Say rượu một cõi mù mờ nơi thơ

blogpost thumb

Nhà thơ tìm đến say để gỡ bỏ lớp lý trí. Ái tình mang đến say đau đớn, thuốc phiện mang đến say mộng ảo, nhưng rượu mang đến say cuộc đời. Trong muôn loại say, say rượu có đủ muôn hình vạn trạng, bởi say rượu là một cách để tách khỏi đời sống mà không bước ra khỏi đời sống, trải nghiệm mọi thang bậc của đời sống mà không tầm thường theo nó. Nhà thơ say rượu như một trạng thái tự xóa mình khỏi tồn tại (mà bất thành), còn kẻ tầm thường say để cố thoát khỏi sự tầm thường.

Omar Khayyam trong một lần say giữa chốn hoang vu, hẳn đã vỗ nhịp:

“Một Ổ Bánh Mỳ dưới tán cây

Rượu đầy vò, Thánh Kinh của ta đây

Cùng nhau điệu Hoang Vu ta hát

Chợt thấy Thiên Đàng giữa điệu say.”

Rượu tách nhà thơ khỏi cõi đời cơm áo gạo tiền, giữ nhà thơ chìm đắm trong thế giới tinh thần. Trong cơn say rượu, nhà thơ quên mất những cơn đói vật vã và những vọng tưởng về địa vị trần gian. Nhà thơ không giống như Jesus hay Thích Ca, chối bỏ ngôi báu trần gian vì sẵn biết địa vị tối cao của bậc chứng ngộ giữa muôn trùng vũ trụ, họ biết mình vẫn đang đứng trên mặt đất và mù mờ về vũ trụ. Sự mù mờ ấy khiến họ không cam tâm bước một chân vào cõi đời, nhưng cũng chẳng dám bước chân kia ra ngoài thế giới. Giằng co trong mù mờ là giằng co quằn quại nhất. Rượu khiến nhà thơ an tâm tận hưởng trạng thái mù mờ, tìm được khoái cảm trong cơn quằn quại. Và bởi thế, nhà thơ một phần vừa tự mắc kẹt, một phần trải nghiệm được tận cùng cõi giới mù mờ.

Trong cõi giới mù mờ ấy, sự hòa trộn của bản năng hoang dã và trùng trùng nỗi niềm nhân sinh đã tạo nên một nhân cách hoàn toàn khác của nhà thơ (có lẽ khi ấy không còn là nhà thơ nữa). Trong trạng thái say rượu, cái danh “nhà thơ” biến mất, chỉ còn thơ tồn tại. Thơ cũng là một dạng thức của mù mờ, nơi thực và ảo không thể phân định và không tồn tại đúng với những định danh. Không còn người say, chỉ còn thơ say. Giữa mù mờ ấy, thơ say say thơ là phúc lạc Thiên Đàng – thứ phúc lạc của những thiên thần sa ngã khổ đau lạc lối bỗng chốc nhân thấy phẩm tính Thiên Đàng chưa bao giờ rời bỏ bản thân, bởi bản thân chính là Thiên Đàng. Và bởi thế, sự đau đớn hay niềm vui nơi say thơ thơ say đều đẹp tuyệt.

Rumi – bậc thầy của say đã thơ lên thế này:

“Rượu chúng ta uống chính là máu ta.

Cơ thể ta lên men trong thùng rượu

Ta đánh đổi tất cả để lấy ly rượu này

Ta đánh đổi lý trí để nhấp một ngụm say.”

Sự đánh đổi ấy về bản chất là đánh đổi cuộc đời thế tục vốn được coi là tỉnh táo để lấy được khoảnh khắc bất thường, nếu không muốn nói là điên rồ trong con mắt người thường. Thơ say tương đồng với cơn khủng hoảng tiền tâm linh điên rồ (thuật ngữ dùng của Roberto Assagiolie), khi một người biết mình không thuộc về thế tục nhưng cũng chẳng thuộc về thế giới thần thánh cao với, khi một người chấp chới bay chẳng muốn đậu xuống bất cứ đâu, và trong trạng thái bay ấy – hay còn gọi là say, họ cảm thấy tự do. Bởi thế say rượu trở thành một chứng nghiệm tâm linh mạnh mẽ, khi nhà thơ chưa phải là toàn thể mà chỉ ngắm nhìn và ngất ngây trước toàn thể bằng một con mắt, còn con mắt kia vẫn chứng kiến thế giới thực méo mó và quái đản. Nhà thơ trong trạng thái say rượu đã nhìn thế giới bằng hai con mắt, trong khi người phàm thì đui mù còn các bậc thánh thì chẳng cần dùng tới mắt.

Và bởi thế, nhà thơ đã phát điên:

“Tôi đã chứng kiến những bộ não vĩ đại của thế hệ mình bị hủy hoại trong sự điên rồ, bị bỏ lại trần truồng trong loạn trí,

tự chôn vùi bản thân trên những con phố nhem nhuốc vào buổi bình minh để tìm kiếm sự cứu rỗi đầy phẫn nộ

những thiên thần cuối cùng thiêu rụi mối dây nối thiên đường cổ xưa với cỗ máy lốm đốm sao sáng trong động cơ ban đêm

những người khốn khổ và rách rưới với đôi mắt trống rỗng phì phèo điếu thuốc trong bóng tối siêu nhiên đang trôi chảy như dòng nước mát lạnh trên nóc thành phố theo điệu jazz

những người mở rộng trí não tới Thiên đường dưới sự che chở của Đấng Duy Nhất và thấy các thiên thần của Mohammed chấp chới thắp sáng trên những mái nhà

những người dạo chơi giữa vũ trụ với đôi mắt rạng rỡ với ảo tưởng bi kịch Arkansas và ánh sáng của Blake giữa các học giả thời chiến

những kẻ bị trục xuất khỏi viện hàn lâm vì sự điên rồ và rêu rao khúc du ca khiêu gợi xuyên thấu qua cửa sổ trí não,

những kẻ khỏa thân tự thu mình trong phòng trống, đốt tiền trong thùng rác và lắng nghe nỗi khủng khiếp trên tường,

những kẻ thất bại trong xã hội lề thói quay lại Laredo bằng một điếu cần sa ở New York

những kẻ nuốt lửa trong khách sạn và uống nhựa thông ở Paradie Alley, chết, hay tự thú tội hết đêm này sang đêm khác

với cơn mơ, ma túy, thức tỉnh khỏi ác mộng, rượu và tiếng gà và quả bóng lăn vô tận

những con phố tối tăm rùng rợn phủ đầy mây và ánh sáng trong tâm trí dẫn dắt đến mũi Canada và Paterson, thắp sáng thế giới Thời gian ngưng đọng…”

Allen Ginsberg đã “Tru” trong cơn say cùng với Beat Generation vào một đêm Jazz rượu lẫn lộn ma túy. Tru để gọi bầy – những kẻ say giữa cuộc đời. Tru để giải phóng cơn say. Tru để kéo dài cơn say, bởi chỉ cần mặt trời lên, hơi rượu đã hết, ma túy cũng nhạt, thì đã tỉnh – mà tỉnh ở đây, chẳng qua là thực tại trói buộc trong thế giới hiện đại với dãy phố đông nghịt người cùng với thứ công việc mưu sinh nhàm chán và những mối quan hệ lờ nhờ. Nên say chính là thơ. Con mắt chứng kiến cõi đời ấy mở quá to, đến mức phải tru, tru lên, tru nữa để đi sâu vào vô trí, gượng đóng con mắt ấy lại nhưng nó vẫn nheo nheo thấy vạn vật. Bi kịch! Bạn biết đấy, hãy thương cho những nhà thơ hô hào kẻ khác hãy say, thực ra họ khao khát cơn say tột độ, khi mà hai con mắt đều trừng trừng mở về hai cõi giới mà chẳng thiên lệch bên nào. Lúc ấy, hình thù đổi muôn vạn vẻ, xúc cảm nhào nặn hỗn hợp, thực tại đa chiều trùng biến.

Tôi là một kẻ khó để say, đặc biệt là say rượu. Trong cơn say rượu, tôi chỉ thấy lòng mình lạnh lẽo. Tôi bị kéo tụt về phía u tịch, nơi đau đớn lên ngôi. Trong cơn say tôi hoài nghi tất thảy, kể cả cõi đời và cõi tinh thần. Mở hai con mắt đưa tôi vào một trạng thái tỉnh đáng sợ: đối diện với mọi bóng tối trong mình, mọi nỗi đau mình đi qua, mọi ký ức rõ ràng tái hiện.

“Rút đao chém nước nước vẫn chảy,

Nâng chén tiêu sầu sầu thêm sầu,

Sống giữa cõi đời không đắc ý

Mai này xõa tóc cưỡi thuyền chơi.”

Lý Bạch hiểu cơn say của tôi… à không, tôi đã say cùng cơn say với Lý Bạch, … nên tôi có thể thấy được cái danh ngàn chén không say của Lý Bạch chẳng qua là bởi say quá hóa tỉnh, tỉnh quá hóa đau, đau quá hóa thơ. Các nhà thơ Á Đông luôn đi qua một chặng đường tâm lý trúc trắc này, không còn là khủng hoảng tiền tâm linh, mà là một thứ khủng hoảng của người giời bị đầy xuống trần gian – của con người tâm linh – người giời bỗng chốc bị vứt vào đời sống hữu hạn, nhận thức được hư vô để đắm đuối thêm cuộc hư vô.

 “Giàu sang trước mắt tựa khói mây

Đời nay chỉ cười đời xưa thôi

Người xưa mộ đã ngổn ngang đầy

Xưa nay hiền ngu trơ nấm đất

Tử sinh ai vượt ải này đây

Khuyên người uống rượu chơi cho đã

Cửa tây vầng dương đã xế rồi.”

Nguyễn Du đa sầu đa cảm đó. Sầu ấy, cảm ấy, thiếu rượu làm sao mà chịu đựng nổi. Rượu là chất dẫn để nhà thơ đến gần cuộc đời mà không phải đưa tay che mắt thương xót cho phận người trầm luân đau khổ. Dưới ánh nhìn của rượu, ngay cả khổ đau rồi cũng chỉ là một cuộc chơi.

Mà không chỉ thi tiên, thi thánh Đỗ Phủ cũng tìm say. Người đời mải với cơn say của tiên thi vì bị ám ảnh với câu chuyện Lý Bạch say rượu bỡn Đường Minh Hoàng, lại còn đổi thơ lấy rượu, mà sau này nghe đâu cũng trong một đêm say nhảy xuống ao ôm vầng nguyệt, mà người đời không biết rằng trong thơ của thi thánh cũng sực nức mùi rượu nồng men ủ từ cơn lạ lùng với cuộc đời:

“Một mảnh hoa bay xuân đã phai

Gió bay vạn nẻo khách sầu ai

Tàn hoa cứ ngắm cho lòng thỏa

Say rượu chớ từ kẻo đau hoài

Trên sông nhà nhỏ chim làm tổ

Bên vườn mả cũ ngựa nằm dài

Ngẫm đời phải lẽ nên hành lạc

Cớ gì danh lợi vướng thân đây.”

Cái say của thi thánh khiến ông chỉ còn là thi thôi, không còn là thánh. Này thì Khổng Tử, này thì danh lợi, này thì chí khí tang bồng, chẳng qua cũng chỉ là gió bay hoa rụng. Cơn say rượu  bỗng chốc trở thành thứ duy nhất có ý nghĩa trong cuộc đời – cơn say cùng khoảnh khắc bình an này, để tạm quên vạn sự đang đuổi nhau chốn quan trường khốc liệt. Trận say của Đỗ Phủ, ô kìa lại cùng với trân say của Allen Ginsberg, nhưng Đỗ Phủ không tru lên, chỉ đơn giản là say thôi. Cần gì phải tru gọi bầy khi vạn vật đã cùng ông say trong khoảnh khắc này.

Đấy, cứ thế, hết thế hệ nhà thơ này đến thế hệ khác, từ Tây sang Đông, bao giờ chả có kẻ say. Nhà thơ say nối đuôi nhau, liêu xiêu muôn vẻ, tụng gọi nhau trong  những đêm tịch mịch đơn côi, mời bạn rượu quá cố ngàn đời cùng nâng chén.

“Hồn hỡi hồn!

Nào đâu xứ cô đơn hồn ngự?

Nào đâu nơi lữ thứ hồn đi?

Phóng tâm ta đón hồn về

Đắm say mỗi sớm, điên mê từng chiều

Hồn hỡi hồn!

Hồn bắc nhịp phù kiều trong rượu

Hồn gợi câu “tiến tửu” bên hoa

Hồng tô sắc mặt dương hoà

Tiếng cười rạn cốc, lời ca nghiêng bình

Hồn ngồi với Lưu Linh cuồng khách

Hồn nhập vào Lý Bạch trích tiên

Hồn xoay đổ núi ưu phiền

Đốt tình cháy lửa cho quên Dáng Tình

Hồn nhốt trí phù sinh vào hũ

Hồn khép tay thế sự trong vò

Gào to một tiếng: ô hô!

Của ai này những cơ đồ không tên!”

Một thiên “Thần tụng” của Đinh Hùng ấy mà. Trong cuộc ngả nghiêng, Đinh Hùng nhập vào cõi khác, nơi những tiên thánh thơ ca ha hả cười trong cơn khoái cảm quằn quại giữa mù mờ. Có lần uống rượu mãi chẳng say, tôi đứng giữa bốn bề gió lộng trên cầu Long Biên, ngâm thiên “Thần tụng”, lúc ấy mới cảm giác thấy cơn say. Hóa ra say là say thơ chứ nào đâu say rượu.

Lại quay về cái sự không thể say của tôi. Đồ chừng tại bởi tôi quá thảm hại không bứt mình ra khỏi tục lụy. Mà có khi tại bởi tôi không đủ quằn quại để đạt được cơn khoái cảm trong cõi mù mờ. Lạc quan hơn, có lẽ vì tôi sống một đời sống say toàn bộ, chưa bao giờ tỉnh, nên làm gì còn tồn tại cơn say giữa một đời sống say miên viễn. Đây có thể chỉ là một trạng thái tự sướng.

Hôm nay tôi lại uống chén rượu không thể say mà tâm tư thì vạn vạn lớp đồng hiện. Ngôn ngữ tù túng mà ý lại triền miên, chẳng khác nào cố rót cả thùng rượu to vào một ly nhỏ (mượn tứ của Rumi ấy mà), thế thì cơn say cũng thế, sao phải trói mình vào trạng thái say rượu của cổ nhân, có khi từ lâu tôi đã có cơn say của chính mình.

“Rượu này a…say sao mà

Này trời a … phố nghiêng đèn đổ

Ta này a… nhạt mãi chẳng thành cơn

Ta điên a… cười mặt nạ mất màu”

Thơ tôi đấy! Ngàn chén không say thơ vậy thôi!

Hà Thủy Nguyên

*Các bài thơ trong bài đều do Hà Thủy Nguyên dịch.

*Tranh minh họa của Y Xuy Ngũ Nguyệt

Chuyển đổi hay Khải huyền (tản mạn trong những ngày đại dịch Covid-19)

blogpost thumb

Khải huyền không phải một sự chấm dứt. Khải huyền không phải sự bắt đầu. Đó là cuộc tấn công mang tính cưỡng chế của tự nhiên (hoặc các vị thần, hoặc Thiên Chúa, hoặc bạn thích gọi là cái gì thì nó là cái ấy) với mục đích rõ rệt: Có chuyển đổi đang diễn ra đồng bộ từ tinh thần đến vật chất, và nếu chúng ta cố níu kéo đời sống cũ kỹ đã được mặc định thành truyền thống, thành trật tự… thì tự nhiên buộc phải giáng những đòn mạnh mẽ. Và đáng lý thời đại chuyển đổi trong hài hòa, thì bấy giờ lại chuyển đổi khốc liệt. Khải huyền là sự chuyển đổi khốc liệt tới mức con người run sợ.

Con người run sợ bởi họ không sẵn sàng. Tại sao phải thay đổi, khi họ đang rủng rỉnh tiền bạc, đang được chăn êm đệm ấm, đang tự đắc với những suy nghĩ điên rồ được lây lan chỉ để mua vài cuộc vui trần thế…? Những cảnh báo của môi trường, của xã hội lướt qua tai họ và họ cố tình lờ đi. Nếu những cảnh báo quá nhiều, họ sẽ lý luận và bao biện bằng các lý thuyết, các mô hình. Hay tệ hơn, họ tặc lưỡi: “Cứ vui đi! Sợ gì! Quan trọng là mình vui trong từng khoảnh khắc”. Nhưng tất cả chuỗi ngày phè phỡn và phởn phơ sẽ chấm dứt khi khải huyền rơi trúng đầu. Mọi sở hữu đều là hư vô, mọi khoái lạc không cứu rỗi được con người khỏi cơn run sợ.

Những lý lẽ này dường như quá cũ kỹ. Người xa xưa truyền lại rất nhiều kịch bản tận thế: đại hồng thủy, dịch bệnh, núi lửa, động đất… Các nhà văn khoa học viễn tưởng cũng dày công xây dựng nhiều kịch bản hậu tận thế, khi người còn sống sót xây dựng lại thế giới từ tàn dư. Nhưng lịch sử loài người dường như không vận hành theo cách ấy.

Khải huyền và ám ảnh tận thế…

Những đại nạn diễn ra với con người có thể mang tính cục bộ ở một vài địa phương.

Trong xã hội cổ đại, với dân số thưa thớt và co cụm, thiếu tương tác với các nhóm dân cư xa xôi khác, thì một đại nạn xảy ra cũng có thể dẫn đến tận thế.

Một trận lũ kinh hoàng nhấn chìm một thành bang có thể đã là đại hồng thủy. Một dịch bệnh lạ xảy đến với những bộ lạc châu Mỹ xa xôi vốn thiếu ý thức về vệ sinh và không có các phương pháp y học thích hợp cũng chính là ngày tận thế của các thổ dân. Động đất và phun trào núi lửa ở một đô thành xây dựng trên nền đất chưa ổn định, gây ra cái chết đột ngột của toàn bộ hoàng gia và người dân, tận thế cũng đã từng diễn ra theo cách ấy. Những đại nạn trầm trọng trong cộng đồng, qua lớp khúc xạ của tâm thức nguyên thủy, bỗng nhiên trở thành sự hủy diệt mà con người phải đón nhận bởi sự phẫn nộ của các vị thần hay Thiên Chúa. Kẻ được lợi là những tư tế của các vị thần hay Thiên Chúa. Và con người chỉ biết níu bám niềm tin vào các thế lực siêu hình ấy, hi vọng rằng mình sẽ không phải trải qua cơn run sợ hãi hùng trước khải huyền, để họ lại tiếp tục vui lòng với trật tự cũ của mình. Cho tới khi, đại nạn lại xảy đến, và có lẽ họ sẽ đổ lỗi cho niềm tin tổ tông mình đã chọn, rồi chạy tới bấu víu một niềm tin mới.

Đó là cách con người chúng ta đối phó với cơn ám ảnh tận thế trong những kỷ nguyên bị chia cắt và mông muội.

Đại nạn có thể xảy đến với một địa bàn rộng lớn khi con người mở rộng tương tác.

Dịch hạch là đại dịch đầu tiên trên thế giới có mức độ ảnh hưởng lớn trên lục địa Á – Âu. Vó ngựa của quân Mông Cổ đã đưa dịch hạch – Cái Chết Đen từ Trung Quốc, đến Trung Đông, Bắc Phi và Châu Âu. Ước tính, đại dịch này đã giết chết gần 60% dân số thế giới bấy giờ trong suốt thế kỷ 14. Cái Chết Đen còn nhiều lần quay lại Châu Âu cho đến thế kỷ 17. Nhưng Cái Chết Đen không được coi là tận thế. Bởi vì khi một đại nạn xảy đến trên diện rộng tới vậy, nó đã thách thức dân cư của nhiều nền văn minh, và việc tìm ra thuốc chữa hay biện pháp phòng ngừa liên tục được thử nghiệm. Kết quả xử lý triệt để giải quyết dịch bệnh là điều khả thi hơn so với một địa phương riêng biệt phải hứng chịu. “Sự cứu rỗi” không thuộc độc quyền của một tôn giáo hay một chính quyền, mà được lan truyền qua tri thức. Ở ý nghĩa khải huyền, Cái Chết Đen chính là chung cuộc cho đêm trường Trung Cổ, mở cửa cho ánh sáng tri thức hé lộ. Sau cơn kinh hoàng Cái Chết Đen, Châu Âu bước vào thời kỳ Phục Hưng, thời kỳ lên ngôi của tri thức, nền tảng của những thành tựu vĩ đại của thế giới hiện đại. Cái Chết Đen dù không được coi là tận thế, nhưng nó chính là khải huyền cho Châu Âu.

Nếu không có Cái Chết Đen, châu Âu sẽ thế nào? Tri thức sẽ tiếp tục bị chìm lấp trong bóng tối? Đã nhiều lần trong suốt sự cai trị của Công giáo tại Châu Âu, nhu cầu tri thức được đòi hỏi bởi chính các quý tộc và thầy tu, nhưng sự thay đổi không diễn ra. Cái Chết Đen là một cưỡng chế man rợ để chấm dứt thể chế man rợ được vận hành bởi những kẻ man rợ.

Tự nhiên sẽ vui khi gây ra cái chết của nhiều con người ư? Tự nhiên chỉ làm việc của mình. Nếu con người không thay đổi, đại nạn sẽ còn tiếp diễn. Nếu con người thuở ấy không chấp nhận để tri thức dẫn hướng sinh mệnh của họ thay vì quyền lực mờ mịt của Thiên Chúa, thì đại dịch sẽ tiếp tục tận diệt châu Âu.

Câu hỏi là: khi nào thì thế giới đến ngưỡng phải chuyển đổi? Khoan hẵng, ta cần trả lời một câu hỏi khác.

Chiến tranh thế giới thứ II liệu có phải là một cuộc khải huyền? Những tên độc tài điên rồ cai trị đám đông người dân bị thôi miên bởi lý tưởng dân tộc xông vào giết chóc đến chết. Tri thức trở thành tay sai cho ác quỷ, nghệ thuật chẳng làm được gì ngoài rên xiết, triết học rơi tõm vào thứ hiện sinh hư vô. Sau tất cả, vẫn những tên độc tài điên rồ, vẫn đám đông dân chúng đầy mặc cảm và kỳ thị… mọi thứ vẫn vậy. Chiến tranh thế giới thêm nhiều lần nữa, con người vẫn không tỉnh ngộ, mà sẽ chỉ tiếp tục dùng chiến tranh để giải quyết chiến tranh. Không thể thuyết phục những tên độc tài về hòa bình, bởi vì hòa bình không thỏa mãn lòng tham của cộng đồng mà hắn cai trị. Chiến tranh chỉ kết thúc, hoặc khi có kẻ thắng người bại, hoặc khi chiến tranh tốn kém nhiều hơn những gì thu về. Không có bài học nào loài người có thể rút ra từ những cuộc chiến. Chỉ rải rác các cá nhân đơn lẻ dần dần ngộ được một điều rằng: tốt nhất đừng để những tên độc tài dắt mũi.

Như vậy thì thế giới không đến ngưỡng chuyển đổi khi một quốc gia này giàu có vượt trội hơn quốc gia khác và quốc gia khác phải đánh chiếm để cướp bóc.

Sự chuyển đổi bắt đầu khi có những ý tưởng đột phá giúp cộng đồng con người vận hành theo hướng tốt hơn, tối ưu hơn, nhân văn hơn. Nếu cộng đồng cho phép ý tưởng ấy được bén rễ và thử nghiệm, hệ thống sẽ tự chuyển đổi. Nếu cộng đồng trì trệ cản trở, thế thì sự cưỡng chế có thể diễn ra theo nhiều kịch bản khác nhau. Đây là một bí ẩn siêu hình không lời giải. Không thể giải thích điều này một cách khoa học và lý trí, chỉ có thể trực nhận.

Đại dịch COVID-19 như cuộc khải huyền mới…

Thế giới của chúng ta ngày nay cũng đang phải trải qua một cuộc cưỡng chế của tự nhiên: Chuyển đổi hay không chuyển đổi, hãy chọn đi!

Đại dịch Covid-19 là sự cưỡng chế của tự nhiên. Đó là khải huyền!

Đại dịch hé lộ cho chúng ta biết rằng dường như nền học thuật được coi là chính thống của phương Tây đang có vấn đề. Chính phủ các nước phương Tây đã đặt niềm tin không phải vào toàn bộ giới học thuật mà chỉ một vài thế lực học thuật thân tín, chẳng khác nào sự mê tín của nhà thờ trong thế kỷ 14, và chắc chắn chẳng thể ngăn ngừa Cái Chết Đen theo lối ấy. Nền học thuật ấy đa chiều nhưng lại chỉ một vài tiếng nói có quyền lực. Cách thức vận hành giới chuyên gia đó cần phải được thay đổi.

Cũng hé lộ cho chúng ta thấy rằng hóa ra nhiều thành phần của nền kinh tế không mang lại giá trị thực tiễn mà chỉ tiềm ẩn vô số nguy cơ. Có ý nghĩa gì những trận đua xe  F1, những lễ hội, những cuộc trình diễn thời trang, những trận bóng, những thành phố du lịch phù phiếm… Có ý nghĩa gì những vật dụng thời trang đắt tiền? Bao nhiêu tiền chúng ta đã lãng phí cho đủ loại nhu cầu không thực sự cần thiết cho sự sống và sự bồi đắp tinh thần?

Và Chúa hay thần thánh không cứu giúp con người khỏi nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh, thế thì tụ tập cầu cúng đông người, phỏng có ích gì? À, có thể những đám đông ấy đang giúp cho tự nhiên thành toàn sứ mệnh cưỡng chế của mình.

Chúng ta nhận ra rằng thế giới hóa ra có thể vận hành theo cách khác. Học và làm việc online, xem hòa nhạc online, mua bán online…có hề gì nhỉ! Tại sao hệ thống xã hội trước đây không chính thống hóa cách vận hành này? Họ có đủ những lập luận để ngăn cản, rằng con người sẽ thiếu tương tác khi làm việc online, rằng online có nhiều hạn chế… Và giờ đây, khi dịch bệnh đến, họ buộc phải online hóa các tác vụ, thì họ lúng túng không thể quản lý. Lỗi không phải do những nhược điểm của hệ thống online, mà lỗi tại họ quá quen với nhịp độ có sẵn tới mức chưa bao giờ chuẩn bị cho hệ thống mới.

Nếu bạn quan sát bản thân mình thật kỹ trong những ngày đóng cửa ở nhà phòng ngừa dịch bệnh, bạn sẽ thấy hóa ra cuộc đời trước đây của mình là một chuỗi ngày lãng phí. Bao nhiêu lần chúng ta ra đường vì thật sự thấy cần thiết? Bao nhiêu người chúng ta tương tác hàng ngày là những người chúng ta cần phải trò chuyện và gặp gỡ? Bao nhiêu câu chuyện trong đó đáng để nói? Bao nhiêu bữa tiệc tùng đáng để tham gia? Rốt cuộc, chúng ta đã làm gì cho cuộc đời của mình?

Và hãy nhìn những con phố tĩnh lặng, sạch sẽ mà thường ngày chẳng mấy khi ta được tản bộ. Bạn có tự hỏi chúng ta đã làm gì với thành phố nơi chúng ta sống? Điên rồ lao theo một trật tự không tối ưu, một trật tự chỉ mang đến sự tiêu tốn tài nguyên và ô nhiễm môi trường.

Chiêm tinh học và các nhà tâm linh có nhiều lý giải khác nhau về sự chuyển đổi này, nhưng đều thống nhất với nhau ở một điểm: chúng ta đang bước vào thời đại mới. Từ những năm 1960s, những tiên đoán về sự chuyển dịch sang  Kỷ nguyên Bảo Bình đã được đưa ra. Cứ khoảng hai ngàn năm, một kỷ nguyên mới lại bắt đầu theo trật tự của vòng hoàng đạo. Trước kỷ nguyên Bảo Bình, nhân loại ở trong kỷ nguyên Song Ngư, kỷ nguyên của những niềm tin tập thể và sự tương tác mang tính cảm xúc. Sự rung động của kỷ nguyên Song Ngư đã mang đến cho nhân loại những tôn giáo lớn, những vần thơ bay bổng lãng mạn, và cũng mang đến cho nhân loại những kẻ vĩ cuồng dẫn dắt đám đông mông muội tàn phá thế giới. Sự rung động của kỷ nguyên Bảo Bình có lẽ đã mang đến nhiều chuyển đổi đang biểu hiện trên thế giới giao thoa hiện nay.

Khi thế giới hoàn toàn rung động theo thiết lập của chòm sao Bảo Bình, con người sẽ cá nhân hơn và đòi hỏi nhiều không gian cá nhân hơn, trong đó, khoa học công nghệ góp phần chủ chốt để phục vụ sự cá nhân hóa này. Những giá trị tập thể và sự gắn kết tập thể buộc phải đặt trên bàn cân giá trị. Bao nhiêu trong số các hoạt động tập thể là cần thiết với cá nhân? Bảo Bình cũng là chòm sao không ưa thích xung đột và chiến tranh, mà thích ổn định và hài hòa, nên thay vì hung hăng gây chiến, Bảo Bình sẽ chứng minh bản thân bằng sự vượt trội trong ý tưởng sáng tạo và khoa học công nghệ.

Sự chuyển đổi này đã manh nha nhiều thập kỷ với tuyên ngôn của nhiều nhà tư tưởng, nghệ sĩ, ca ngợi tự do cá nhân và lối sống tâm linh dựa trên giác ngộ thay vì dựa trên niềm tin mù quáng, thậm chí đề xuất những hướng đi mới cho trật tự xã hội để con người có cơ hội được cá nhân hơn, phát minh nhiều công cụ để gia tăng khả năng tiếp cận thông tin cũng như khả năng biểu hiện của mỗi cá nhân. Nhưng con đường chuyển đổi ấy không êm ả.

Những yếu tố của kỷ nguyên Bảo Bình manh nha trong suốt kỷ nguyên Song Ngư, nhưng chỉ tồn tại trong bóng tối và yếu thế. Cái Chết Đen dù đã thay đổi Châu Âu, nhưng không mang lại sự thay đổi triệt để, vì xã hội ngay lập tức quay trở lại đồng hóa các cá nhân trở thành công cụ của những niềm tin tập thể mới. Từ đó đến hết thiên niên kỷ trước, ta chỉ thấy biết bao thế hệ con người cá nhân vùng vẫy đòi quyền của mình nhưng ta không thấy họ bước ra ánh sáng. Sự vùng vẫy ấy khiến họ bị phân mảnh, bị rơi vào các thái cực điên rồ của tâm lý, và các nhà phê bình những tưởng đó là sự tiến bộ trong tâm thức của con người. Không có tiến bộ trong đó, chỉ có nỗi đau.

Và kể cả khi bước sang thế kỷ 21, những ý tưởng mới được chấp nhận, được thử nghiệm thì rào cản lớn nhất lại đến từ chính con người. Con người không dễ dàng gì quen với cái mới. Họ có thể nắm giữ công nghệ hiện đại trong tay, nhưng tư duy của họ vẫn ở thời mông muội, họ vẫn đang rung động theo thiết lập cũ. Họ tin rằng họ là con người khi ở trong tập thể và hoạt động theo cách vận hành của đại đa số. Bên ngoài những thứ đó, dường như họ không còn là họ nữa. Thứ mà họ tin là chính họ thực ra không phải họ, mà chỉ là chồng chất các ký ức được cài đặt trong tâm trí họ.

Sự cưỡng chế xảy ra để đưa con người vào một trật tự trong đó chúng ta có thể tận hưởng rung động của kỷ nguyên Bảo Bình. Dịch bệnh này giật chúng ta khỏi những cuộc tụ tập mang tính tập thể mà chúng ta đang quen thuộc, nhốt chúng ta trong không gian riêng biệt, để ta phải tự đối diện với cá nhân ta, và tự xử lý các vấn đề của cá nhân. Mọi công cụ đã có sẵn để phục vụ nhu cầu cá nhân, còn chúng ta có biết tận dụng hay không thì lại là vấn đề khác.

So với nhiều cuộc khải huyền khác, COVID-19 đã được tự nhiên sắp đặt một cách tinh vi và có chiến lược. Khởi điểm ở một thành phố công nghiệp và du lịch của Trung Quốc, nơi con người vận hành thuần túy theo trật tự tập thể. Sự cảnh báo đã được đưa ra từ sớm, nhưng chính quyền Trung Quốc đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích cá nhân của từng người dân, và hậu quả là sự bùng phát. Tiếp tục, dịch bệnh lây lan sang Nhật và đặc biệt là Hàn Quốc. Tại Hàn Quốc, dịch bệnh bùng phát trong một giáo phái mà người ta đề cao sự tụ tập để thực hiện các nghi lễ cuồng tín hơn sự tự giác ngộ. Và rồi Iran, lại một quốc gia cuồng tín và coi thường giá trị cá nhân khác. Sau đó là đến thế giới Âu Mỹ với sự tự mãn vào hệ thống y khoa và đang kiếm bộn tiền nhờ những hoạt động tụ tập hạng sang từ giải trí đến tôn giáo. Thay vì cảnh giác, thế giới Âu Mỹ vẫn tiếp tục những cơn tụ tập điên rồ của những tập thể thừa mứa tiền bạc và đặt lòng tin vào hệ thống học thuật độc quyền. Giờ đây đã là cả thế giới. Bất cứ nơi đâu con người còn đeo bám niềm tin rằng chúng ta cần phải tụ tập để thực hiện một hoạt động nào đó thì sự lây nhiễm diễn ra.

Chúng ta nên lấy làm may mắn khi dịch bệnh COVID-19 không diễn ra trong thời gian chiến tranh, bởi vì nếu dịch bệnh diễn ra trong thời chiến thì chúng ta sẽ hoàn toàn không thể kiểm soát và hệ lụy của nó chắc chắn kéo dài nhiều thế kỷ giống như trường hợp Cái Chết Đen.

Nếu sau dịch bệnh, con người vẫn cố chấp không chịu học hỏi, thì có lẽ một đại nạn khác lại tiếp tục diễn ra cho đến khi con người ý thức được rằng mình cần phải thay đổi từ cốt lõi bên trong. Hoặc tệ theo hướng này: tự COVID-19 sẽ biến đổi thành phiên bản khác lợi hại hơn để tiếp tục duy trì tình trạng “giam cầm” này với nhân loại.

Thế đấy, sến súa đau thương không ích gì! Nương theo thời thế, trục lợi kiếm thêm vài đồng bạc không ích gì! Lạc quan tếu cũng chẳng ích gì! Sự công kích cá nhân và gây hấn, đổ tội cho nhau, kì thị nhau, lại càng không ích gì!

Điều quan trọng là chuyển đổi. Chuyển đổi từ bên trong đến bên ngoài, từ tinh thần đến thể xác, từ cá nhân đến xã hội.

Dịch bệnh COVID-19 là kịch bản khải huyền mềm dẻo mà tự nhiên đã sắp sẵn cho chúng ta. Hãy tưởng tượng những kịch bản tệ hại hơn! Biến đổi khí hậu diện rộng trên toàn thế giới gây ra thời tiết quái gở liên miên. Hay ô nhiễm môi trường gây ra khói bụi trong toàn bộ bầu khí quyển? Hay tệ hơn nữa là những cơn địa chấn lớn làm sụp đổ hàng loạt các thành phố?… Với những kịch bản như vậy, sức người dường như khó có thể ngăn cản hơn. Nhưng có thể, đó là kịch bản cho kỷ nguyên khác với các đặc tính khác và để mang tới sự chuyển đổi khác. Và cũng có thể, con người sẽ phải đối mặt với sự tận thế thực sự khi Trái Đất và hệ mặt trời không còn vận hành theo cách này, nhưng hiện nay chưa tới thời điểm chúng ta phải thực hiện sự chuyển đổi lớn đến thế.

Dịch bệnh diễn ra, bởi vì nó phải diễn ra, không thể oán trách, không thể đổ lỗi, không thể nguyện cầu cứu rỗi.

Hà Thủy Nguyên

Đọc thêm về Kỷ nguyên Bảo Bình

Nhớ#3: Trống rỗng

blogpost thumb

Trống rỗng…là khi đã quá mệt mỏi và chán nản nhưng vẫn phải tiếp tục bước đi. Đây là một định nghĩa hoàn toàn vô nghĩa. Từ “trống rỗng” chẳng có nội hàm hoặc nội hàm của nó quá trống rỗng để gọi tên.

Thực ra thì khi tôi đã trải qua cả trăm ngàn lần trống rỗng. Đơn giản bởi vì tâm tư của tôi không đặt vào cuộc sống này dù hiện thực tôi đang sống vẫn diễn ra.

Tôi chứng kiến khoảnh khắc tôi chào đời với tràng khóc trống rỗng. Tôi chứng kiến tôi cười nắc nẻ trước mọi sự với trạng thái trống rỗng toàn bộ.

Tôi chứng kiến tôi nhìn sâu vào trống rỗng để thấy mình thuần túy là trống rỗng để rồi viết ra những câu chữ trống rỗng cho ai đó cũng đang trống rỗng như tôi đọc. Đọc rồi quên, viết rồi quên, thế thôi! Trống rỗng mà!

Người đời sợ sự trống rỗng, vì nó lôi người ta khỏi cơn mê đắm cuộc sống, ngăn chặn động lực dẫn đến hạnh phúc và thành công. Nhưng nhận thức về trống rỗng có lẽ là cần thiết, bởi một khi ta thấy trống rỗng tức là việc đó nên được dừng lại, tức là ta đã đi quá xa khỏi bản thân, là giữa mình và mình chẳng còn gì ngoài khoảng trống mênh mang chẳng thể xích gần nhau.

Tôi chọn cách mênh mang trong khoảng trống ấy, mặc cho tâm tư của mình trôi dạt về phía mình. Chứng kiến sự trôi dạt ấy là khoảnh khắc trống rỗng gần như không tồn tại. Lúc này, tôi bị chập cheng, như đứa trẻ hi ha giỡn đùa thế giới, và thấy cuộc sống bất chợt như những vũ điệu liên miên bất tận. Cuộc đời đẹp lên trong mắt tôi theo cách đó.

Tiếc cho ai chưa từng trống rỗng, buồn cho ai chưa từng trôi dạt…

Và bóng chiều đang lướt qua ngoài cửa sổ. Thời gian đi trong một tiếng thở dài.

Hà Thủy Nguyên

*Tranh của Dali

Nhớ #1: Thông cảm

blogpost thumb

Thông cảm với kẻ nào đó bạc nhược, kém cỏi và thiếu nhân tính là sự lãng phí lớn. Lý lẽ về sự thông cảm thường được viện dẫn để thoả hiệp với sự tồi tệ, chứ không phải để khiến mọi sự trở nên tốt đẹp.

Những gì tôi nhớ về sự tha thứ của mình dành cho những người thô lỗ, nhỏ mọn, tham lam, ích kỷ… đó là họ sẽ tiếp tục thô lỗ, nhỏ mọn, tham lam, ích kỷ… Họ không tốt đẹp hơn, họ trở nên tệ đi và kéo cả tôi trở nên đồng hạng với họ. Dần dần tất cả trở thành một đống bầy nhầy những thứ được gọi là cộng đồng. Tại sao ta phải tự vấy bẩn mình đến thế?

Đừng nhầm Hoà với Lẫn Lộn. Hoà là khi những gì tốt đẹp nhất được đặt cạnh nhau trong sự hợp lý. Lẫn Lộn là mớ rác rưởi mà ở trong đó thì cả vàng ngọc cũng trở thành rác rưởi. Thông cảm chỉ dành cho những điều tốt đẹp, không nên dành cho rác rưởi. Rác rưởi là dành để dọn dẹp. Nếu không dọn dẹp được thì nên tránh xa.

Cuộc đời thì ngắn ngủi, danh lợi lại hư vô, chi bằng ta để mình hoà hợp với cao vời vô cùng vô hạn, sao phải chịu kiếp lẫn lộn trong nhớp nhúa để nhận lấy vài bạc cắc, để cuối cùng cũng chỉ là cọng rác đợi ngày tái chế rồi vẫn trở lại làm rác.

Một cái chau mày để nhắc rằng mình sẽ không Lẫn Lộn. Một cơn cáu giận để biết mình vẫn là mình. Một sự vứt bỏ để mình không thành rác.

Hà Thủy Nguyên

Ý thơ

blogpost thumb

Tôi muốn một bài thơ nho nhỏ
Thế gian đà trôi tuột tận đâu
Đêm khuya và lòng thôi cũng nhàu
Thời gian chẳng qua mau…

Nguồn cơn vương víu nơi gió chảy
Chân trời còn vệt dấu heo may
Câu thơ buồn buồn bèn nhún nhảy
Thoáng một kẻ say đã nghiêng sầu

Trang sách vẩn vơ tay người miết
Vũ trụ hồ như chết bên cầu
Con sông vừa động tình sóng dội
Ý thơ chìm nổi chẳng trôi mau

Thành phố đã vào mùa thơ nhỉ
Còn tôi cũng vào mùa ngẩn ngơ
Hồn tôi lướt nhẹ đêm sóng động
Thân tôi say khướt lả đời mơ

Hà Thủy Nguyên

*Tranh: The Concert- Marc Chagall

Bước hềnh hệch

blogpost thumb

“Chúng ta mua những thứ chúng ta không cần, bằng tiền chúng ta không có, để làm vừa lòng những người chúng ta không thích.” (Trích “Fight Club”)

Bước đi lạnh lẽo hai bờ gió dãy nhà chót vót cọc nhọn xuyên thủng khói mây
Thiên thần trói đôi cánh góc bàn chật những con số dâng dầy
Nở nụ cười điên điên loạn loạn cơn tâm thần vàng ệch một góc trăng
Hềnh hệch, hềnh hệch, hềnh hệch…
Cười cho qua một kiếp tù đầy vẫn tưởng mình leo tới đỉnh tháp ngất ngây
Đỉnh tháp là cái chết linh hồn không cứu rỗi

Bước lên cao, bước lên cao, lại bước lên cao
Bước lên đâu nữa nhỉ?
Chút khoe mẽ đời hoan hoan hỉ hỉ
Hềnh hệch, hềnh hệch, hềnh hệch
Tên tù nhân điên loạn đu dây vắt vẻo nóc nhà vun vút
Tung hứng hàng hàng con số
Tới mồ ma

Bước vào cuộc mưu sinh cúi mình chờ rớt rơi bạc đồng cặn bữa tiệc thừa lãnh chúa chán chê
Hềnh hệch, hềnh hệch, hềnh hệch
Tên tù nhân nuốt vội nguyện đời nô lệ
Nốc rượu cho tê chẳng đớn đau
Chút rượu thừa từ bàn lãnh chúa
Hềnh hệch lên đi, hềnh hệch lên đi
Nhà tù rôm rả cười đùa
Hềnh hệch cho văng linh hồn vãi vương cống rãnh
Xác thân lết chân đỉnh tháp
Linh hồn đã xả trôi

Bước khỏi góc thu mình chiều u uất hoang vu
Não phân hủy chỉ còn xương sọ rỗng
Bộ xương nhe răng há miệng
Hềnh hệch, hềnh hệch, hềnh hệch
Nấm mồ nhốt chặt đôi cánh đã quên
Bầy xương đi trắng phố vẩy vung
Chiều cuối năm đã ngập mùi xác thối
Bay cao hơn vun vút nóc nhà

Hà Thủy Nguyên

Chân tâm chi dụng - Trần Thánh Tông

blogpost thumb

Chân tâm được dụng
Sáng suốt lặng lẽ
Không đi không đến
Chẳng bớt chẳng thêm
Được nhiều được ít
Mặc thuận mặc nghịch
Như hạc cưỡi mây
Như tường vững chãi
Nhẹ như cọng lông
Nặng như tảng đá
Tự tại tâm sáng
Vằng vặc lòng trung
Không thể đếm đo,
Chẳng hề lưu dấu
Nay trẫm vì người
Tỏ bày gan ruột

Bản Hán Việt:

Chân tâm chi dụng,
Tinh tinh tịch tịch.
Vô khứ vô lai,
Vô tổn vô ích.
Nhập đại nhập tiểu,
Nhậm thuận nhậm nghịch.
Động như vân hạc,
Tĩnh như tường bích.
Kỳ khinh như mao,
Kỳ trọng như thạch.
Sái sái nhi tịnh,
Khoả khoả nhi xích.
Bất khả đạc lượng,
Toàn vô tung tích.
Kim nhật vị quân,
Phân minh phẫu phách.

Tạp thi kỳ 1 - Tào Phi

blogpost thumb

Hà Thủy Nguyên dịch

Miên man đêm thu lặng
Lành lạnh gió bắc hàn
Trở mình không chợp mắt
Choàng áo bước lang thang
Loanh quanh đi lại đứng
Sương trắng ướt áo rồi.
Cúi nhìn sóng nước lạnh
Ngẩng xem trăng sáng soi
Thiên Hán về tây cả
Tam Ngũ chiếu giữa trời
Côn trùng buồn rỉ rả
Cô nhạn liệng về nam
Rầu rầu cơn buồn thảm
Dằng dặc nhớ quê nhà
Nguyện tung bay đôi cánh
Nào đâu cầu vượt sông
Nương gió dài than thở
Đứt lìa lòng đau thương.

 

Bản phiên âm  Hán Việt:

Mạn mạn thu dạ trường,
Liệt liệt bắc phong lương.
Triển chuyển bất năng mị,
Phi y khởi bàng hoàng.
Bàng hoàng hốt dĩ cửu,
Bạch lộ triêm ngã thường.
Phủ thị thanh thuỷ ba,
Ngưỡng khán minh nguyệt quang.
Thiên Hán hồi tây lưu,
Tam Ngũ chính tung hoành.
Thảo trùng minh hà bi,
Cô nhạn độc nam tường.
Uất uất đa bi tư,
Miên miên tư cố hương.
Nguyện phi an đắc dực,
Dục tế hà vô lương.
Hướng phong trường thán tức,
Đoạn tuyệt ngã trung trường.

 

Ra khỏi cuồn cuộn đại dương để là giọt nước nhẹ nhàng - Walt Whitman

blogpost thumb

Hà Thủy Nguyên dịch

1
Ra khỏi cuồn cuộn đại dương để là giọt nước nhẹ nhàng
Thầm thì, tôi yêu em, tự lâu trước khi tôi nhắm mắt
Tôi đã đi qua chặng dài vô tận để chạm tới em
Vì tôi không thể chết cho đến ngày gặp gỡ
Vì tôi e một ngày tôi sẽ đánh mất em

2.
(Giờ đây ta gặp gỡ an lành
Yên bình trở lại đại dương mênh mang tình tôi
Tôi là phần bé nhỏ của đại dương, em yêu, nơi ta chẳng phân lìa
Ô kìa tuyệt diệu, gắn kết tất thảy, hoàn hảo biết bao!
Nhưng với tôi, với em, biển bất tuân nào chia cách nổi,
Dù trong khắc giờ chúng ta đối lập, nhưng đối lập được mấy nỗi đâu
Đừng nóng vội, chỉ chút cách xa thôi – để biết em tôi cúi chào gió, biển cả và đất liền,
Ngày ngày mặt trời xuống biển, em yêu, chỉ bởi em thôi.)

*Nguyên tác:

“Out of the rolling ocean the crowd came a drop gently to me”

1.
Out of the rolling ocean the crowd came a drop gently to me,
Whispering, I love you, before long I die,
I have travell’d a long way merely to look on you to touch you,
For I could not die till I once look’d on you,
For I fear’d I might afterward lose you.

2.
(Now we have met, we have look’d, we are safe,
Return in peace to the ocean my love,
I too am part of that ocean, my love, we are not so much separated,
Behold the great rondure, the cohesion of all, how perfect!
But as for me, for you, the irresistible sea is to separate us,
As for an hour carrying us diverse, yet cannot carry us diverse forever;
Be not impatient – a little space – know you I salute the air, the ocean and the land,
Every day at sundown for your dear sake, my love.)

* Tranh minh họa Aivazovsky

Yên ca hành kỳ 2: Biệt nhật - Tào Phi

blogpost thumb

Biệt nhật hà dị hội nhật nan,
Sơn xuyên du viễn lộ man man.
Uất đào tư quân vị cảm ngôn,
Ký thư phù vân vãng bất hoàn.
Thế linh vũ diện huỷ hình nhan,
Thuỳ năng hoài ưu độc bất than.
Cảnh cảnh phục chẩm bất năng miên,
Phi y xuất hộ bộ đông tây.
Triển thi thanh ca liêu tự khoan,
Lạc vãng ai lai tồi tâm can.
Bi phong thanh lệ thu khí hàn,
La duy từ động kinh Tần hiên.
Ngưỡng đới tinh nguyệt quan vân gian,
Phi thương thần minh,
Thanh khí khả liên,
Lưu liên hoài cố bất tự tồn.

Bản dịch thơ của Hà Thủy Nguyên: 

Chia lìa dễ sao khó gặp chàng
Sông núi xa với đường mênh mang
Nhớ nhung kết lại lời gan ruột
Gửi theo mây nổi nào quay về
Lệ rơi mưa táp hủy dung nhan
Ai người lặng nhớ chẳng thở than.
Canh cánh lòng đêm không chìm giấc
Trùm áo lang thang bước giữa đàng
Thơ này ca lên dịu buồn tan
Vui đi sầu tới nát tâm can
Buồn buồn sắc gió khí thu hàn
Rèm lụa lay lay hiên Tần lạnh
Ngẩng đầu vén mây ngắm trăng sao
Hoàng oanh gáy sáng
Nghe mà xót xa
Nhớ nhung đau đớn buồn chẳng nguôi.