiếng Anh tại đâyhttps://www.hangcao.info/san-pham/1-history-god-4000-year-quest-judaism-christianity-islam-karen-amstrong/

4000 NĂM LỊCH SỬ CỦA CHÚA – THUỞ BAN ĐẦU (1): VỊ THẦN ĐẦU TIÊN

blogpost thumb

Thuở ban đầu, loài người tạo ra Chúa để lý giải Nguồn gốc ban đầu của vạn vật và Người cai trị thiên đường cũng như mặt đất. Ngài được biểu hiện bởi những hình ảnh và không có đền thờ hay thầy tu phục vụ cho ngài. Ngài cũng được tụng ca trong nghi lễ của loài người. Dần dần, ngài phai nhạt đi trong tâm trí của con người. Ngài trở nên xa cách đến mức họ quyết định rằng họ không muốn ngài nữa. Thậm chí, nhiều người cho rằng ngài đã biến mất.

Đó là một giả thuyết khá phổ biến được lưu truyền bởi Đức cha Wilhelm Schmidt trong cuốn sách “Nguồn gốc ý tưởng về Chúa”, lần đầu được xuất bản vào năm 1912. Cha Schmidt có nhắc đến một tôn giáo nhất thần nguyên thủy xuất hiện trước khi con người bắt đầu thờ phụng các vị thần. Đầu tiên, họ công nhận chỉ một Đấng Tối Cao duy nhất, người đã tạo ra thế giới và cai trị con người từ rất xa. Niềm tin vào Đấng Tối Cao (đôi khi được gọi là Chúa Trời, đấng ngự trị trên các cõi trời) vẫn là một đặc tính của đời sống tín ngưỡng tại nhiều bộ lạc Châu Phi bản địa. Họ khao khát cầu nguyện Chúa, tin rằng ngài đang dõi theo họ từ xa và sẽ trừng phạt những hành vi sai trái của họ. Ấy thế mà ngài lại xa lánh con người trong đời sống hàng ngày: ngài không có nghi lễ thờ cúng đặc biệt và không bao giờ được mô tả với hình dạng cụ thể. Những thổ dân nói rằng ngài không thể biểu hiện và không thể bị dơ bẩn bởi thế giới con người. Một số thì nói rằng ngài đã “đi xa”. Những nhà nhân chủng học cho rằng vị Chúa này đã trở nên xa cách và được tán tụng cáo quá đến mức ngài bị thay thế bởi những linh hồn thấp kém hơn hoặc các vị thần dễ tiếp cận hơn. Qủa nhiên, học thuyết của Schmidt cũng nói vậy, ở thời cổ sơ, Chúa Tối Cao đã bị thay thế bởi những vị thần hấp dẫn hơn trong đền thờ Pagan. Do đó, ban đầu chỉ có vị Chúa Duy Nhất. Nếu vậy thì tôn giáo nhất thần là một trong những ý tưởng sớm nhất của loài người để giải thích những bí ẩn và bi kịch của cuộc sống. Nó cũng chỉ ra vài vấn đề mà thần linh phải đối mặt.

Rất khó để chứng minh điều này theo cách này hay cách khác. Có nhiều giả thuyết về nguồn gốc của tôn giáo. Tuy nhiên, dường như việc tạo ra các vị thần là điều mà con người luôn thực hiện. Khi một ý tưởng tôn giáo cáo chung, tức thì chúng sẽ bị thay thế. Những ý tưởng này biến mất một cách âm thầm như Chúa Trời không kèn không trống. Ngày nay, nhiều người nói rằng Chúa được thờ phụng hàng thế kỷ trước bởi Do Thái giáo, Công giáo và Hồi giáo và dần trở nên xa cách với vai trò là Đức Chúa Trời. Một vài người thì cho rằng ngài đã chết. Tất nhiên, có vẻ như ngài không xuất hiện trong đời sống mà dân cư ngày càng trở nên đông đảo của loài người, đặc biệt là Tây Âu. Họ nói về Chúa – tại – tâm (“God-shaped hole) trong tâm thức họ, nơi mà ngài đã từng ở đó, bởi vì, do không thích hợp nên ngài có lẽ ngài đã ở một chỗ nào đó hác, ngài đóng vai trò cốt yếu trong lịch sử và là một trong những ý tưởng vĩ đại nhất của loài người trong mọi thời đại. Để hiểu được những gì mà chúng ta đang đánh mất – liệu, ngài có thật sự biết mất – chúng ta cần xem xét những gì con người đã thực hiện khi họ bắt đầu thờ phụng Chúa, những gì ngài tượng trưng và được nhận thức. Để làm vậy, chúng ta cần quay lại thời cổ đại ở Trung Đông, nơi ý tưởng về Chúa đã khởi sinh vào khoảng 14.000 năm trước đây.

Một trong những nguyên nhân tại sao tôn giáo có vẻ như không thích hợp ngày nay đó là nhiều người trong số chúng ta không còn có cảm giác về những thứ vô hình tồn tại xung quanh chúng ta. Nền văn hóa của khoa học đã giáo dục chúng ta tập trung chú ý vào thế giới vật lý và hiện hữu ngay trước mắt. Biện pháp quan sát thế giới đã đạt được những thành tựu lớn. Một trong những hậu quả của nó, đó là chúng ta đã loại bỏ những cảm giác về “tinh thần” (spirit) hay “tính thiêng” (holy) vốn đã ăn sâu vào đời sống con người trong các xã hội cổ xưa với nhiều cấp độ và đã từng là một trong những cột trụ thiết yếu của đời sống con người. Ở những hòn đảo ở Polynesia (Nguyên văn là “South Sea Islands” – một cách gọi khác của Polynesia), người ta gọi các năng lượng huyện bí là “mana”, một số nơi khác người ta trỉa nghiệm nó như một thực thể hay một tinh thần, thỉnh thoảng nó được cảm nhận thấy như một dạng nhân điện, tương tự với sóng điện từ hoặc luồng điện. Người ta tin rằng chúng có ở trong thủ lĩnh của bộ lạc, trong cây cối, đá và động vật. Những người Latin trải nghiệm “numina” (tinh thần) trong các khu rừng bí mật; người Ả Rập cảm thấy các “jinn” đều cư trú trên mặt đất. Đương nhiên con người muốn có sự tiếp xúc với dạng thực tại này và muốn điều khiển chúng, nhưng họ đồng thời cũng khao khát nó. Khi họ nhân cách hóa những thế lực vô hình và biến chúng thành các vị thần, liên quan đến gió, mặt trời, biển cả, các vì sao cũng như sở hữu những tính cách con người, họ biểu hiện cảm giác về sự thân thuộc của các lực lượng vô hình và thế giới của họ.

Rudolf Otto, sử gia tôn giáo người Đức, người đã xuất bản cuốn sách quan trọng có tên là “Ý tưởng về Đấng thiêng liêng” (“The Idea of Holy”) vào năm 1917, đã tin rằng cảm thức về “sự thiêng liêng” (numinous) là căn bản của tôn giáo. Nó bắt đầu bất cứ ham muốn giải thích nguồn gốc thế giới hay tìm kiếm một căn cứ cho thái độ đạo đức. Sức mạnh thiêng liêng có thể được con người cảm nhận theo nhiều cách khác nhau – thỉnh thoảng nó kích thích sự thích thú hoang dại và huyên náo; thỉnh thoảng sâu lắng, thỉnh thoảng người ta cảm thấy kinh hoảng, ghê sợ và khuất phục trước sự hiện diện của các thế thực huyền bí vốn có trong mọi khía cạnh của cuộc sống. Khi con người bắt đầu tạo ra các thần thoại và nghi lễ thờ cúng các vị thần, họ không còn tìm kiếm một lời giải thích trực tiếp cho các hiện tượng tự nhiên nữa. Các câu chuyện mang tính biểu tượng, những bức tranh và chạm khắc trong hang động là một cố gắng để biểu thị sự phi thường và liên hệ các bí ẩn với đời sống của họ, trên thực tế, nhà thơ, nghệ sĩ và nhạc sĩ thường bị thôi thức bởi những khát vọng kiểu này cho tới tận ngày nay. Ví dụ như ở thời Palaeolithic, khi nông nghiệp phát triển, tục thờ cúng Nữ thần Mẹ biểu thị một cảm giác rằng sự sinh sản giúp con người chuyển hóa là một điều thiêng liêng. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy những bức tượng được các nghệ sĩ trạm trổ bà ta dưới hình dạng một người đàn bà khỏa thân và mang thai ở khắp Châu Âu, Trung Đông và Ấn Độ. Nữ thần Mẹ vĩ đại vẫn còn là biểu tượng quan trọng trong hàng thế kỷ. Giống như Chúa Trời cổ xưa, bà được đưa vào các đền thờ muộn hơn và gia nhập hàng ngũ cùng với các vị thần cổ xưa hơn. Bà ta thường là một trong số những vị thần quyền lực nhất, thậm chí còn quyền lực hơn Chúa Trời, người vẫn chỉ như một hư ảnh. Bà ta được gọi là Inana tại Sumeria cổ đại, là Ishtar ở Babylon, Anat ở Canaan, Isis ở Ai Cập và Aphrodite ở Hy Lạp, nhiều câu chuyện đáng chú ý đã được tạo ra trong nhiều nền văn hóa để biểu thị vai trò của bà trong đời sống tâm linh của con người. Các thần thoại này không kể theo nghĩa đen mà thường ẩn dụ để mô tả một thực tại quá phức tạp và khó nắm bắt. Những câu truyện bi kịch và gợi cảm về các nữ thần và nam thần đã giúp con người nhận thức được các cảm nhận về những thế lực mạnh mẽ và vô hình xung quanh họ.

(Còn tiếp)

Người dịch: Hà Thủy Nguyên

Tác giả: Karen Amstrong

(Trích “A History of God – The 4000 year quest of Judaism, Christianity and Islam)

Bạn có thể đặt sách tiếng Anh tại đây: https://www.hangcao.info/san-pham/1-history-god-4000-year-quest-judaism-christianity-islam-karen-amstrong/