Tự do học thuật và tự do trí tuệ

blogpost thumb

Cơ chế dân chủ là một cơ chế mở, không chỉ đảm bảo quyền lợi của người dân mà còn tạo ra cơ hội để những người tài năng dễ dàng hơn trong việc thể hiện và đóng góp cho xã hội. Tuy nhiên, đó chỉ là lý thuyết. Cơ chế dân chủ với tình trạng dân trí thấp và trong đó, những quyền hạn về tự do học thuật và tự do trí tuệ bị ngăn cản thì đó chỉ là dân chủ giả hiệu. Quyền tự do ngôn luận, tự do biểu hiện sẽ trở nên vô nghĩa khi người dân không được tiếp cận tri thức và những chuyên gia không được đưa ra tiếng nói khách quan mang tính khoa học để góp ý cho các vấn đề của xã hội. Cho đến nay, vấn đề Tự do học thuật (Academic Freedom) và Tự do trí tuệ (Intellectual Freedom) chỉ mới được đưa ra ở dạng khái niệm và chưa được quan tâm đúng mức trên toàn thế giới.

Tự do học thuật (Academic Freedom) là một khái niệm gây nhiều hiểu lầm ở Việt Nam. Chúng ta thường dễ đánh đồng quyền tự do này với tự do biểu hiện. Từ điển Britannica cho biết: “Tự do học thuật là quyền của giảng viên và học viên được tự do giảng dạy, nghiên cứu và đeo đuổi kiến thức mà không  có sự can thiệp bất hợp lý hoặc các hạn chế từ luật, quy định về thể chế, hay áp lực từ công chúng. Các yếu tố cơ bản của nó bao gồm  quyền tự do của giảng viên để tìm hiểu bất cứ chủ đề nào liên quan đến tri thức, trình bày các phát hiện của mình cho sinh viên và đồng nghiệp, công bố các dữ liệu và kết luận của họ mà không bị kiểm soát hay kiểm duyệt, giảng dạy theo cách mà họ cho là phù hợp với nghiệp vụ. Đối với sinh viên, các yếu tố cơ bản gồm: quyền tự do chọn học các môn học, đưa ra kết luận và thể hiện ý kiến của mình”. (1)

Như vậy quyền Tự do học thuật có phạm vi trong trường học và gắn liền mật thiết đến hệ thống giáo dục, đặc biệt là ở cấp bậc đại học. Qủa vậy, nền tảng của Tự do học thuật được xây dựng từ các trường đại học của Châu Âu thời Trung cổ. Từ thời này, các trường đại học với sự bảo trợ của hoàng gia đã tự lập nên một hệ thống tự trị với quyền tự quyết trong việc thành lập khoa. Cho đến thế kỷ 18, nhà thờ Công giáo La Mã và ở một số khu vực, những người theo đạo Tin Lành đã tìm cách kiểm duyệt các trường đại học. Các trường đại học mất dần vị thế tự trị và các giáo sư phải chịu sự quản lý của chính phủ. Mâu thuẫn này kéo dài cho đến nay. Mặc dù vậy một điều thú vị khi bạn theo dõi các phiên họp hay điều trần liên quan đến Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc, Tự do học thuật vẫn không hề được đề cập đến.

Một khái niệm khác rất dễ nhầm lẫn với Tự do học thuật là Tự do trí tuệ (Intellectual Freedom). Tự do trí tuệ bao gồm quyền tự do nắm giữ, tiếp nhận và phổ biến các ý tưởng mà không hề bị hạn chế. Nói một cách khác, quyền tự do trí tuệ bảo vệ quyền của một cá nhân trong việc tiếp cận thông tin, khám phá, xem xét và thể hiện ý tưởng. Như vậy, tự do trí tuệ chính là nền tảng cho tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin và quyền riêng tư.

Tự do trí tuệ bao gồm quyền tự do nắm giữ, tiếp nhận và phổ biến các ý tưởng mà không bị hạn chế. Được xem như một thành tố không thể tách rời của một xã hội dân chủ, quyền tự do trí tuệ bảo vệ quyền của một cá nhân trong việc tiếp cận, khám phá, xem xét, và thể hiện ý tưởng và thông tin làm cơ sở cho một công dân tự quản và thông tin đầy đủ. Tự do trí tuệ bao gồm nền tảng cho tự do ngôn luận, nói tiếng và báo chí và liên quan đến quyền tự do thông tin và sự riêng tư. (2) Trong thời đại Internet hiện nay, Tự do trí tuệ đã được mở rộng hơn và sự kiểm duyệt bị hạn chế dần, thế nhưng tự do trí tuệ vẫn gặp phải các rào cản do sự can thiệp ngầm của các tập đoàn hoặc của các quốc gia. Chính công nghệ mang đến Tự do trí tuệ nhưng cũng trở thành công cụ để hạn chế tự do trí tuệ bằng các thuật toán ngầm hoặc bằng các điều luật phức tạp trên Internet.

Nếu tự do học thuật chỉ gói gọn trong phạm vi của các trường đại học thì tự do trí tuệ có phạm vi rộng lớn hơn, những cũng vì thế mà ít người quan tâm hơn. Nếu có, họ chỉ quan tâm đến các quyền biểu hiện mà không quan tâm đến các quyền tiếp cận. Một điều hiển nhiên, nếu bạn không có quyền tiếp cận thông tin thì sự biểu hiện của bạn là vô giá trị.

Mặc dù nhiều người cho rằng quyền tự do học thuật và quyền tự do trí tuệ chỉ có thể có được trong một xã hội dân chủ, nhưng đây là cái nhìn thần thánh hóa cơ chế dân chủ. Một xã hội dù là độc tài hay quân chủ, vẫn có thể duy trì tự do học thuật và tự do trí tuệ, nếu họ muốn chính thể của họ được vận hành bởi những người có tài năng. Ngược lại, một xã hội đảm bảo quyền dân chủ của đám đông, để đám đông can thiệp vào công trình nghiên cứu hay sáng tạo của tầng lớp trí thức, có thể sẽ khiến xã hội rơi dần vào mông muội, và sớm muộn lại trở thành một xã hội toàn trị của đám đông. Như vậy, vấn đề quyền tự do học thuật và quyền tự do trí tuệ không nên chỉ được xem xét như một vấn đề nhân quyền, mà nên được xem xét như một phần của chiến lược phát triển nhân tài cho quốc gia.

Ở Việt Nam, tự do học thuật và tự do trí tuệ dường như là những khái niệm xa xỉ. Các nhà đấu tranh và vận động xã hội dù chính thống hay không chính thống đều cho rằng quyền lợi của những người dân nghèo, những người phụ nữ yếu thế quan trọng hơn quyền lợi của những người đeo đuổi con đường học tập, nghiên cứu và sáng tạo. Chính quyền cùng với quy định cứng nhắc về kiểm duyệt nội dung đã sinh ra một hệ thống trường học và thư viện không đảm bảo quyền tiếp cận thông tin đầy đủ cho cả giảng viên và học viên, đồng thời cũng luôn mong muốn định hướng và gò ép họ theo một số hướng nghiên cứu cụ thể. Tất cả dẫn đến tình trạng xập xệ của giới tri thức – những người đóng vai trò cung cấp nền tảng tri thức cho xã hội. Kết quả là, các chính sách sai lầm, các phát ngôn vô tội vạ, các biện pháp xử lý khó khăn tệ hại…v….v.. liên tiếp nối đuôi nhau do thiếu nền tảng tri thức cần thiết. Tình trạng này có lẽ sẽ càng xấu đi trong những năm sắp tới, bởi sự thiếu nền tảng tri thức lại dẫn đến sự xuống cấp trầm trọng của dân trí. Và cứ thế, Việt Nam sẽ gặp khó khăn nhiều hơn trên con đường dân chủ hóa cũng như bất cứ con đường xây dựng thể chế nào đó khác.

Có lẽ đã đến lúc, chính quyền, các trí thức, các nhà đấu tranh và vận động xã hội cần đặt lại vấn đề tự do học thuật và tự do trí tuệ một cách nghiêm túc. Bởi vì, dù dưới bất cứ thể chế nào, sự coi thường vai trò của nền tảng tri thức thường đưa xã hội đến với mông muội, lạc hậu và sụp đổ.

Hà Thủy Nguyên

(1) https://www.britannica.com/topic/academic-freedom

(2) https://www.ala.org/advocacy/intfreedom/censorship/faq

KHI VĂN HÓA ĐỌC THIẾU NỀN TẢNG HỌC THUẬT VÀ PHÁP LUẬT

blogpost thumb

Có lẽ chưa bao giờ văn hóa đọc lại nở rộ như ngày nay, đặc biệt là sự hỗ trợ từ chính quyền và các kênh báo đài chính thống. Không khí tấp nập nhộn nhịp trong các hội trợ sách, các hội thảo sách, các cuộc chạy đường trường cổ vũ phong trào đọc dường như làm sống dậy cái không khí Đông Kinh nghĩa thục: “Buổi diễn thuyết người đông như hội/Kỳ bình văn khách đến như mưa”. Chứng kiến cảnh “trăm hoa đua nở” của các đơn vị xuất bản, các cộng đồng đọc sách, các cá nhân cổ vũ đọc sách…v…v… chúng ta dễ lầm tưởng rằng một tương lai tươi sáng cho công cuộc nâng cao dân trí đang diễn ra. Tuy nhiên, nếu nhìn cận cảnh văn hóa đọc ở Việt Nam sẽ thấy một nguy cơ của tình trạng nhiễm độc “tinh thần” đang là vấn đề nan giải.

Một điểm dễ thấy ở thị trường sách Việt Nam đó là sự vượt trội về doanh số của các đầu sách dạy làm giàu, dạy kỹ năng sống, tiểu thuyết tình yêu…v…v… so với các đầu sách khác. Những cuốn sách này thường khá dễ đọc, giải quyết các nhu cầu trước mắt của người đọc, và thường được những độc giả thiếu nền tảng kiến thức ưa thích. Ở phương Tây hay Trung Quốc, những cuốn sách dạng này cũng được số đông độc giả ưa thích nhưng chúng không có vị trí thống soái như ở Việt Nam. Dù cho chúng có thể là “best seller” nhưng người dân vẫn ý thức được rằng vẫn có những cuốn sách tầm cỡ cao hơn thế, có tính học thuật hơn và sách hàn lâm vẫn giữ một vị trí thống soái dù số lượng bán ra không bằng. Nhưng ở Việt Nam, sách hàn lâm cứ như thể là một thế giới vô cùng biệt lập đối với độc giả đại chúng.

Đặc biệt là các sách dạy làm giàu, dạy kỹ năng sống luôn xuất hiện ở các giá sách của các quán café sách như một phần của phong trào nâng cao văn hóa đọc. Đây cũng là các cuốn sách ưa thích trong các chương trình đào tạo nhân viên của các tập đoàn, các công ty bán hàng đa cấp…v…v… Đến nay, sự đúng – sai của các cuốn sách này vẫn gây nhiều tranh cãi trên thế giới và ở Việt Nam, tuy nhiên, nếu đưa số sách này vào làm một phần chiến lược của phong trào nâng cao dân trí thì chẳng khác nào vứt vào tay người dân những “cái cần” chẳng biết có “câu được cá” hay không? Và nếu các cuốn sách này không thực sự giúp được người dân cải thiện cuộc sống mà chỉ được sử dụng để khích lệ ham muốn kiếm lợi thì đó không phải là nâng cao dân trí mà là làm giảm đi khả năng làm việc có chuyên môn để thay bằng các phương pháp làm giàu nhanh chóng.  Trong khi ấy, các cuốn sách có tính chuyên môn sâu hay tính hàn lâm vẫn thiếu vắng trên thị trường sách và được in với số lượng rất ít.

Tiểu thuyết tình yêu hay còn có tên gọi mới là tiểu thuyết ngôn tình không chỉ xuất hiên nhan nhản ở các nhà sách, các trang bán sách online mà còn cả ở Thư viện Quốc gia, nơi vốn dĩ là tập hợp của những cuốn sách có tính hàn lâm hoặc hữu dụng. Nếu ai đã từng một lần tới phòng đọc của Thư viện Quốc gia Hà Nội hẳn sẽ ngạc nhiên khi thấy tiểu thuyết ngôn tình chiếm một vị trí lớn trong thư viện: không chỉ có ngôn tình Trung Quốc mà còn có đủ cả ngôn tình Anh, Pháp và Việt Nam. Trong khi ấy, thư viện lại thiếu vắng các tác phẩm văn học kinh điển của thế giới mà các dịch giả từ đầu thế kỷ 20 đến nay vẫn tiếp tục dầy công chuyển ngữ. Thậm chí, nhiều tác phẩm văn học kinh điển của Việt Nam cũng không thể tìm thấy tại Thư viện Quốc gia Hà Nội. Những bạn trẻ đến thư viện có thể thoải mái ngồi đọc tiểu thuyết ngôn tình bên cạnh những nhà nghiên cứu đọc các cuốn sách dầy cộp. Đây có lẽ là một cảnh khá hi hữu tại một Thư viện công có tầm cỡ quốc gia với nền tảng lưu trữ học thuật hơn 100 năm. Cùng lúc ấy, các tác giả trẻ viết tiểu thuyết tình yêu mang tính thị trường và các tác giả sáng tác văn chương mang tính nghệ thuật cũng rất khó để phân định được ranh giới dẫn đến một tình trạng loạn chuẩn trong nền văn học, và người đọc có thể hoàn toàn sẽ bị dẫn hướng bởi truyền thông. Ví dụ như các độc giả trẻ sẽ không thể phân biệt được sự chênh lệch về chất lượng giữa một cuốn tiểu thuyết ngôn tình sử dụng yếu tố lịch sử (như trường hợp “Thành kỳ ý” của Lê Ngọc Linh hay “Đại Nam dị truyện” của Phan Cuồng) với một cuốn tiểu thuyết lịch sử công phu (như “Hồ Qúy Ly” của Nguyễn Xuân Khánh hay “Vạn xuân” của Yveline Féray).

Tình trạng “vàng” không được coi trọng bằng “thau” này đã khiến cho nền văn hóa đọc của Việt Nam ở thời sung sức của giai đoạn đầu nhiễm những tạp chất khó có thể tẩy rửa khỏi thói quen đọc sách của thế hệ trẻ. Đây là hệ quả của sự thiếu nền tảng học thuật và pháp lý trong chiến lược của phong trào nâng cao văn hóa đọc. Trong “ĐỀ ÁN Phát triển Văn hóa Đọc trong cộng đồng Giai đoạn 2011 – 2020, tầm nhìn 2030” của Thủ tướng chính phủ được thảo ra từ năm 2010, việc xây dựng nền tảng học thuật và pháp lý làm chỗ dựa cho xuất bản gần như không được đề cập đến mà hầu như chỉ nhấn mạnh vào công tác tuyên truyền nhằm gia tăng lượng độc giả. Trên thực tế, nếu không thể xuất bản ra những cuốn sách có chất lượng cao, đảm bảo tính chính xác của kiến thức, đạt các chuẩn của tiếng Việt và không có các sai phạm về bản quyền thì nền văn hóa đọc ấy sẽ chỉ gây hại cho độc giả mà thôi. Vấn đề chính yếu của văn hóa đọc hiện nay không phải là tình trạng giảm sút của số lượng độc giả mà tình trạng lỏng lẻo trong quản lý chất lượng sách.

Ngăn ngừa đạo văn có lẽ là vấn đề pháp lý quan trọng nhất của một nền văn hóa đọc. Tuy nhiên, cho đến nay, khung pháp lý xử lý đạo văn vẫn còn lỏng lẻo, không có cơ quan giải quyết các khúc mắc về đạo văn một cách chuyên nghiệp, cũng không có mức phạt nghiêm khắc thực sự để ngăn ngừa đạo văn. Hầu như trong các vụ đạo văn bị phanh phui trên truyền thông, những tác phẩm đạo văn không hề bị thu hồi và tác giả cũng không phải chịu một mức phạt nào, thậm chí nhiều trường hợp còn không xin lỗi một cách công khai. Qúy cuối năm 2015 cho đến quý I năm 2016, độc giả được chứng kiến hai vụ đạo văn đình đám: Một là sự việc nhà thơ Phan Huyền Thư đạo thơ của Phan Ngọc Thường Đoan. Hai là sự việc Lê Ngọc Linh trong tiểu thuyết ngôn tình có yếu tố lịch sử “Thành Kỳ Ý” đã đạo rất nhiều đoạn văn từ cuốn sách “Tứ thư bình giải” cùng nhiều bài báo từ các trang online của báo Dân Trí, Vietnamtourism…v…v… Cả hai trường hợp đạo văn này, sách đều không bị tịch thu và không bị nhận mức phạt nặng, cùng lắm chỉ là bị ép xin lỗi hoặc như nhà thơ Phan Huyền Thư chỉ cần trả lại giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội là đủ. Như trường hợp “Thành Kỳ Ý”, mức độ sai phạm trầm trọng hơn khi tác giả của cuốn sách này kêu gọi độc giả ủng hộ cô ta số tiền lên đến hơn 200 triệu đồng trước khi cô ta ra mắt sách. Số tiền này không hề được hoàn trả cho người ủng hộ khi cuốn sách được chứng minh là đạo văn, và cũng không có khoản phạt tài chính nào với sai phạm này. Cho đến nay, Lê Ngọc Linh vẫn không hề bị xử phạt dù cho đã có hơn 1000 chữ ký từ các độc giả vận động trên mạng và gửi thư khiếu nại đến Cục xuất bản. Hai ví dụ trên thật sự đã cho ta thấy sự quản lý lỏng lẻo của các đơn vị quản lý văn hóa. Đây chỉ là hai vụ scandal nổi tiếng trong số rất nhiều những sự vụ khác ít đình đám hơn và rất nhiều những vụ chưa được phanh phui vì chưa có ai phát hiện. Sẽ ra sao nếu Việt Nam có một nền văn hóa đọc mà ai ai cũng có thể đạo văn mà không phải chịu trách nhiệm gì? Đó là một nền văn hóa đọc không bảo vệ sự sáng tạo mà chỉ dung túng cho thói quen viết lách thiếu trách nhiệm và trình độ.

Không chỉ là một nền văn hóa đọc thiếu sự khuyến khích sáng tạo mà nền văn hóa đọc Việt Nam còn thiếu sự chính xác và tinh thần khoa học. Tình trạng nội dung sách không đảm bảo chất lượng ngôn ngữ hay khoa học là khá phổ biến. Gần như năm nào người đọc cũng được chứng kiến các sự việc sách dịch không chính xác ( như “Lolita” do Dương Tường dịch, “Sapiens, lược sử về loài người” do Nguyễn Thủy Chung và Võ Minh Tuấn dịch, “Căn tính và bạo lực – Huyễn tưởng về số mệnh” do Trần Tiễn Cao Đăng và Lê Tuấn Huy dịch…). Những cuốn sách này hoặc là thiếu chính xác trong chuyển ngữ, hoặc là diễn giải không đúng với văn phạm tiếng Việt. Bên cạnh đó còn phải kể đến không ít các cuốn sách nghiên cứu, khảo cứu, hướng dẫn… thiếu tính chính xác trong việc sử dụng kiến thức. Tôi sẽ không đề cập đến ví dụ về tình trạng sách nghiên cứu, khảo cứu sử dụng sai kiến thức bởi vì sẽ rất dài dòng để giải thích. Thay vào đó, tôi sẽ sử dụng một cuốn giáo trình tiếng Anh làm ví dụ. Đây là cuốn giáo trình tiếng Anh do trung tâm Elight phát hành, cấp phép bởi NXB Thanh Niên, có tên “Tiếng Anh cơ bản”. Một giáo viên dậy tiếng Anh rất nổi tiếng người Mỹ có tên là Dan Hauer đã chỉ ra rất nhiều lỗi sai ngữ pháp và từ vựng nghiêm trọng ở cuốn giáo trình này cùng với hơn 300 chi tiết đạo văn từ các giáo trình tiếng Anh khác. Cuốn sách được bán với giá 299 ngàn, một mức giá khá cao. Video nhanh chóng được lan truyền trên mạng với hơn 660 ngàn lượt xem và đến nay cũng chưa có dấu hiệu của đơn vị quản lý văn hóa và giáo dục xử lý các lỗi sai về kiến thức cũng như đạo văn trong cuốn sách này. Việc cung cấp sai kiến thức là một lỗi nghiêm trọng không kém gì đạo văn bởi những cuốn sách ấy phát tán các nhận thức sai lệch cho độc giả. Một nền văn hóa đọc mà trong đó độc giả dễ dàng bị nhồi nhét những nhận thức sai lệch thì đó là một nền văn hóa không lành mạnh. Sở dĩ có tình trạng như vậy là do thiếu một đội ngũ có trình độ học thuật cao tham gia các khâu thẩm định chất lượng nội dung và một nền xuất bản thiếu các tiêu chuẩn khoa học.

Mặc dù vậy, ở góc khuất của nền văn hóa đọc nhốn nháo ngày nay vẫn có những cộng đồng đọc sách nghiêm túc những mong tuyển chọn các cuốn sách hay giới thiệu cho bạn đọc, vẫn có những tác giả và dịch giả miệt mài ngày đêm âm thầm cống hiến cho tri thức, vẫn có những độc giả khôn ngoan biết tìm đến các nguồn sách có chất lượng cao. Tất cả những yếu tố này tạo nên một ốc đảo tri thức nằm giữa biển sách ngổn ngang của thị trường. Tuy rằng biệt lập nhưng họ vẫn luôn cố gắng để duy trì ngọn lửa tri thức. Và dù cho xã hội không có một khung pháp lý hay một khung học thuật để quản lý chất lượng sách trên thị trường thị họ cũng tự xác lập cho mình những chuẩn mực riêng trong ốc đảo tri thức ấy.

Hà Thủy Nguyên

Bài đăng trên Tạp chí Văn hóa Nghệ An số ra ngày 10 tháng 4 năm 2018

BI KỊCH CỦA CÁI ĐẸP TRONG PHIM “BÁ VƯƠNG BIỆT CƠ”

blogpost thumb

Tôi xem “Bá Vương Biệt Cơ” của Trần Khải Ca không ít lần. Lần đầu xem bộ phim, khi ấy tôi mới học năm thứ nhất đại học, tôi đã khóc vì thương cảm cho số phận của anh chàng diễn viên Trình Đắc Di. Thế rồi tôi tìm hiểu thêm về Cách mạng Văn hóa Trung Quốc, tôi đọc thêm về một thời đại đen tối kéo dài trong các nước nằm dưới sự cai trị của Đảng Cộng Sản, lúc đó tôi mới biết rằng Trình Đắc Di chỉ là một trong số những nạn nhân của thời đại ấy. Tội lỗi của Trình Đắc Di và những người anh ta đại diện là gì? Tại sao các lực lượng Cộng Sản bấy giờ lại muốn tận diệt họ đến vậy? Và nhiều lần xem phim sau đó, tôi đã khóc thương cho một lớp người.

“Bá Vương Biệt Cơ” vốn dĩ là tên một vở tuồng cổ trong Kinh Kịch, tái hiện lại cảnh ly biệt giữa Sở Bá Vương và Ngu Cơ. Trình Đắc Di và Đoàn Tiểu Lâu là hai diễn viên nổi danh diễn vở tuồng này. Trình Đắc Di chuyên diễn Ngu Cơ, và đã hóa thân toàn bộ tinh thần của mình vào vai diễn. Anh yêu Sở Bá Vương và cũng yêu Đoàn Tiểu Lâu. Mỗi khi Đoàn Tiểu Lâu ở bên cạnh Đắc Di, Tiểu Lâu lại trở thành một võ  tướng hiệp nghĩa, nhưng khi quay trở về với đời sống bình thường anh ta lại bạc nhược và tầm thường. Tiểu Lâu lấy Diệu Linh, một cô gái điếm làm vợ. Đắc Di cảm thấy rất đau lòng và hận, dù cho Diệu Linh không ít lần giúp đỡ Đắc Di. Ngay cả trong cuộc sống với người vợ gái điếm của mình, Tiểu Lâu cũng thể hiện sự tầm thường bởi anh ta không thể đưa ra được quyết định. Con người anh ta được định nghĩa và dẫn dắt, hoặc bởi Đắc Di hoặc bởi Diệu Linh. Vậy mà hai “tri âm tri kỷ” của Tiểu Lâu vẫn cứ  đồng nhất Đoàn Tiểu Lâu với nguyên mẫu anh hùng.

Những mâu thuẫn tay ba trong mối tình của Đắc Di – Tiểu Lâu và Tiểu Lâu – Diệu Linh sẽ cứ thế tiếp diễn trên nền những sự kiện phức tạp nhất của lịch sử Trung Quốc những năm giữa thế kỷ 20. “Bá Vương Biệt Cơ” và  những vở kinh kịch khác vẫn được diễn từ những ngày tàn của nhà Thanh, cho đến quân Nhật xâm chiếm Trung Quốc, qua thời Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch cầm quyền và cuối cùng là đến thời Hồng quân của Đảng Cộng Sản chiếm đóng Bắc Kinh. Quan lại và quý tộc nhà Thanh  yêu thích và hậu đãi kinh kịch, quân Nhật cũng tỏ một thái độ kính ngưỡng với Kinh Kịch và không giấu được sự thán phục trước vẻ đẹp của vở “Bá Vương Biệt Cơ”. Quân Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch tuy lỗ mãng như bầy khỉ nhưng rồi cũng đành phải chấp nhận sự tồn tại của Kinh Kịch và để Trình Đắc Di, Đoàn Tiểu Lâu tiếp tục giữ vị trí thống soái. Tới đó, người ta có cảm giác rằng Kinh Kịch là bất diệt, cái đẹp có thể chinh phục mọi thế lực tàn bạo nhất. Và “Cộng Sản cũng phải xem hát tuồng”. Nhưng không! Khi Đảng Cộng Sản Trung Quốc tiếp quản chính quyền, vị thế của mọi chuẩn mực về cái đẹp đã không còn như xưa.

Vở “Bá Vương Biệt Cơ” một lần nữa được diễn trên sân khấu để phục vụ những “đồng chí” Cộng Sản. Những “đồng chí” này ngồi nghiêm như quân đội Nhật nhưng thậm chí còn không phân biệt được khi nào vở diễn kết thúc và không hiểu gì. Sau đó, Trình Đắc Di và Đoàn Tiểu Lâu, cùng với các chuyên gia Kinh Kịch được mời làm cố vấn cho các vở tuồng hiện đại của Cộng Sản. Ngay trong buổi góp ý, Đắc Di đã nhận xét rằng những vở hiện đại quá xấu xí, quá nhàm chán từ trong thiết kế sân khấu đến nhân vật. Anh cho rằng, người ta xem tuồng là để xem cái đẹp tuyệt đối, để xem sự hoàn hảo, chứ không phải để xem những thứ xấu xí và tầm thường. Nhân vật chính của các vở diễn phải là những anh hùng, mỹ nhân, tài tử… thể hiện những nét đẹp của nhân cách. Mọi chi tiết phải tuyệt mỹ, mà như Trình Đắc Di nói: “Mỗi âm thanh đều là bài hát, mỗi cử chỉ đều là điệu múa”. Và muốn vậy, người nghệ sĩ phải khổ luyện. Muốn đạt đến chuẩn mực dù là nhân cách hay tài năng, người ta buộc phải khổ luyện. Những vở tuồng hiện đại quá dễ dãi và người ta không cần phải khổ luyện để đạt tới chuẩn mực ấy. Đứa trẻ mà Đắc Di đã từng nhận nuôi, Tiểu Sĩ, giờ đây theo Cộng Sản. Hắn thoát khỏi những ngày khổ luyện để trở thành một nghệ sĩ nhân dân, một nghệ sĩ Cộng Sản. Hắn đại diện cho tiếng nói của trào lưu nghệ thuật bài trừ cái đẹp, gạt bỏ mọi sự khổ luyện, phản bội lại thầy của mình. Hắn tước đoạt vai diễn Ái Cơ của Trình Đắc Di; đem Đắc Di, Tiểu Lâu và các diễn viên Kinh Kịch ra đấu tố giữa đường, đốt bỏ những bộ trang phục Kinh Kịch.

Đó là vào lúc đỉnh cao của đại cách mạng văn hóa Trung Quốc, khi mọi giá trị bị coi là “phong kiến”, từ cái áo đẹp cho đến chiếc ly ngọc đều bị hủy bỏ. Cuộc cách mạng văn hóa Trung Quốc này đã tiêu hủy các giá trị như sách vở, nghệ thuật, tri thức, văn hóa cổ truyền Trung Hoa và những ảnh hưởng của phương Tây lên đất nước này. Các trí thức, tiểu tư sản, nghệ sĩ phải đi lao động cải tạo, phải chịu tù đày, thậm chí là mất mạng. Mọi sản phẩm văn hóa đều phải phục vụ tầng lớp công nông binh, những sản phẩm văn hóa mà như Đắc Di đã từng nhận xét là xấu xí và tầm thường. Cơn càn quét này ảnh hưởng tới Việt Nam suốt một thời gian dài từ sau Cải cách ruộng đất đến trước Đổi mới. Có thể nói, đây là một cuộc biến loạn kinh thiên động địa nhất, quét sạch mọi cái đẹp từ nghệ thuật tới nhân cách. Trong cơn càn quét này, Tiểu Lâu – người đã một thời đóng Sở Bá Vương đã mất đi toàn bộ khí khái của mình, sẵn sàng đấu tố Đắc Di và người vợ của mình là Diệu Linh. Anh ta đã suy thoái, trở thành một phần của đám đông Cộng Sản. Diệu Linh quá đau khổ, không phải vì hành vi phản bội của Tiểu Lâu mà vì nhận ra rằng nguyên mẫu anh hùng trong lòng mình đã sụp đổ, nên cô tự tử để không chứng kiến thêm bất cứ sự sụp đổ nào nữa. Đắc Di vẫn tiếp tục sống trong tuyệt vọng, trong những hồi ức đẹp đẽ của Kinh Kịch. Anh không đầu hàng Cộng Sản, không chấp nhận cái xấu. Xã hội không ai tôn sùng cái đẹp nữa thì anh sống trong ký ức về nó.

Cuối phim, Trình Đắc Di chọn  lấy cho mình cái chết trên sân khấu. Cơ hội được diễn lại “Bá Vương Biệt Cơ” lần nữa lại trở thành màn diễn cuối cùng. Cái chết ấy không phải cái chết tuyệt vọng mà là cái chết của sự hoàn hảo. Đắc Di không muốn chết trong sự tầm thường. Trước đó, anh nhiều lần nghĩ về cái chết của mình, cũng không ít lần muốn chết. Ái Cơ Trình Đắc Di nhiều năm chứng kiến Sở Bá Vương chết về mặt nhân cách trong đời sống để rồi khi họ gặp lại nhau trên sân khấu, Đắc Di đã hoàn toàn đồng nhất mình với Ngu Cơ và hát những lời cuối:

“Hán binh dĩ lược địa,

Tứ diện Sở ca thanh.

Trượng phu ý khí tận,

Tiện thiếp hà liêu sinh”

(Dịch: Quân Hán lấy hết đất/Khúc Sở vang bốn bề/ Trượng phu chí khí cạn/Tiện thiếp sống làm chi)

Bi kịch lồng bi kịch, sự bi hùng của vở diễn “Bá Vương Biệt Cơ” lồng giữa nỗi đau thân phận của Trình Đắc Di và xen lẫn với nỗi đau của những cái đẹp khi đứng trước ngày tàn. Tất cả tạo nên âm hưởng vừa bi tráng, vừa lãng mạn, vừa đau thương khiến người xem không thể tiết chế được các thang bậc cảm xúc vừa thán phục, vừa say đắm, vừa phẫn nộ, vừa buồn thương, vừa tiếc nuối.

Nhiều cây viết phê bình điện ảnh thường chú ý đến khía cạnh đồng tính của Trình Đắc Di và áp vào anh những mặc cảm tâm lý. Lối phê bình này thật thô thiển và làm mất đi tất cả những gì tuyệt mĩ nhất ở Trình Đắc Di. Đắc Di yêu Đoàn Tiểu Lâu nhưng thực ra là yêu hình bóng anh hùng trong vai diễn Bá Vương. Anh ta đồng nhất bản thân với Ái Cơ và đạt đến sự tuyệt mĩ cả vẻ bề ngoài, tài năng và tinh thần. Tấm chân tình của anh là dành cho cái đẹp. Những ức chế về giới tính không phải chủ đề chính của bộ phim này. Bởi vậy, chúng ta không nên trói buộc vẻ đẹp của Trình Đắc Di trong những ngôn từ như “nữ tính” hay “đồng tính”. Anh ta chỉ  biến cuộc đời mình thành một vở kịch mà trong đó anh ta vẫn giữ nguyên tắc của mình: “Mỗi âm thanh đều là bài hát, mỗi cử chỉ đều là điệu múa”.

Xu hướng duy mỹ là một xu hướng cổ điển. Bi kịch cổ điển phương Tây từ sau Shakespeare đều hướng đến sự tuyệt mỹ. Các vở Opera cổ điển cũng luôn hướng tới sự tuyệt mỹ. Văn chương, thơ ca cổ điển đều lấy sự hoàn hảo của ngôn từ làm tiêu chí. Xu hướng này, từ sau thời Khai Sáng đã phải đối mặt với những cơn sóng hiện đại hóa với các lý thuyết về công bằng, về tính đại chúng, những thứ “vị nhân sinh”. Cơn sóng hiện đại hóa ấy đã hóa thân thành những thứ cách mạng đám đông, giáo dục đại chúng, nghệ thuật hiện đại (sau này là hậu hiện đại) và hóa thân thành con ác quỷ có tên Chủ nghĩa Cộng Sản. Con ác quỷ này khi mạn xu hướng duy mỹ, chà đạp và tận diệt cái đẹp. Sự tầm thường sợ cái đẹp, ghét cái đẹp, oán hận cái đẹp bởi cái đẹp một khi thống trị sẽ không cho phép con người  được quyền thoải mái với sự tầm thường của mình, bởi thế, sự thống trị ấy phải bị lật đổ. Khi nó càn quét đến Trung Quốc, những gì đẹp đẽ trên thế giới cũng đang tan vỡ với sự lên ngôi của văn hóa đại chúng. Bi kịch của Trình Đắc Di, bởi thế không chỉ đại diện cho các trí thức, nghệ sĩ dưới thời Cộng Sản mà còn đại diện cho con người duy mĩ cổ điển trước làn sóng tầm thường hóa của chủ nghĩa hiện đại.

Nỗi đau của Trình Đắc Di tưởng như đã là dĩ vãng khi con ác quỷ Cộng Sản đã suy yếu. Nhưng không, con quái vật ấy chỉ là kết tinh của sự tầm thường hóa mà thôi. Sự tầm thường hóa vẫn đang tiếp diễn, và sẽ đến một ngày kết tinh lại thành một cái gì đó khác không có tên Cộng Sản. Cái đẹp còn chưa kịp phục hồi sẽ vẫn phải tiếp tục cuộc chiến của mình. Điều đau đớn là, những người đại diện cho cái đẹp lại quá thờ ơ, quá ngạo mạn và không thể biết trước cũng không thể chống lại được sự tấn công từ sự tầm thường. Trình Đắc Di cảm thấy bất lực trước đám đông dữ dội ấy. Phải thôi, nếu cái đẹp cũng vác gươm vác giáo để tiêu diệt sự tầm thường thì chẳng phải cũng đã trở nên tầm thường hay sao? Thôi thì, cái đẹp đành đơn độc. Và gìn giữ cái đẹp trong sự đơn độc cũng là một cuộc chiến thầm lặng và bi tráng.

Hà Thủy Nguyên

Các bạn có thể nghe ca khúc “Khi tình yêu trở thành dĩ vãng” của Trương Quốc Vinh với các hình ảnh trong phim “Bá Vương Biệt Cơ”

WATCHMEN – SỰ XUNG ĐỘT CỦA CÁC NHẬN THỨC THẾ GIỚI

blogpost thumb

“Watchmen” (2009) là bộ phim siêu anh hùng xuất sắc nhất trong chùm chủ đề “hot” của truyện tranh và phim ảnh Holywood từ năm 1960 đến nay: siêu anh hùng cứu thế giới. “Watchmen” được chuyển thể từ bộ truyện tranh 12 tập do Alan Moore sáng tác. Bối cảnh xã hội trong “Watchmen” rất đặc biệt bởi vì nó phản ánh thực trạng chính trị của nước Mỹ sau thất bại của chiến tranh Việt Nam.  Nhưng tôi sẽ không bàn về thực trạng Mỹ được phản ánh qua “Watchmen”, đó là công việc của các nhà phê bình có con mắt chính trị. Ở bài viết này, tôi sẽ tập trung vào vấn đề nhận thức thế giới của các anh hùng trong phim. Với tôi, bối cảnh chính trị chỉ là cái phông nền mà trên đó những anh hùng sẽ hành động dựa trên quan điểm và nhận thức của mình về thế giới. Thế nên, nếu ta chỉ khai thác bộ phim ở khía cạnh chính trị xã hội Mỹ, ta chỉ đi mô tả cái phông nền, hoặc nếu ta chỉ xem xét bộ phim với vai trò của các anh hùng thì ta chỉ nhìn thấy các thao tác và hành vi mà không thấy được những động cơ tiềm ẩn bên trong. Bởi thế, so với những bộ phim siêu anh hùng khác của Marvel và DC, “Watchmen” đặc biệt thu hút tôi giải mã cách các anh hùng nhận thức về thế giới. Chính những khác biệt về nhận thức mà các mâu thuẫn nảy sinh trong thiên anh hùng ca bi tráng “Watchmen”.

Mở đầu bộ phim là cảnh Watchmen già Edward Blake với biệt danh The Comedian. Các bạn hãy để ý, Blake đang xem một talkshow bàn về cuộc chạy đua hạt nhân của Mỹ và Liên Xô. Ông ta quan tâm đến vấn đề này và bật TV to hơn khi đồng hồ Doomsday đã cận kề mốc 12h. Không phải loại anh hùng nghe trộm radio của cảnh sát, The Comedian quan tâm đến sự hủy diệt mang tính chính trị. Cuộc đời anh hùng của ông, những ngày ông tham gia chiến tranh Việt Nam giúp ông ta nhận ra rằng chiến tranh gây ra nhiều tội ác hơn gấp trăm lần những tội ác trên đường phố. Moore đã tạo nên nhân vật The Comedian dựa trên nguyên mẫu siêu anh hùng Peacemaker của Charlton Comics và nhân vật điệp viên Nick Fury của Marvel (người điều hành Avengers), đặc biệt còn dựa trên một chính trị gia có thật của nước Mỹ bấy giờ là Gordon Liddy. Thế nên nếu ta nhận định về Edward Blake theo cái nhìn của nữ anh hùng Silk Spectre mẹ, ta sẽ thấy The Comedian chỉ là một kẻ hiếp dâm lỗ mãng. Nhưng không, trong lúc rất nhiều các anh hùng khác đã ẩn danh thì chỉ có ông và Dr Manhattan tiếp tục công khai danh tính và tiếp tục sự nghiệp anh hùng của mình. Theo “Watchmen” thì chính The Comedian là thủ phạm thực sự đã ám sát tổng thống Kenedy. Khi những chính trị gia trên talkshow bắt đầu công kích Dr Manhattan, Blake không khỏi thấy chán nản. Ông ta đã đổi kênh trở về với giấc mơ trai gái yên bình trên nền nhạc ca khúc “Unforgetable”. Một đời chiến đấu của ông cũng chỉ đổi lại là sự cô độc. Thế rồi bỗng chốc, The Comedian bị giết chết ngay trong cảnh đầu tiên, chỉ để lại câu nói cuối cùng đầy ẩn ý “Một trò đùa, tất cả chỉ là một trò đùa”. Đây là cái chết đã được The Comedian chờ đợi, nhưng đến khi nó đến thì ông lại thấy “tất cả chỉ là một trò đùa”. Đây là cái nhìn hư vô của The Comedian, thứ tư tưởng hiện sinh ảnh hưởng lớn đến nước Mỹ từ những năm 50s. Các bạn hãy thử tưởng tượng về một chính trị gia táo bạo chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hư vô? Đó chính là The Comedian. Ở những đoạn sau, từ hồi ức của các Watchmen khác, ta nhận định rõ hơn về các nhận thức thế giới của The Comedian. The Comedian có một sự khinh miệt với con người, ông nhận thấy ở con người những toan tính bẩn thỉu và sự phản trắc. Từ chiến đấu bảo vệ con người, ông đã chuyển sang sứ mệnh bảo vệ con người khỏi chính họ, khỏi chính phẩm chất xấu xa. Ông coi những đám đông biểu tình phản đối Watchmen như một bệnh dịch và tiêu diệt họ không nương tay.

Ngay sau cái chết của Edward Blake là một chuỗi kỷ niệm các hoạt động mà Watchmen đã thực hiện, từ trừng phạt các tội ác trên đường phố đến tham gia những hoạt động của chính trị Mỹ, những tật xấu bị đánh giá là suy đồi ở thời điểm bấy giờ như đồng tính, hiếp dâm… Để rồi, kết thúc những kỷ niệm ấy là dòng chữ “Who watch the watchmen?” do những người biểu tình phản đối công việc của những người hùng. Những người dân phản chiến ở Mỹ đổ lỗi cho các Watchmen khi nền chính trị Mỹ trở nên ngày một suy đồi và bạo lực trong chiến tranh Việt Nam. Người ta đã đổ lỗi cho Dr Manhattan vì cho rằng chính anh là nguyên nhân gây ra chiến tranh hạt nhân chỉ bởi vì toàn bộ cơ thể của anh là một nguồn năng lượng hạt nhân vô tận. Đó là cách suy nghĩ của người bình thường. Họ sợ hãi những gì khác biệt và không thể kiểm soát, nên họ đổ tội cho những gì không thể kiểm soát để phủ nhận lòng tham của chính mình. Nếu không có Dr Manhattan, Mỹ và Liên Xô có chạy đua vũ khí hạt nhân không? Thực tế là hai cường quốc này sẽ vẫn chạy đua vũ khí hạt nhân hoặc bất kỳ loại vũ khí nào cho đến khi nào phân định rõ được ai mới là bá chủ thế giới. “Who watch the watchmen?” là một câu hỏi thể hiện cho tư tưởng dân chủ của Mỹ. Tư tưởng dân chủ đề cao tính giám sát của người dân trong nền chính trị, và ở đây, nó được thể hiện cho việc người dân mong muốn một cơ chế giám sát các anh hùng với sức mạnh và trí tuệ vượt trội, bất chấp việc những người hùng đó đã chiến đấu và bảo vệ người dân ra sao. Đây cũng là một chủ đề được đề cập nhiều trong các sản phẩm của Marvel và DC sau này (Superman bị người dân phả đối và đổ lỗi, các siêu anh hùng Avengers bị Liên Hiệp Quốc lên án và ép phải giải tán, những dị nhân X-men bị xã hội loại người kì thị và năm lần bảy lượt tìm cách tiêu diệt…).

Rorschach là một nhân vật mang tính người dẫn truyện. Sự xuất hiện Rorschach luôn đi kèm với các dòng suy nghĩ miêu tả về thực trạng của một xã hội bẩn thỉu chồng chất những âm mưu và sự đớn hèn của loài người. Rorschach có lẽ là nhân vật gần với The Comedian nhất. Nhưng khác với The Comedian, Rorschach là mẫu nhân vật hành động, là người phân biệt trắng đen rõ ràng và không bị rơi vào chủ nghĩa hư vô. Thay vì ước mơ một cuộc sống êm đềm, Rorschach vẫn đi lại trên từng dãy phố để thực thi công lý mặc cho bị chính phủ kết án và sống ngoài vòng pháp luật. Qua cái nhìn phân định rạch ròi đầy phán xét của Rorschach, ta có thể thấy xã hội Mỹ hiện lên không phải là thiên đường: “Sáng nay phát hiện xác chó bị xe cán chết. Bước đi loạng choạng vì đói. Thành phố này sợ tôi. Tôi biết bộ mặt thật của nó. Phố xá biến thành cống rãnh. Còn cống rãnh thì ngập trong máu. Và chỉ cần nước tràn lên, tất cả lũ sâu mọt sẽ chết chìm. Tất cả rác rưởi từ những tên dâm đãng và giết người sẽ trôi lềnh bềnh ngang thắt lưng bọn chúng. Rồi những con điếm và bọn chính khách sẽ ngước lên gào: “Cứu chúng tôi”. Khi đó tôi sẽ nói khẽ “Không”. Giờ đây cả thế giới đang đứng kề miệng hố nhìn xuống địa ngục đẫm máu. Tất cả những thằng trí thức, lũ giải phóng… và bọn nịnh hót đột nhiên đều không thốt được câu nào. Dưới chân tôi, thành phố đáng ghê tởm này kêu gào như một cái lò mổ đầy lũ trẻ chậm phát triển và ban đêm bốc mùi hôi của bọn gian dâm với lương tâm chó má”. Rorschach luôn mong muốn phân định rạch ròi chính tà, không chấp nhận những âm mưu đen tối và luôn truy cầu sự minh bạch. Biểu tượng mặt nạ với vệt mực trắng đen của Roschach đã thể hiện cho cách nhìn đời của anh ta. Roschach chỉ luôn nhìn đời qua hai mảng màu ấy, không có chỗ cho những khoảng màu nhờ nhờ. Chính bởi cách nhìn đời ấy, anh không thể chấp nhận được kế hoạch lập lại trật tự thế giới của Adrian Veidht tức Ozymandias và chọn lấy cho mình cái chết để bảo vệ nguyên tắc của bản thân.

Adrian Veidht là mẫu anh hùng mang nhiều phẩm tính của nhân vật phản diện. Adrian Veidht được xây dựng dựa trên cảm hứng về Alexandre Đại Đế với tham vọng thống trị thế giới. Nhưng tham vọng thống trí của Adrian Veidht được hợp lý hóa bằng giải pháp giữ gìn trật tự thế giới. Để thực hiện tham vọng này, Veidht đã tiêu diệt toàn bộ những anh hùng có thể gây cản trở. Veidht không muốn tạo ra chiến tranh, anh ta muốn ngăn ngừa chiến tranh. Và để ngăn ngừa chiến tranh, anh không chọn các giải pháp hòa bình và chính nghĩa, anh chọn việc trở nên mạnh hơn vượt trội so với đối thủ là Liên Xô, nói một cách khác, muốn chấm dứt cuộc đua thì hãy trở thành vô địch. Veidht sử dụng khả năng tính toán thiên bẩm của mình vào công việc kinh doanh và tạo ra trật tự mới cho thế giới. Veidht là đại diện cho những ông chủ tập đoàn lớn thống trị nước Mỹ và thế giới, mà ngày nay số lượng của họ gia tăng đột biến trong thời Internet. Với cách suy nghĩ ấy, Veidht luôn coi những người như The Comedian và Roschach là mối nguy của xã hội, là đại diện cho tư tưởng phát xít, là những kẻ hoang tưởng. Veidht không chấp nhận những con người ấy trong trật tự mới mà anh ta đang chuẩn bị cho thế giới.

Dr Manhattan là một nhân vật có tầm nhìn tương tự với Adrian Veidht. Cũng như Veidht, Dr Manhattan không quan tâm đến công lý hai một vài người chết, mà quan tâm đến trật tự thế giới. Dr Manhattan không có tham vọng thống trị thế giới, anh ta chỉ muốn đóng góp công sức mình để ngăn chặn sử hủy diệt và giúp đời sống con người trở nên tốt đẹp hơn. Đó là lý do Dr Manhattan vẫn làm việc cho chính phủ Mỹ bất kể chính phủ và người dân Mỹ đã công kích các Watchmen như thế nào. Dr Manhattan là siêu anh hùng duy nhất của bộ truyện, bởi anh sở hữu các siêu năng lực như phân thân, dịch chuyển tức thời, tiên tri, nhận thức thế giới bằng cơ học lượng tử. Chính các siêu năng lực ấy đã khiến Dr Manhattan có một nhận thức khác hẳn so với những anh hùng khác. Anh có thể biết mọi sự thật nhưng không thể tác động thay đổi, anh không quan tâm đến sống chết cũng không quan tâm đến loài người. Cảm xúc đến với Dr Manhattan chỉ như một cơn gió thoảng qua bởi vì cùng một lúc anh sống trong rất nhiều thực tại. Dr Manhattan như một bậc thầy tâm linh đang xoay sở với các vấn đề nhỏ nhặt của thế gian. Mặc dù Dr Manhattan đã từng là thứ vũ khí bất hoại của nước Mỹ nhưng anh vẫn bị đổ lỗi cho cuộc chạy đua vũ khí và nguy cơ chiến tranh giữ Mỹ và Liên Xô. Những nhận thức về cơ học lượng tử không giúp anh lý giải được các hành vi của con người và với anh tất cả đó chỉ là sự gây nhiễu đối với thế giới quan của anh, đúng như Laurie (Silk Spectre con) nhận định: “Nó giống như thế giới này đối với anh ấy chỉ là đi trong màn sương mờ và con người là những bóng mờ ảo đi trong màn sương”. Trong suốt tiến trình bộ phim, ta thấy sự gắn kết của anh với thế giới nhạt dần theo thời gian và những mối quan hệ. Dr Manhattan coi những việc anh làm cho thế giới là trách nhiệm cần làm và đến khi không còn sự gắn kết nào nữa, anh sẽ rời bỏ. Dr Manhattan là hình mẫu của các nhà thông thái đích thực muốn mang đến sự nhận thức của mình với thế giới và đối mặt với việc phần lớn thế giới không thể chấp nhận được. Nhận thức thế giới dưới cái nhìn siêu hình đã khiến Dr Manhattan thấu rõ thế giới nhưng cũng đồng thời thấy xa lạ với nó, bởi càng thấu rõ thì càng không còn mối liên hệ gì. Xem đoạn phim về nguồn gốc của Dr Manhattan, ta có thể thấy rằng anh ta đã trải qua cái chết về xác thịt và hồi sinh. Dr Manhattan như một bóng ma với sức mạnh siêu việt và có cái nhìn của một vị thần đối với thế giới loài người, một vị thần bất tử phải đối mặt với sự hữu hạn của tuổi thọ con người và nhận thức ngắn ngủi của họ. Dr Manhattan chỉ có thể thốt lên sau tất cả: “Tôi quá mệt mỏi với Trái Đất, với những con người ở đó, mệt mỏi bởi vướng vào mớ hỗn độn trong cuộc sống của họ.”

Trong số các anh hùng Nite Owl tức Dan Dreiberg là người không có bất cứ phán xét nào với con người và thế giới. Tác giả của cả truyện tranh và phim cũng không tiết lộ cho chúng ta biết về cách nhận thức hay cách đánh giá về cuộc đời của Dan. Sau khi các anh hùng bị cấm hoạt động, Dan sống một cuộc đời lặng lẽ trong bóng tối đơn độc với các phát minh kỹ thuật của mình. Dưới hầm nhà Dan là những dãy đường hầm dẫn đến khắp nơi trong thành phố, tàn tích của thời đại anh hùng mà anh và các đồng đội đã trải qua. Dan không có tham vọng duy trì công lý cũng không muốn tạo ra trật tự mới dù anh rất thông minh và mạnh mẽ. Dan là mẫu người lười hành động và anh chỉ hành động khi những người thân thiết với anh gặp nguy hiểm, đặc biệt là sau cái chết của Nite Owl đời trước – một người Dan rất kính trọng. Khi hành động, Dan vẫn giữ nguyên tắc cứu mạng người là trên hết. Dan có thể thấu hiểu được sự mong muốn đồng cảm và đời sống bình thường của Silk Spectre (đôi khi không biết cô này đi làm anh hùng để làm gì), hiểu được sự cô độc của Dr Manhattan, hiểu được sự giận giữ của Roschach, hiểu được tham vọng điên cuồng của Veidht. Mặc dù nhiều nhà phê bình truyện tranh cho rằng Dan chỉ là sự tái hiện Batman của DC, nhưng Dan lại có các phẩm tính hoàn toàn khác: phẩm tính của một anh hùng hiểu lòng người, trân trọng mạng sống của con người, và cũng chính bởi thế không thể ra tay hành động như các anh hùng khác.

Năm hình mẫu anh hùng này là đại diện cho năm triết lý sống, năm hình mẫu người vĩ đại, năm lối ứng xử của các chính trị gia đối với thế giới. Những hình mẫu này hợp tác với nhau, xung đột với nhau và tất cả đều xung đột với đám đông loài người. Veidht mong muốn hòa bình trên thế giới bằng cách thống nhất thế giới nhưng loài người chỉ quan tâm đến việc phân phát năng lượng miễn phí khắp thế giới là xu hướng xã hội chủ nghĩa. Dr Manhattan muốn đưa những nhận thức tuyệt đỉnh của mình để nâng cao nhận thức của nhân loại nhưng loài người chỉ muốn biến anh thành thứ vũ khí. Roschach muốn thực thi công lý và sự thật nhưng pháp luật của loài người xếp anh vào loại tội phạm nguy hiểm. The Comedian và Nite Owl là hai hình mẫu khác, hai hình mẫu không có lý tưởng như hai mặt đối lập. Họ trở thành anh hùng vì họ có năng lực và có những nhiệm vụ phải thực thi. Sự khác biệt của họ là ở nguyên tắc sống. Nguyên tắc sống của The Comedian là coi thường mọi sinh mạng còn Nite Owl trân trọng mọi sinh mạng. Năm hình mẫu này đã cho thấy quy mô triết học mà bộ truyện tranh cũng như bộ phim này đạt tới. Tất cả sự xung đột của các nhận thức ấy được biểu hiện trên thực trạng xã hội Mỹ những năm sau 75, tạo ra các phân mảnh xã hội, sự đổ vỡ của niềm tin và giá trị sống phương Tây. Đó mới là sự hủy diệt. Nhưng đúng như Dr Manhattan đã nhận định khi chạm gần mốc hủy diệt chỉ mang tính biểu tượng và mọi thứ không phải là sự kết thúc.

Cả bộ phim là một cuộc tranh cãi, chiến đấu chống lại nhau của những anh hùng để mang lại hòa bình cho những con người luôn chống lại họ. Đây quả thực là một trò đùa, một trò đùa lớn lúc hạ màn. Một kết thúc buồn cho những ai có cái nhìn của các anh hùng và một kết thúc đắc chí cho những người chống lại anh hùng. Sau tất cả, những âm mưu vẫn phải che giấu, người tốt vẫn phải mang tiếng xấu, loài người vẫn tiếp tục tham lam và sẽ vẫn có nhiều người phải chết oan để chuộc tội cho lòng tham của nhân loại. Thế giới vẫn tiếp tục ở trong một nền hòa bình giả tạo.

Hà Thủy Nguyên

Tiểu thuyết “Hồ Qúy Ly” và bài học Canh Tân

blogpost thumb

Trong số các nhà văn dã sử của nền văn học hiện đại Việt Nam không thể không nhắc tới nhà văn Nguyễn Xuân Khánh với tiểu thuyết lừng danh “Hồ Qúy Ly”. Có thể nói Nguyễn Xuân Khánh là một cây đại thụ! Người ta chỉ nhận ra một cây đại thụ khi nó đã đủ lớn. Người đọc cũng chỉ biết đến ông từ sau khi “Hồ Qúy Ly” được xuất bản.Giữa lúc tình trạng văn học nước nhà vào những năm 90 đang rơi vào cảnh èo uột, không có tác phẩm nào đáng kể thì “Hồ Qúy Ly” như một cơn địa chấn lớn khiến độc giả bừng tỉnh.

book_hunter_ho_quy_ly

Canh tân qua góc nhìn của những nhân vật cùng thời đại

“Hồ Qúy Ly” không đơn thuần kể lại câu chuyện của thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15 mà nhà văn đang “ôn cố tri tân”. Cuốn sách không viết về nhân vật lịch sử Hồ Qúy Ly mà viết về thời đại của Hồ Qúy Ly. Chúng ta ai cũng biết Hồ Qúy Ly là một nhà cách tân thời kỳ phong kiến. Khi nắm quyền lớn trong tay, dưới một người mà trên muôn người, Hồ Qúy Ly đã đưa ra các cách tân quan trọng trong xã hội đương thời. Ông đề xuất giảm bớt những chính sách ưu đãi về phân chia điền địa với quý tộc nhà Trần. Trong hai thời đại Lý- Trần, Phật giáo được tôn vinh, nhiều thanh niên quy y cửa Phật, Hồ Qúy Ly bắt họ hoàn tục, cắt giảm quyền lợi của nhà chùa, và bắt đầu có những biểu hiện đầu tiên của “độc tôn Nho giáo” mà sau này nhà Lê đã thực thi một cách thành công. Ông thực hiện rất nhiều cách tân, nhưng cách tân quan trọng nhất chính là sử dụng tiền giấy. Với một loạt những cách tân đầy tiến bộ nhưng lại dồn dập trong thời gian ngắn ngủi và thời điểm không thích hợp có lẽ đã trở thành nguyên nhân thất bại của triều đại nhà Hồ.Tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh không những khắc họa chân thực không khí thời đại mà còn đưa ra rất nhiều điểm nhìn đối với cuộc cách tân.

“Hồ Qúy Ly” có một cấu trúc đặc biệt. Mỗi chương viết về một nhân vật lịch sử trong thời đại ấy: Trần Nghệ Tông, Hồ Nguyên Trừng, Trần Khát Chân, công chúa Huy Ninh… và đương nhiên là có Hồ Qúy Ly. Cùng một cuộc cách tân ấy, mỗi người có một cách nhìn nhận, một thái độ và một phản ứng.

Câu chuyện được kể bằng ngôi thứ nhất – “tôi”, chính là Hồ Nguyên Trừng. Đây thật sự là một phương pháp đặc sắc trong dòng văn học dã sử. Trong các tiểu thuyết dã sử của cả phương Tây (“Ai-van-hô”, “Robinhood”, “Chiến tranh và hòa bình”…) hay phương Đông (“Thủy Hử”, “Tam Quốc diễn nghĩa”, “Nho lâm ngoại sử”…), các nhân vật thường ở ngôi thứ ba nhằm mục đích thể hiện tính khách quan trong các sự kiện. Nhưng ở tác phẩm này, mọi sự kiện, xung đột đều được nhìn nhận và đánh giá qua con mắt của Hồ Nguyên Trừng, tác giả “Nam ông mộng lục”. Bằng phương pháp này, tác phẩm tạo được một hiệu ứng khác so với những tác phẩm văn học dã sử trước đó. Người đọc cảm nhận thấy mình như người trong cuộc, cũng được chứng kiến tận mắt cuộc cách tân thời ấy. Cũng qua nhân vật Hồ Nguyên Trừng, nhà văn gửi gắm được suy tư, nỗi đau thân phận của người trí thức trước bao biến thiên của lịch sử.

Hồ Nguyên Trừng là một nhân vật tài hoa ở thời kỳ ấy. Theo sử sách ghi chép lại, ông là người toàn đức toàn tài, văn võ song toàn. Bản thiết kế thành Tây Đô (Thanh Hóa) chính là của ông. Ông còn sáng chế ra “Thần Cơ hỏa sang”, một loại súng trường đầu tiên ở đất Việt. Khi quân Minh xâm chiếm Đại Việt, cha con Hồ Qúy Ly bị áp giải về Trung Quốc chịu phạt, Hồ Nguyên Trừng nhờ tài năng xuất chúng mà vẫn được cất nhắc làm quan, đến chức Công bộ thượng thư. Những năm tháng ở đất Bắc, ông đã viết tác phẩm “Nam ông mộng lục” nổi tiếng. Trong lời tựa của “Nam ông mộng lục”, tác giả có viết: “Những nhân vật trong sách, một thời phồn hoa, rồi thời cuộc biến đổi không còn để lại vết tích, chỉ còn một mình tôi biết được và kể ra, như vậy chẳng phải mộng là gì”. Hồ Nguyên Trừng trong “Hồ Qúy Ly” không những có đầy đủ tài năng ấy mà còn chấp chứa biết bao tâm sự ưu thời mẫn thế, thân phận của tài năng bị chèn ép giữa các thế lực chính trị.

Ấn tượng sâu đậm nhất mà người đọc cảm nhận được ở Hồ Nguyên Trừng đó chính là một sự chán nản triền miên trước thời cuộc. Trong khi Hồ Qúy Ly, Hồ Hán Thương, Nguyễn Cẩn… thậm chí là cha con Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi lao theo cuộc cách tân viển vông; phía bên kia là Trần Khát Chân và quý tộc nhà Trần ráng hết sức chống đối, thủ cựu và tìm mọi cách để kéo dài triều đại… thì Hồ Nguyên Trừng đắm mình trong nghệ thuật, trong những mối tình say đắm. Cả hai mối tình, thứ nhất với quận chúa Quỳnh Hoa, thứ hai với cô kỹ nữ Thanh Mai, đều bị bao vây bởi những âm mưu, thủ đoạn chính trị. Thế lực thủ cựu của quý tộc nhà Trần những mong có thể dùng “mỹ nhân kế” để gây ảnh hưởng và ràng buộc ông. Nhưng bằng trái tim đa cảm của nghệ sĩ và tấm chân tình tha thiết, ông đã lôi kéo hai người đẹp về phía mình, để họ thoát khỏi những âm mưu thâm độc và cũng đáp lại ông bằng một tình yêu cao cả, thiêng liêng. Hồ Nguyên Trừng đã phải đau đớn mà thốt lên rằng: “triều đình cũng bị chia rẽ thành hai phe: phe Tôn thất nhà Trần và phe của cha tôi. Và hậu quả tất nhiên là những sự lôi kéo. Trong đám cưới của tôi, tôi hiểu rằng tôi là một con mồi mà cha tôi quăng ra giữa dòng nước, họ nhà Trần như một con cá lớn đớp lấy tôi, và cha tôi cầm chiếc cần câu. Tôi là kẻ đứng giữa, và hai bên cùng co kéo.” Suy cho cùng, thân phận chung bậc trí giả cũng chỉ là như vậy. Kẻ đọc sách thời nào cũng mong được mang tài kinh luân của mình ra để giúp thiên hạ, nhưng thực ra họ trở thành những con cờ cho các thế lực chính trị lớn nắm quyền bính trong tay điều khiển. Khi cần chúng trọng dụng, khi phật ý chúng bạc đãi. Trong lịch sử có biết bao ví dụ như thế: Hán Cao Tổ giết Hàn Tín, Chu Nguyên Chương diệt Minh giáo, Nguyễn Trãi bị oan ở Lệ Chi Viên… chẳng phải là những chứng nhân quá rõ ràng sao? Là kẻ đọc sách, thiết nghĩ nhà văn Nguyễn Xuân Khánh cũng thấu hiểu điều ấy. Ở thời của ông, không ít nghệ sĩ, trí thức tài năng những mong dùng tài năng của mình dành độc lập, tự do cho dân tộc, xây dựng một đất nước dân chủ, văn mình… Để rồi, khi thành công, họ nhận được những gì? Chẳng gì cả ngoài hai bàn tay trắng.Thế lực chính trị đã từng giương cao lá cờ chính nghĩa lúc này mới bộc lộ sự vị kỷ và bảo thủ mà vụ án Cải cách ruộng đất và Nhân văn – Giai phẩm chẳng phải là minh chứng rõ ràng đó sao. Vừa là người trong cuộc, lại vừa là người đứng ngoài mọi tranh chấp xấu xa, Hồ Nguyên Trừng chỉ còn biết giữ một tâm trạng là “buồn” – cái buồn của lũ người “lạc loài”, bị “quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh”. Không chỉ có Hồ Nguyên Trừng mà biết bao tài năng trong thời ấy cũng có chung tâm trạng như Trần Khát Chân, Phạm Sinh, hay thậm chí là ông vua già Trần Nghệ Tông, ông vua trẻ Trần Thuận Tông… Tâm trạng của Hồ Nguyên Trừng cũng chính là tâm trạng của ông Nguyễn Xuân Khánh và nhiều trí thức, văn nghệ sĩ thời đại đứng trước những xung đột của các thế lực chính trị và một xã hội bất công, nghèo nàn, lạc hậu mà chỉ biết buông tiếng thở dài bất lực.

Bài học cải cách từ cuộc Canh tân của Hồ Quý Ly

Giá trị lớn nhất của tác phẩm “Hồ Qúy Ly” nằm ở bài học lịch sử : “Canh tân”. Có thể xem cuộc “Canh tân” của Hồ Qúy Ly là cuộc canh tân táo bạo nhất cho đến thời điểm đó. Những cải cách của ông được ghi lại trong cuốn “Minh đạo” (dịch Nôm là “Con đường sáng”).

Đối với “Minh đạo” cũng như cả cuộc canh tân, trí giả thời đó, kẻ chê, người khen, cũng có kẻ bằng mặt mà chẳng bằng lòng… Nhưng rõ ràng, tại thời điểm đó, một cuộc cải cách là cần thiết. Trong câu chuyện, tác giả để Hồ Qúy Ly nhấn mạnh về một “phương thuốc lớn”. Việc làm chính trị chẳng khác gì y đạo, cũng có bắt bệnh, cũng có kê đơn. Nhưng người làm nghề y mỗi lần chỉ có thể bắt bệnh kê đơn cho một người, còn kẻ làm chính trị thì phải bắt bệnh, kê đơn cho cả một dân tộc.Để bắt được bệnh đã khó, không khéo không có bệnh lại chẩn đoán thành có bệnh, có bệnh lại cứ tưởng rằng vô sự; nhưng bắt được đúng bệnh rồi thì kê đơn ra sao đây, âu cũng là việc khó. Cái căn bệnh ấy, chính ông vua già Trần Nghệ Tông là người nhận thức được hơn ai hết. “Chính ông là bà đỡ cho những cải cách của Quý Ly, đã giúp Quý Ly tiêu diệt những đối thủ, ngay cả khi đối thủ ấy là con cháu ông. Lại cũng vẫn chính ông là người muốn kéo dài đến vô hạn cơ nghiệp của nhà Trần, tổ tiên ông, mặc dầu ông biết điều đó không thực tế, mặc dầu ông biết các tôn thất, các cựu thần nhà Trần ở mọi nơi hiện đang thối ruỗng. Vậy ông đang tự chống lại bản thân. Ông có miếng thịt thối, muốn cắt đi, nhưng vì nó là cơ thể ông nên không đành lòng. Đó chẳng phải cũng chính là căn bệnh thời đại của chúng ta hay sao? Miếng thịt thối ấy ai là người dám cắt bỏ để giữ cho cơ thể được khỏe mạnh?Hay cứ để nó đấy vì tiếc xương thương thịt rồi hoại tử mà chết? Đứng trước vận mệnh của dân tộc: hoặc là đổi mới hoặc là bại vong, việc từ bỏ những quyền lợi của một tổ chức cầm quyền để thực hiện một cuộc Cách mạng toàn diện là điều cần thiết. Nhà Trần đã không dám dũng cảm thực hiện sứ mạng ấy và chuốc lấy bại vong, là điều đương nhiên.

Bài học Canh tân trong “Hồ Qúy Ly” còn là bài học về lòng dân. Đối lập với phe Canh tân là phe thủ cựu, đáng tiếc rằng phe thủ cựu lại nắm phần đông. Nhưng tại sao những biện pháp của Hồ Qúy Ly là cần thiết mà triều nhà Hồ vẫn thất bại thảm hại? Trước hết phải nói rằng vì Hồ Qúy Ly quá nôn nóng. “Minh đạo” là hướng đi tiến bộ, nhưng không thể một sớm một chiều có thể thực thi. Điển hình nhất là việc sử dụng tiền giấy. Người dân ta thời ấy chưa ý thức được giá trị của tiền tệ và chưa có một nền tài chính hoàn thiện, việc sử dụng tiền giấy thực là chuyện viển vông. Nhưng sai lầm nghiêm trọng hơn là việc xây thành Tây Đô.Giữa lúc ngân sách quốc gia thiếu hụt trầm trọng, người dân còn sống lầm than, chiến tranh với Chế Bồng Nga vừa mới kết thúc và sắp sửa đương đầu với quân Trung Hoa, thành Tây Đô chẳng khác nào được xây lên bằng xương bằng máu của dân khiến người dân oán than. Quan trọng hơn cả, chính tầng lớp trí giả thời ấy cũng không đồng tình với các biến pháp của Hồ Qúy Ly. Thái độ của Trần Khát Chân, Phạm Sinh, Sử Văn Hoa và thậm chí cả Hồ Nguyên Trừng thể hiện rõ điều ấy. Tại sao vậy khi nhà Hồ luôn thực hiện các chính sách chiêu hiền đãi sĩ? Ấy là bởi Hồ Qúy Ly quá cố chấp, không muốn nghe lời can gián, luôn đàn áp phe bất đồng quan điểm mà không hề tiếp thu hay thuyết phục họ. Bởi vậy mà người đời quay lưng với biến pháp hay nói đúng hơn là quay lưng với nhà Hồ, khởi nghĩa của nông dân nổi lên khắp nơi, bên ngoài thì giặc phương Bắc dòm ngó, cha con Hồ Qúy Ly cuối cùng vẫn chung một kết quả với nhà Trần.

Qủa thực, phương thuốc lớn cho một dân tộc không dễ kê đơn. Hồ Qúy Ly bắt mạch được căn bệnh của thời đại mình, kê được đơn thuốc rồi nhưng vì không biết dùng đúng thời điểm và liều lượng mà dẫn đến thất bại. Không chỉ thế, việc dùng thuốc sai cách ấy ảnh hưởng tới sự tồn vong của dân tộc. Nếu như thời ấy hai gia tộc Trần – Hồ cùng bắt tay nhau để thực hiện Duy tân thì triều đình nhà Minh đã chẳng giương lá cờ “Phù Trần diệt Hồ” ngụy tạo, đưa hàng vạn quân lính vào xâm lược nước ta được. Đó là bài học xương máu cho chúng ta trong công cuộc cải cách và thực hiện tiến trình dân chủ ở hiện tại và tương lai.

Hà Thủy Nguyên

(*) Ông Nguyễn Xuân Khánh bắt đầu sự nghiệp viết lách từ năm 1955, cùng thời với Nguyên Ngọc, Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng… Khi tên tuổi Nguyễn Xuân Khánh mới chớm xuất hiện nhờ vài truyện ngắn thì sự kiện “Nhân văn giai phẩm” khiến ông “chìm xuồng” cùng biết bao cây bút khác. Sau khi bị treo bút, ông phải bươn chải đủ mọi nghề để kiếm sống, nào thì làm thợ may 7 năm, bán máu 3-4 năm, thợ khoá, dịch sách, hợp tác xã mua bán và lao động cải tạo cùng với lưu manh đĩ điếm 1 năm. Khi bắt đầu xuất bản “Hồ Qúy Ly”, ông Xuân Khánh vẫn chỉ là ông thợ cạo ở vỉa hè Hà Nội. Cho đến bây giờ, ông có tất cả 4 tác phẩm là “Hồ Qúy Ly”, “Trư cuồng” và “Mẫu Thượng Ngàn” và mới đây là “Đội gạo lên chùa”. Riêng “Trư cuồng” được viết bằng một hình thức đặc biệt của văn học Nam Mỹ – văn học hiện thực huyền ảo. “Trư cuồng” bị cấm xuất bản ở Việt Nam vì tác phẩm phản ánh xã hội Việt Nam trong thờ kỳ bao cấp. Mặc dù sau này ông viết “Mẫu Thượng Ngàn”, “Đội gạo lên chùa” cũng thu hút được nhiều độc giả, nhưng tác phẩm tâm huyết cả cuộc đời ông chính là “Hồ Qúy Ly”, mới thực sự ám ảnh người đọc.

“Anonymous” – Chỉ ý tưởng là bất tử

blogpost thumb

Bộ phim “Anonymous” (2011) do Roland Emmerich đạo diễn, đã đặt ra một giả thuyết khác về thân phận nhiều tranh cãi của William Shakespeare. Tác giả thật sự của những vở kịch và những bài thơ ký tên W. Shakespeare hay Anonymous là Edward de Vere, bá tước xứ Oxford dưới triều đại của nữ hoàng Elizabeth I. Bá tước là một người uyên bác, đam mê thi ca và kịch nghệ. Ông là người ảnh hưởng đến một cuộc nổi dậy của các bá tước chống lại gia tộc Cecil đang nắm quyền lực chi phối nữ hoàng lúc bấy giờ, nhưng họ đã thất bại. Edward de Vere từ một người giàu có và quyền lực cuối đời chết trong cô đơn, tuyệt vọng, nhưng hơn ai hết, ông biết rằng ngôn từ của ông có quyền lực hơn bất cứ vị thế chính trị hay sức mạnh quân sự nào. Một tư tưởng không thể nhìn thấy được, nhưng nếu biết cách làm nó sẽ thay đổi toàn bộ cục diện.

Những nhà văn là những kẻ thất bại trong cuộc sống, họ không làm ra của cải vật chất, họ không có quyền bính trong tay, họ – thậm chí còn bị thời đại của mình hiểu lầm, hắt hủi hoặc tệ hơn thế: lãng quên. Nhưng điều gì khiến họ chấp nhận tất cả những thiệt thòi ấy, cầm lấy cây bút và miệt mài đắm chìm trong những trang viết? Nhiều người đã đặt ra câu hỏi, viết để làm gì? Bà vợ của Bá tước Edward cũng đã đặt ra câu hỏi ấy. Edward kể cho người vợ chẳng bao giờ có sự đồng cảm với ông về những tiếng nói trong đầu, những thân phận đau khổ, những vần thơ bay bổng, những ý chí thời đại… Và với Edward, viết là một sự giải thoát. Và những người cùng thời với ông, giữa thời đại Nhà Thờ nắm quyền tối cao, ông thật sự là một “con người quỷ ám”. Chẳng phải vô lý, gia đình Cecil – đại diện cho Nhà Thờ – lại coi Nghệ thuật thuộc về Qủy dữ.

Không thể đọc văn chương thơ ca mà không sử dụng trí tưởng tượng. Chúng ta bắt buộc phải tưởng tượng các hình ảnh trong khi đọc, nếu không chúng ta sẽ không thể cảm nhận bất cứ điều gì. Như thể chúng ta tạo ra một bộ phim hoặc một bức tranh trong tâm trí của mình và ngồi xem rồi chiêm nghiệm những gì xảy ra trong đó. Khi các nhân vật trong tưởng tượng có cảm xúc, chúng ta cũng bị tác động. Chúng ta bị cuốn theo tâm trạng nhân vật, bị dẫn dắt bởi tư tưởng của tác giả một cách vô thức. Bằng sự hấp dẫn đầy mê hoặc của sự sắp xếp ngôn từ, các tác giả đã thôi miên chúng ta và chúng ta chấp nhận để họ cài cắm ý tưởng trong sự tự nguyện và hồ hởi. Đó là cách các tác phẩm dấy động cảm xúc và ảnh hưởng tâm trí của độc giả. Đó cũng là lý do tại sao văn chương – nghệ thuật lại nguy hiểm đến vậy, tại sao các tác giả luôn là nạn nhân của những cuộc “văn tự ngục”.

 

anonymous_movie_poster_rev_001_by_dwarr26-d4decge

 

Xa hơn những gì các chính trị gia có thể nhìn thấy về các tác phẩm văn chương, đó là chúng không dừng ở mục đích chính trị. Khi đọc từng câu từng chữ, theo dõi các biến cố diễn ra… chúng ta bị đẩy vào tình thế phải đối diện với bản thân mình. Chúng ta bắt đầu hoài nghi nhiều hơn về thực tại chúng ta đang sống, và dần dần nảy sinh câu hỏi: “Thế rốt cuộc bản chất của con người là gì?”. Vậy là chúng ta bước vào chặng đường khám phá chúng ta là ai. Khi chúng ta đặt câu hỏi về chính mình và quyết tâm dành cả đời để khám phá ra chân lý ấy, không một quyền lực chính trị nào, không một niềm tin tôn giáo nào, không một sự khoa trương vàng bạc nào có thể trói buộc được. Bởi thế, cái điều mà các Sách giáo khoa môn văn vẫn nhồi nhét vào đầu học sinh một cách sáo rỗng: “Văn chương làm chúng ta người hơn”, quả là không sai. Và biết đâu, những chính trị gia muốn vùi dập những tác phẩm văn chương, không hoàn toàn vì họ sợ chúng kích động người dân, có lẽ, họ sợ phải đối mặt với bản thân mình, như chính nữ hoàng Elizabeth I trong bộ phim.

Xong rồi thì, mọi đền đài, cung điện, mọi quyền lực, danh tiếng… đến một ngày cũng sẽ biến mất, ai rồi cũng phải chết. Và tại sao chỉ có ý tưởng là bất hủ. Đến giờ đây, khi chúng ta đã biết về Vũ trụ Toàn ảnh, khi loài người nhận ra rằng thông tin không được lưu trữ trong não bộ mà được cất giữ đâu đó ngoài vũ trụ bao la kia, thì sự bất tử của ý tưởng càng được khẳng định. Khi một nhà văn viết điều gì đó trên giấy, tờ giấy có thể bị hủy hoại, ông ta có thể không có tên tuổi, nhưng ý tưởng của ông ta có thể lan truyền trong dân chúng một cách bí ẩn, thậm chí kể cả khi ông ta bị người đời lãng quên, một ai đó ở thời đại sau sẽ kết nối được và làm sống dậy ý tưởng ấy. Edward de Vede có thể ẩn danh, mãi mãi là một kẻ “anonymous”, vì hơn ai hết ông ta hiểu rằng ý tưởng vĩ đại hơn tác giả. Những lời cuối cùng của Edward căn dặn lại Ben Johnson, một biên kịch đã phản lại ông trong cuộc nổi dậy, thể hiện một sự vượt thoát mọi cản trở của thứ thời đại chật hẹp để vươn tới những ý tưởng cao đẹp: “Ngươi có thể phản bội ta, nhưng ngươi không thể phản bội các tác phẩm của ta”.

Hà Thủy Nguyên

“Nghệ thuật và Vật lý” – Một tiến trình tương tác thay đổi tư duy của Văn minh phương Tây

blogpost thumb

 

Tiến trình của sách:

Tác giả đưa ra sự tương đồng của Vật lý và Nghệ thuật về mặt Không gian – Thời gian – Ánh sáng. Mỗi khi một nhà khoa học nghi ngờ về thực tại và tìm được cách lập luận hoặc minh chứng cho điều họ suy nghĩ về thực tại, thì nghệ sĩ trước đó nhiều năm đã có nhiều tác phẩm thể hiện ý tưởng về điều đó. Có lẽ vì vậy mà tác giả chủ yếu viết về nghệ thuật thị giác – một loại hình nghệ thuật gần gũi nhất với việc “nhìn” thế giới. Khi cái nhìn về thế giới thay đổi thì cách nghĩ của cả thế giới sẽ thay đổi theo: Từ thần quyền đến tuyến tính, từ tuyến tính đến độc tôn Kito giáo, và từ Kito giáo lại quay lại tuyến tính, và đến bây giờ chúng ta đang bàn với nhau về phi tuyến, và về không gian cong.

Cuốn sách nói về sự tương phản của não phải và não trái, Dionysus và Apollo… lần lượt thay nhau thống trị con người. Nhưng rõ ràng, với việc thay đổi cách nhìn thế giới trước thông qua nghệ thuật như hội họa, âm nhạc và văn chương đã tạo ra tiền đề cho các cuộc cách mạng về tư duy trên thế giới.

 

TÓM TẮT NỘI DUNG

 

Chương 1: Ảo ảnh/ Hiện thực

–          Tác giả đưa ra những mối liên hệ giữa Nghệ thuật và Vậy lý. Hai lĩnh vực này có sự tương đồng đó là cùng khám phá bản chất của hiện thực, cả hai đều coi trọng vẻ đẹp của sự thanh nhã và tính đối xứng. Dấu “=” trong Vật lý là một ẩn dụ cơ bản được nghệ sĩ sử dụng tương đương với các ký hiệu hay biểu tượng thông qua trải nghiệm.

–          Những cách tân trong nghệ thuật thị giác là giai đoạn tiền ngôn ngữ của các khái niệm. Từ các hình ảnh mới nảy sinh ra các ý tưởng trừu tượng và con người sử dụng ngôn ngữ để mô tả hình ảnh đó. Vì vậy, tác giả khẳng định nghệ thuật thị giác là loại tư duy nguyên thủy. Điều này tương đồng với sự phát triển của trẻ em.

–          Tuy nhiên, việc đẩy cao tư duy trừu tượng làm thui chột khả năng sáng tạo, vì để học một cái gì đó mới lạ, ta cần phải hình dung ra nó trước khi có khái niệm về nó. Con người khi trưởng thành hay ở trong các nền văn minh, đa phần nghĩ về thế giới thông qua các khái niệm mà không qua trải nghiệm hình ảnh. Tuy nhiên,  những nghệ sĩ vẫn giữ được khả năng tưởng tượng nguyên sơ này. Vì vậy, nghệ thuật là một hệ thống cảnh báo từ xa có khả năng tiên tri trước sự phát triển của nhân loại: sự chuyển dịch khái niệm, dự cảm về những khám phá khoa học. Và đó chính là sự vĩ đại của nghệ thuật. Khi nghiên cứu Qúa khứ, chúng ta đều thấy rằng Nghệ thuật luôn đi trước khoa học nghiên cứu về thực tại. Ngay cả khi những nghiên cứu đó được thừa nhận thì nghệ sĩ lại tiếp tục sáng tạo ra những hình ảnh hòa hợp với nhận thức mới.

–          Một vấn đề đặt ra là “Ta hiểu thế giới bằng cách nào?” Plato cho rằng bản chất thực tại mà chúng ta đang thấy chỉ là những thông tin thứ cấp và gián tiếp. Decartes khẳng định sự khác biệt giữa con mắt bên trong của tưởng tượng và thế giới sự vật bên ngoài. Nhưng đến Kant, ông cho rằng những thứ chúng ta nhận biết về sự vật đều thông qua xử lý của trí não, nên chúng ta không thể nhận biết về “vật tự nó”. Hay nói như Schopenhauer, “Thế giới chỉ là ý niệm của tôi”. Từ đó cho thấy năng lực để chúng ta nắm bắt cái ngoài kia chính là trí tưởng tượng. Chúng ta dựng nên môt thực tại tách biệt, được sáng tạo bởi ý thức tư duy, phi vật thể hóa. Bởi vậy,  chân lý chỉ là “sự phù hợp cái vẻ bên ngoài với thực tại” (Alfred North Whitehead). Sự nhất trí của một đám đông ở một giai đoạn lịch sử tạo ra hệ hình tư duy cho thời điểm ấy và quyết định dòng chảy nhận thức của các thế hệ.

–          Bốn cột trụ của Thực tại bao gồm: Không gian, Thời gian, Ánh sáng, năng lượng và vật chất. Tuy nhiên, trong sự liên hệ giữa Vật lý và Nghệ thuật, tác giả chỉ khảo sát các vấn đề Không gian – Thời gian – Ánh Sáng và chủ yếu dựa trên nghệ thuật thị giác (loại hình nghệ thuật gần gũi với Vật lý nhất).

 

images-venus

 

Chương 2: Nghệ thuật Cổ điển/ Triết học lý tưởng

–          Trong tất cả các nền văn minh cổ trên thế giới, thực tại luôn xoay quanh chuyện “bên trong” và “bên ngoài”, “thực” và “ảo” và họ lý giải bằng thần thoại. Nhưng người Hy Lạp đưa ra phương tiện mới để lý giải: “Lý trí”.

–          Người Hy Lạp đã hoàn thiện bảng chữ cái của người Phoenicia và bổ sung ngôn ngữ Indo-Aryan để tạo bảng 22 chữ cái bao gồm cả phụ âm-nguyên âm. Sự ra đời của bảng chữ cái làm tăng khả năng xử lý thông tin, đẩy cao tư duy trừu tượng và dần dần ngôn ngữ tách khỏi mối liên hệ với hình ảnh. Bảng chữ cái là biểu hiện đầu tiên của tư duy tuyến tính với chuỗi nhân quả. Thế nhưng, chỉ với hình học phẳng Euclide (300 TCN) thì tư duy tuyến tính mới có nền tảng vững chắc. Trong hình học phẳng, không gian là một khối rỗng không mà ta có thể bố trí các vật thể. Thời gian, theo quan niệm Hy Lạp cổ đại, mang tính tuần hoàn, nhưng họ lại hoang mang khi cái chết xảy đến mà không hề có sự tuần hoàn. Vì thế người Hy Lạp cổ đại, cụ thể là Aristote với phép Tam đoạn luận đã nắn dòng thời gian thành tuyến tính: Qúa khứ – Hiện tại – Tương lai. Nhưng trên thực tế chẳng có đường thẳng nào là hoàn hảo, người ta chỉ thấy đường thẳng duy nhất là đường chân trời. Với quan niệm về Không- thời gian như vậy, họ cho rằng ánh sáng là một dạng vật chất có thể chuyển động từ nơi này sang nơi khác.

–          Các họa sĩ Hy Lạp cổ đại từ trước khi có hình học phẳng Euclide đã đưa ra những tiêu chuẩn phối cảnh trong các công trình kiến trúc hoặc điêu khắc  để tạo cảm giác mặt phẳng như sau: Các cột ngoài phải dầy hơn các cột phía trong. Và mọi nguyên tắc đối xứng trong hình Tam giác cân(cơ thể người) và kiến trúc cổ điển đưa ra tỉ lệ 5-8 cho tất cả các công trình lý tưởng

Chương 3: Thiêng liêng/ Phàm tục

–          Từ năm 400 – 1250, chế độ Chính trị nhà thờ Kyto giáo đã phá hủy nền văn minh Hy Lạp cổ đại và tạo ra dạng tư duy riêng cho thời kỳ này. Kinh Thánh quan niệm không gian chia ra Thiên Đường – Trần gian – Địa Ngục, không gian cố định đã bị cắt khúc và thời gian không có tuyến tính chỉ bắt đầu sau Sáng thế ký (5000 TCN)

–          Trong đêm trường Trung Cổ, người ta chống đối tư duy duy lý, khiến cho các nghệ sĩ sáng tác không có nền tảng đành phải tạo ra hình thức mới. Thời kỳ đầu, trên tường các nhà thờ thường dùng các hình ảnh để kể lại Kinh Thánh (hậu quả của việc mù chữ). Tuy nhiên, phần đặc sắc nhất là mái vòm được làm dạng tranh ghép từ các mẩu vuông phản chiếu hòa tan tính vật liệu thành hình ảnh phi vật liệu.

–          Các họa sĩ thời kỳ này vô danh nên các tác phẩm thể hiện rõ sự phân mảnh, tuy nhiên vẫn có một dạng biểu tượng chi phối các mảnh của sáng tác, đó là các chủ đề về Chúa Jesus và các thiên thần…

–          Kinh Thánh cho rằng Ánh sáng là ngoại chất của linh hồn, có thể làm cầu nối giữa thời gian này và thời gian khác, là phương tiện để linh hồn có thể đi lại trong chiều Không – thời gian khác nhau. Kiến trúc Gothic nổi bật nhất  đối lập với Ánh Sáng. Ánh sáng đối lập với vật liệu nặng nề, ảm đạm, nhưng khi các cửa sổ kính màu đặt ở trên cao đã làm tăng ý niệm vật chất là vô nghĩa.

book_hunter_byzantine

Chương 4: Phối cảnh tính / Trạng thái nghỉ tuyệt đối

–          Phát minh máy in của Gutenberg vào năm 1445 đã đẩy cao ưu thế của chữ viết. Việc chữ viết được phổ biến rộng khiến cho tư duy tuyến tính của Euclide và Aristote được tái lập.

–          Tuy nhiên, từ thế kỷ 14, Giottto di Bonde đã mở đầu cho lối tư duy này qua các tác phẩm hội họa của mình. Ông là người vẽ được phong cảnh từ một điểm bất động được tổ chức theo một trục thẳng đứng và nằm ngang. Mô tả sự chuyển động của thời gian, ông làm “đóng băng” khoảnh khắc lại. Phối cảnh tĩnh là một tiến bộ kỹ thuật quan trọng được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như hàng hải, kiến trúc, quân đội.

–          Piero della Francesca là người đã đưa kỹ thuật “bóng” vào nghệ thuật. Ông cho rằng ánh sáng đi theo đường thẳng giống Aristote nên không thể xuyên qua vật chất. Vì thế bóng tối trở thành dấu ấn độc đáo về ánh sáng trong nghệ thuật.

–          Đến Leonard di Vinci, ông hoàn thiện hơn lý thuyết về bóng khi thấy rằng bóng của các vậ ở xa không sắc nét như ở gần, các vật ở xa cũng có những đường viền không rõ như những vật cận kề hơn.

–          Sự xuất hiện của các danh họa như Giotto, Leonard di Vinci, Michealangelo… là bắt đầu cho kỷ nguyên lấy con người làm thước đo của vạn vật, và kỷ nguyên của “anh hùng đơn độc”.

–          Cùng lúc ấy, Khoa học Hiện đại ra đời khi người ta bắt đầu có những so sánh kiểu tư biện triết học Hy Lạp. Khi Corpernicus vào thế kỷ 14 khẳng định Trái Đất hình cầu và xoay quanh Mặt trời thì chiều thứ ba của không gian bắt đầu được biết đến. Galileo đưa ra khái niệm “trạng thái nghỉ thuyệt đối” so với những chuyển động khác. Ông khám phá ra định luật con lắc và tìm cách chia nhỏ thời gian, làm tiền đề cho khái niệm vận tốc sử dụng trong vật lý. Cũng trong thời này, khoa vẽ bản đồ phát triển nhờ vào lĩnh vực hàng hải muốn mở rộng khám phá thế giới. Họ cần thống nhất chuẩn mực, trải phẳng kinh độ và vĩ độ, cũng như hợp nhất phút giây trên bản đồ. Vậy là Trái đất hình cầu đã được mô tả bằng một mặt phẳng.

Bữa tiệc cuối cùng - Leonardo da Vinci
Bữa tiệc cuối cùng – Leonardo da Vinci

 

Chương 5: Tiến diện Conic/Qũy đạo Elip

–          Các triết gia cổ Hy Lạp như Pythagores hay Plato đều đề cao sự đối xứng với các hình hoàn hảo như hình tròn, hình vuông, hình lập phương… Tuy nhiên họ đã coi thường tiết diện conic, mặc dù trên thực tế quỹ đạo elip phổ biến hơn rất nhiều.

–          Giotto là họa sĩ đầu tiên sử dụng tiết diện conic trong phối cảnh với phép chiếu ba chiều. Với phép phối cảnh này, Johannes Kepler (1571-1630) đã tìm ra quỹ đạo của hành tinh có hình elip. Với minh chứng trên, tác giả khẳng định người nghệ sĩ đã đi trước khoa học phân tích về sự vô hạn của không gian, tiết diện Conic và điểm tụ vô hạn.

 

Chương 6: Nghệ sĩ – Nhà khoa học/ Pháp sư – Nhà Vật lý

–          Newton với khám phá về Luật hấp dẫn đã làm giảm quyền lực của Chúa và khép lại thời Phục Hưng. Ông cho rằng ánh sáng tồn tại ở dạng hạt và không thời gian là tuyệt đối bất biến. Thực ra những điều Newton đưa ra thì Leonard Di Vinci đã đề cập đến từ thế kỷ 15.

–          Trong khi các nhà khoa học còn đang tranh cãi về bản chất của ánh sáng thì Francesco Grimaldi – một họa sĩ hậu Phục Hưng 1665 đã thấy trong cái bóng bao quanh các vật chắn sáng tồn tại một lớp mỏng các vân giao thoa. Từ đó ta có thể thấy ánh sáng là một dòng năng lượng có thể bao quanh các vật thể. Điều này gợi mở khám phá ánh sáng tồn tại ở dạng sóng trước Huygens đến 13 năm (1678).

Chương 7: Hợp lý/ Phi lý

–          Bước vào thế kỷ 18, khoa học thay thế Tôn giáo trong nền Văn minh Châu Âu. Họ tin rằng với lý trí, mọi thứ đều có thể lý giải bằng cơ học. Họ coi con người là một cỗ máy và vũ trụ chỉ bao gồm một chất liệu với nhiều biến thế. Triết học của thời kỳ này cũng dựa trên các lý thuyết duy lý. Độ chính xác trong nghệ thuật được đề cao hơn trực giác và chủ nghĩa Hiện thực nảy sinh. Thậm chí ngay cả những họa sĩ của Chủ nghĩa Lãng mạn cũng tuân theo quy tắc của duy lý.

–          Thế nhưng, ngay từ đầu thế kỷ 17, các nhà thơ lại là những người gìn giữ nghệ thuật và trực giác, chống lại logic và khoa học. Jean Jaques Rousseau (1712 -1778) cho rằng trực giác và tình cảm quan trọng hơn lý trí, tuy nhiên ông đã không thành công. Nhà thơ William Blake (1757 – 1827) là người kịch liệt phản đối nền tảng lý trí. Ông là người thường xuyên nhìn thấy thế giới bên kia và cho rằng Khoa học và Duy vật đem đến sự chết của con người. Những bài thơ của Blake có tính tiên tri vĩ đại, thậm chí những khám phá gần đây nhất về vũ trụ toàn ảnh đã minh chứng cho tiên cảm của ông.

Chương 8: Nghệ thuật Hiện đại/ Chiến thắng của Newton

–          Việc nhiếp ảnh ra đời tác động lớn đến không – thời gian và ánh sáng vào sau thế kỷ 18. Nhưng những mô tả về phát minh này đã được ghi chép trong những văn bản bị giấu kín của Leonard di Vinci.

–          Định đề thứ 5 của Euclide (qua một điểm cho trước chỉ vẽ được một đường thẳng song song với đường thẳng cho trước) đã được chứng minh là không đúng. Điều này phá hủy lý thuyết hình học phẳng. Năm 1854, George Rumann về hình học không gian với phát biểu về tổng các góc trong tam giác lớn hơn 180 độ, không có các đường thẳng song song, và khoảng cách nhất nhất giữa 2 điểm là một đường cong. Ông cho rằng bất cứ người nào bắt đầu một hành trình thì cũng quay về điểm xuất phát.

–          Trước đó, Edouard Manet với bức “Bữa trưa trên cỏ” đã phá bỏ luật phối cảnh khi vẽ không đúng tỉ lệ và ánh sáng của bức tranh như đèn chiếu rọi từ phía người vẽ vào sự vật. Trong bức “Những con thuyền”, ông đã xóa nhòe điểm tụ và uốn cong đường chân trời như thách thức với tư duy hình hỏng phẳng và phép phối cảnh.

–          Claude Monet đã phóng đại khoảnh khắc hiện tại qua việc chộp bắt ấn tượng của cái “bây giờ” – “tính tức thời” bằng những bức tranh vô hướng và chỉ là sự sắp xếp , pha trộn của các mảng màu. Các hình ảnh lan nhòa vào nhau, xóa bỏ đường viền. Ông cho rằng màu sắc (ánh sáng) phải được nâng lên ngôi vị hàng đầu trong nghệ thuật.

–          Paul Cezanne trong tác phẩm của mình đã đưa ra một cách tân về ánh sáng: Ánh sáng không chiếu thẳng theo dạng tia, chòm mà là tản mát với nguồn và hướng không rõ ràng. Ta thấy rõ điều này trong bức “Đỉnh Sainte Victoire”.  Ngoài ra ông phá bỏ việc chỉ có một điểm phối cảnh duy nhất mà cho rằng bức tranh có thể có nhiều điểm phối cảnh khác nhau.

–          Với những ví dụ trên, ta có thể thấy rằng khi người ta nhìn không gian theo cách phi Euclide thì cũng sẽ bắt đầu suy ngẫm về nó theo cách mới.

Bữa trưa trên cỏ - Manet
Bữa trưa trên cỏ – Manet

Chương 9: Einstein/ Không gian, thời gian và ánh sáng

–          Năm 1905, Einstein công bố nghiên cứu về thuyết tương đối hẹp của Galileo và đưa ra quan điểm: không gian, thời gian là tương đối, chỉ có ánh sáng là không thay đổi tốc độ. Thời gian mang tính tương đối và phụ thuộc vào vận tốc của người chuyển động. Khi chuyển động với vận tốc tang dần thì sẽ đem Qúa khứ và Tương lai xích lại gần nhau. Các vật thể trong không – thời gian sẽ biến dạng khi con người chuyển động đạt tới vận tốc ánh sáng. Điều này hoàn toàn đối lập với Euclide vốn cho rằng vật không bao giờ bị biến dạng nếu không có trọng lực tác động.

–          Einstein đã đạp bỏ trạng thái nghỉ tuyệt đối và ánh sáng không phải chỉ làm nền mà còn được đặt cao hơn không – thời gian, phá vỡ kiểu tư duy nhân quả mà Zeno đã từng lập luận chống lại. (Ở thời Hy Lạp cổ đại, lập luận về Achilles và con rùa bị coi là ngụy biện). Einstein cho rằng thực tại mà ta thấy chỉ là một mảnh nhỏ của viên kim cương.

–          Điều này đã làm thay đổi quan điểm về màu sắc.Trước đó, người ta tin rằng màu sắc là thuộc tính thâm căn của sự vật. Màu sắc chỉ mang tính tương đối, không chỉ liên quan đến cấu tạo của vật thể mà còn phụ thuộc vào vận tốc và hướng chuyển động so với người quan sát.

–          Ngoài ra thuyết tương đối hẹp đạp bỏ khái niệm thiêng liêng cho rằng thế giới bên ngoài là một thực tại khách quann và không thể bị con người tác động. Học thuyết khẳng định tính chủ quan của con người, và con người có thể ảnh hưởng tới thế giới khách quan. Những nghiên cứu đó đều được thấy trong tranh của trường phái ấn tượng như Manet, Monet, Cezanne… và họ đã đi trước Einstein cả trăm năm.

Chương 10: Nghệ thuật hồn nhiên/ Thời gian phi tuyến

–          Jean Piaget ở đầu thế kỷ 20 – một nhà nghiên cứu tâm lý học trẻ em đã chứng minh rằng: trẻ em dưới một năm tuổi không nhìn thấy sự bền vững của vật thể, chúng thuôn thấy sự thay đổi hình dạng của vật. Kèm với điều đó, trẻ không hề có nhận thức về thời gian. Chỉ khi lớn lên, đứa trẻ mới nhận thức về không gian và thời gian theo hướng tách biệt nhau. Trẻ thơ làm nhòe ranh giới tư duy và hành động, không gian trong và ngoài, giữa hành động tự nguyện và tính nhân quả; tất cả dẫn đến việc trẻ thường tin rằng tập trung năng lực tinh thần cho một mục đích, khát vọng thì có thể tác động lên hiện thực khách quan. Điều này rất gần với người dân của các nền văn minh trước thế kỷ 6 TCN. Nhờ vậy, các đặc tính của trẻ là trí tưởng tượng, vui vẻ, niềm thôi thúc sáng tạo nghệ thuật

–          Tranh của Henri Rousseau thể hiện sự bóp méo hình theo cách vẽ của trẻ con, tạo sự vui tươi, khác hoàn toàn với các bức tranh trước đó với gam màu trầm.

–          Cùng thời điểm này, văn học cũng xuất hiện những câu hỏi lớn về bản chất thực tại và thể hiện qua cách nhìn thế giới của trẻ thơ. Đáng chú ý là tác phẩm “Alice in wonderland”. Trong tác phẩm, tác giả Lewis Caroll để Alice phình to và thu nhỏ bất thường, một biểu hiện của sự bóp méo không thời gian. Và lời thoại của nữ hoàng Đỏ đã phá vỡ tính nhân quả: “Bây giờ, tại đây, nhà ngươi sẽ thấy: nhà ngươi phải cắm đầu cắm cổ chạy hết sức, để ở y nguyên một chỗ”.

woman-in-red-in-the-forest-henri-rousseau
Người phụ nữ mặc vays đỏ trong rừng – Henri Rousseau

Chương 11: Nghệ thuật nguyên thủy / Không gian phi Euclide

–          Các bộ lạc nguyên sơ không coi trọng việc con người phải phù hợp với hiện thực bằng việc phải tạo ra hiện thực. Điều này đối lập với quan điểm của Plato và Aristote vốn cho rằng con người có bản năng bắt chước thiên nhiên.

–          Cũng giống như trẻ con, những bộ lạc nguyên thủy không đo đạc thời gian và không để ý đến thời gian.

–          Nghệ thuật của người nguyên thủy thể hiện những hình dạng bị bóp dài ra, đường cong được chuộng hơn đường thẳng, thiếu phối cảnh và không có bóng của vật thể. Cách nhìn này còn đúng bản chất của sự vật hơn nhiều so với văn minh châu Âu.

–          Tư tưởng quay về với nguyên thủy ta có thể thấy rõ trong bức “Chiếc bè của Medusa” (Theodore Gericault): Một toán thủy thủ ở trên bè, khi những người da trắng đã buông xuôi đợi chết thì những người da đen vẫn đầy sức sống để tìm cách thoát chết. Sau đó là tác phẩm “Người dụ rắn” Henri Rousseau sử dụng nhiều bút pháp của người nguyên thủy. Ngay cả Paoblo Picasso – họa sĩ vĩ đại của trường phái lập thể cũng bị ảnh hưởng trong việc sáng tác bức “các cô nàng ở Avignon”. Sự quay về với nguyên thủy này cùng một giai đoạn với Einstein và Minkowski phát biểu về “continuum” (vật vĩnh cửu)

Chương 12: Phương đông/ phương tây

–          Sự xâm lược thuộc địa và buôn bán tạo sự giao lưu với văn minh châu Á, và nền văn minh này gây ảnh hưởng đén Manet, Monet, Degas, Gauguin và Van Gogh.

–          Không gian trong quan niệm của châu Á là không gian rỗng.(Bức “cảnh sương mù” của Kano Tangu). Các nhà khoa học thế kỷ 20 đã tìm ra các hạt vật chất trong thực tế lại được tách xuất ra từ một trường trống rỗng bằng các thăng giáng lượng tử. 70 năm trước thuyết tương đối của Einstein, Hokusai không những gợi ra bản chất tương hỗ giữa không + thời gian mà còn bác bỏ quyền tối cao của địa điểm quan sát qua bức tranh vẽ 36 góc nhìn khác nhau về núi Phú Sĩ.

–          Các họa sĩ Trung Hoa cho rằng người vẽ, người xem đều ở trong phong cảnh chứ không phải ngắm nhìn nó từ bên ngoài. Người Trung Quốc coi việc bắt chước thiên nhiên là một trò trẻ con. Họ coi nghệ thuật là một phương tiện để suy tư.

–          Thời gian của người phương Đông là một dòng sông và nhận thức như một người đàn ông đứng bên bờ sông, mặt xuôi về hạ lưu dòng chảy. Tương lai tiến đến anh ta từ phía sau và trở thành hiện tại đúng vào thời khắc nó đi ngang qua chỗ anh ta. Khi anh ta hiểu được hiện tại thì nó thành quá khứ ngay trước mắt.

–          Khái niệm các chu kỳ ở Aztec và quan niệm thần bí Hindu quy thời gian về chỉ là một cái “bây giờ vĩnh viễn”. Ở Ấn Độ, người ta cho rằng thời gian chỉ là ảo tưởng, thời gian không hề diễn tiến, mà chỉ có cái “bây giờ vĩnh viễn” là đích thực. Điều này phải chăng rất tương đồng với “trạng thái nghỉ tuyệt đối” trong lý thuyết của Einstein?

–          Cách vẽ của người phương đông là trạng thái liên tục nhập đồng, không có thời gian để tính toán hay chỉnh sửa. Ngoài ra, các họa sĩ không đưa vào tranh ánh sáng mà chủ yếu là tông đen trắng hoặc các màu mờ nhạt, cũng như không hề vẽ bóng. Việc không nhấn mạnh màu sắc khiến người xem không thể nào đoán định được thời gian.

Chương 14: Trường phái dã thú/ Ánh sáng

–          Cùng thời điểm, 3 trường phái khác nhau đã cùng có sự tương đồng với thuyết Einstein: Dã thú với nhấn mạnh màu sắc, độc tôn ánh sáng; Lập thể với biến thể mới về thời gian từ hình học phẳng Euclide; Vị lai nhấn mạnh đến thời gian bằng cách nới rộng hiện tại để lấn vào quá khư và tương lai.

–          Bức tranh của Matisse với các kích thích về màu sắc vào các giác quan mở đầu cho trường phái Dã thú. Trước đó, tranh đề cao đường nét với gam màu nhẹ. Người xưa cho rằng những người nhạy cảm với màu sắc hơn đường nét là người chịu ảnh hưởng của Dionyeus và không thể tin cậy được. Người ta thường có quy định trong màu sắc trang phục là để tiết chế cảm xúc và tác động lên nhận thức. Màu sắc là thứ không thể mô tả được bằng não trái, vì người ta thường có các tiêu chuẩn về màu xanh lá cây khác nhau. Màu sắc vừa là sự thật, vừa phụ thuộc vào cảm xúc.

–          Sau giai đoạn của Chủ nghĩa ấn tượng, màu sắc đã được giải phóng, trở nên nhẹ nhõm và tươi tắn hơn mà tranh của Van Gogh là đỉnh cao của màu sắc và ánh sáng.

–          Quan niệm cũ cho rằng màu của sự nguyên thủy là màu đỏ, màu của sự tiết chế là xanh. (Đỏ là của lửa, xanh là của băng) Màu xanh thể hiện cho sự quý tộc. Thế nhưng, khoa học chỉ ra rằng màu đỏ không phải màu nóng nhất, mà màu lam còn nóng hơn (phần lam trong ngọn lửa) và thứ ánh sáng đen (tia cực tím) là nóng nhất. Tìm hiểu về vũ trụ, ta thấy những ngôi sao màu trắng xanh là những ngôi sao trẻ đang rực cháy. Trong khi những ngôi sảo đỏ đang lụi tàn dần. Trong vật lý hiện đại, đỏ là màu của dãn nở và khoảng cách, còn xanh lam là màu của hút gần, đâm va và co lại. Việc thiên hà chỉ dịch về phía đỏ của quang phổ đã chỉ ra rằng vũ trụ đang nở ra. Thế nên thực ra lại là màu xanh là màu của lửa, còn màu đỏ là màu của băng.

–          Trong bức tranh “Vũ điệu” của Henri Matisse đã biểu đạt được ý tưởng của ngành vật lý hạt nhân: Bản thân sự sống dựa trên nguyên tử Carbon, nguyên tử mà orbital ngoài cùng có 4 electron mang điện tích âm quay vòng quanh một hạt nhân mang điện tích dương. 4 electron luôn tìm đến 4 electron khác để kéo chúng vào cuộc, bắt đầu quá trình liên kết mạch khớp với nhau của sự sống. Điều này tương đồng với bức tranh vẽ 5 vũ nữ trên nền xanh cô ban nắm tay nhau nhảy múa. Trong đó có 2 cô rời tay nhau ra như chào gọi thêm.

Vũ điệu - Henri Matisse
Vũ điệu – Henri Matisse

Chương 14: Lập thể/ Không gian

–          Đây là trường phái hội họa có ý tưởng lắp ghép các mảnh của mặt phẳng với nhau để tạo ra không gian đa chiều. Không – thời gian giống như hình phản chiếu trên mặt hồ gợn sóng.

–          Baraque, Picasso, Kadinsky đều nén nhiều chiều không gian trên một mặt phẳng và vì thế tác phẩm sẽ có nhiều điểm nhìn khác nhau. Tranh lập thể không có khái niệm về thời gian, vì chỉ nhấn mạnh sự đông cứng thời gian. Vì thế, bức tranh không có độ sâu và phá bỏ luật cận viễn trong tranh cổ điển.

Chương 15: Vị lai/ Thời gian

–          Ra đời ở Italy với người kích động là Fillipo Tommasco Marinetti, ông cho rằng xã hội mang nợ quá khứ quá nhiều và phải phá bỏ quá khứ của văn minh phương tây.

–          Trường phái này chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa ấn tượng, nhưng đi xa hơn bằng cách đặt các khoảnh khắc chồng lên nhau. Nổi tiếng nhất là bức “động lực học của con chó bị xích” (Giacombo Balla) và “Khỏa thân đi xuống cầu thang” (Duchamp)

Chương 16: Trường phái siêu thực/ Bóp méo theo thuyết tương đối

–          Khi thuyết tương đối rộng của Einstein vẫn còn quá khó hiểu với giới tinh hoa thì hội họa cũng đi vào các trường phái không thể hiểu được. Thế nhưng, sự ra đời của lý thuyết về vô thức của Freud dùng để lý giải các lớp ngụy trang trong con người nói chung và hội họa nói riêng đã đưa ra “trạng thái mơ”, thì chúng ta đã có thể lý giải: Họa sĩ là người chuyển các giấc mơ lên tranh.

–          Sự bóp méo hình trong tranh Salvadore Dali, thời gian bị chặn đứng của Magritte, “Trời và nước” của Escher đều minh họa cho thuyết tương đối của mình.

Christ - S.Dali
Christ – S.Dali

Chương 17:  Nghệ thuật trừu tượng/ Vật lý không hình ảnh

–          Nghệ thuậ trừu tượng bắt đầu với Kadinski 1910, nhưng chỉ phát triển với Jackson Pollock với bức “Đen và trắng”, thể hiện going gian giăng mắc trong một ma trận.

–          Quan niệm hình nó về không thời gian của Minkowski cho rằng không thời gian như  2 hình chóp chạm đỉnh của  2 khối được quy định bởi ánh sáng. Người ở trong vùng ánh sáng không nhận thức được vùng bóng tối. Ý tưởng này ta có thể thấy trong tác phẩm “Cột tháp vỡ” của Newman.

Chương 18: Biến cố/ Sự kiện

–          Trường phái hậu thể hiện trừu tượng đưa ra tính đồng thời của không thời gian hiện tại, và chúng ta bước vào thời kỳ trình diễn bằng cách kết hợp nhiều yếu tố.

–          Họa sĩ lừng danh: Jasper Johns (“0 đến 9”),  Andy Warhol ghép các nhãn hiệu thương mại thành tác phẩm hay ông còn quay các chuyển động chậm của bầu trời, vạt nắng…

Chương 19: Âm nhạc/ Hội họa/ Vật lý

–          Nếu nghệ thuật tạo hình là sự thám hiểm không gian thì âm nhạc là thám hiểm thời gian. Con người có một cao độ hoàn hảo được mã hóa trong chuỗi DNA. Vì thế, con người là một phần của bản giao hưởng.

–          Người Hy Lạp coi trọng âm nhạc. Họ cho rằng âm nhạc có thể làm điên đảo tâm trí như Sirene làm điên đảo các thủy thủ khi cất lên tiếng hát. Pytharore phát hiện ra rằng khi chia dây đàn ra các số nguyên, ông đã tạo ra một nửa số nốt trong một quãng tám, và từ đó âm nhạc lý trí bắt đầu.

–          Thời trung cổ, các chỉ huy dàn đồng ca đã cắt nhỏ giai điệu tuyến tính thành nhiều phân đoạn và sắp xếp lại, tạo thành hình thức diễn xướng, vượt lên khỏi khúc thức. Sau đó, phức điệu ra đời bao gồm các giai điệu trùng khít lên nhau. Thế kỷ 14, ký âm ra đời để ghi lại các phức điệu trùng khít, tạo thính giác 2 chiều (chiều cao và chiều ngang) Việc chuẩn hóa ký âm và sự ra đời của máy in khiến âm nhạc có thể in và lưu truyền được, làm chức năng sáng tác và biểu diễn tách biệt hẳn. Tính cá nhân dần hình thành. Thế rồi hợp âm ra đời thể hiện độ sâu (nhấn nhả) của bản nhạc. Vậy là một không gian ba chiều trong âm nhạc đã hình thành và người ta không cần lời trong âm nhạc, tương đương với việc trong cách bức tranh bắt đầu bỏ dần chữ viết kèm để có được sự độc lập.

–          Tổ chức của cả vật lý, hội họa và âm nhạc đều dựa trên một giao cắt giữa phương thẳng đứng với phương nằm ngang. Khi phép phối cảnh ra đời thì các nhạc sĩ cũng vạch ra tạo độ của phép ký âm: sử dụng các dòng cao độ ngang và khuông nhịp đứng trong khi các nhà khoa học dùng đồ thị hàm số.

–          Do các nhà soạn nhạc ngày càng tạo ra âm nhạc phức tạp nên âm nhạc càng rời rạc. Lúc này, “basso contiuo” (hòa âm giọng trầm) chạy suốt bản đệm bằng nhạc cụ phím, thường kèm với ca sĩ đã cứu nguy cho âm nhạc. Chính nhóm “camerata” lần đầu tiên đưa ra phương thức này và đề cao tính cá nhân (giọng hát). Vở nhạc kịch đầu tiên được trình diễn của Jacopo Peri có tên Daphne đã mở ra thời kỳ mới cho âm nhạc. Tính cá nhân cũng gắn với sự ra đời của đàn phím Claivier piano: nhạc cụ hoàn thiện nhất phục vụ cho một người chơi mà vẫn có thể phối hợp với dàn nhạc.

–          Cuối thế kỷ 18, vai trò của nhạc sĩ chỉ huy được đề cao. Chỉ huy không chơi nhạc cụ nhưng lại có vai trò chủ đạo khi các nhạc cụ đều hướng về chỉ huy.

–          Đầu thế kỷ 20, âm nhạc bị rơi vào thời kỳ hỗn loạn của vật lý và nghệ thuật. Arnold Schoenberg hòa tấu bộ dây 6 người với bản “Đêm biến hình” (1905) đã mở đầu cho âm nhạc phi điệu thức. Phi điệu thức là không có âm điệu, sự nghịch âm trở thành hòa âm. Phi điệu thức đã được Beethoveen thử nghiệm bằng các biến âm, Wagner biến âm từ âm điệu này sang âm điệu khác, De Bussy bắt đầu sáng tác Chủ nghĩa ấn tượng vào những năm 1880, Richard Straus tích hợp nhiều âm điệu một lúc giống trường phái lập thể. Từ đó, Schoenberg tạo ra sự bình đẳng cho các quãng âm và âm điệu, đặt ra quy tắc cho phi âm điệu sao cho không âm nào được coi là ưu ái hơn âm nào, bởi vì từng nốt đều được vang lên trước khi nốt khác được chơi tiếp. Năm 1913, vở “Lễ đăng quang mùa xuân” của Stravinsky tạo ra một cuộc ẩu đả hỗn loạn trong thính giả vì đã phá vỡ ý niệm về thời gian tuyệt đế, để âm nhạc trôi theo nhịp.

–          Sự ra đời của Jazz Dixieland ở cùng thời kỳ này đã phá vỡ giai điệu thành các tầng tách biệt, rất gần với hội họa Lập thể.

–          Vật lý khám phá ra rằng âm thanh không phải là được tạo nên bằng các phân tử dao động mà là một quá trình nóng sáng. Từ âm nhạc đến ánh sáng, đó là khởi nguồn của máy phát thanh. Và khi máy phát thanh ra đời, chúng ta có thể lưu trữ và truyền âm nhạc đi khắp vũ trụ.

Chương 20: Hình thức văn chương/ Công thức Vật lý

–          Từ thế kỷ 7 – 4 TCN, nghệ thuật ngôn từ cùng với hội họa, điêu khắc, kiến trúc nở rộ, nhưng đều dựa trên huyền thoại và truyền thuyết. Nhưng sau khi Homer viết các câu chuyện dựa trên lịch sử thì người ta đã được phép “ngờ vực chân lý” bằng cách “bịa”.

–          Thời kỳ Trung cổ với sự tàn phá sách vở, nhiều tác phẩm lớn bị hủy, nhưng người Hồi giáo lại bảo vệ được nền tảng của nền văn minh phương tây. Văn chương trung cổ vì thế không có nền tảng, và cũng giống như tranh, được sáng tác thoe kiểu phân mảnh.

–          Tác phẩm “10 ngày” (Giavanni Boccacio) là nguyên mẫu tiểu thuyết đầu tiên có cốt truyện, cùng thời với Giotto và phép phối cảnh tĩnh, tạo nên nền tảng của tư duy logic.

–          Thế nhưng ngay sau đó, một loạt các tác phẩm “Qúy bà Bovar” của Flaubert, truyện trinh thám Edgar Allan Poe, “Tội ác và trừng phạt” của Dostoyevsky, “Cỗ máy thời gian” của H.G Wells và Jules Verne, James Joyce… lần lượt nói đến trực tiếp hoặc thể hiện qua bút pháp về sự bóp méo không – thời gian.

Chương 21: Qủa táo của Newton/ Qủa táo của Cezanne

–          Lý thuyết của Einstein đã đạp đổ lý thuyết của Newton, nhưng trước đó hội họa đã ô tả các vật ở trạng thái không trọng lực, vô hướng và lơ lửng trong không thời gian.

–          Bức tranh phi lí của Cezanne về quả táo nằm trên mặt phẳng nghiêng lại không hề bị rơi đã đánh bại quả táo của Newton.

Chương 22 Không gian – thời gian/ Khối lượng – năng lượng

–          Newton cho rằng khối lượng và năng lượng là những cái được định vị và thực hiện trong không thời gian. Định luật bảo toàn năng lượng và khối lượng của ông đã bảo vệ cho lý thuyết này.

–          Einstein cho rằng không – thời gian và khối lượng- năng lượng đồng nhất với nhau trong phương trình E=mc2. Chúng ta thường không cho rằng trọng lượng của một quả táo sẽ phụ thuộc vào không thời gian tồn tại của nó, mà thực ra nó đã uốn cong thời gian sát xung quanh nó. Khối lượng của vật đã nén không gian ở bề mặt vật đang xét khiến thời gian nở ra trong vùng gần khối lượng. Đó là nguyên nhân khiến người ở ngoài vũ trụ trẻ lâu hơn trên mặt đất.

–          Khối lượng ảnh hưởng đến màu sắc, ánh sáng khi ở gần một vật sẽ dịch chuyển đến vạch màu lam. Einstein đưa ra kết luận: lực hấp dẫn có vẻ như là gia tốc trong không thời gian cong, tương tác với tương đương khối lượng – năng lượng trong 4 chiều và ánh sáng sẽ uốn cong khi chúng đi gần vật thể có khối lượng lớn.

Chương 23: Các dạng thức phi trọng lượng/ Các lực hấp dẫn

–          Các tác phẩm của Manet, Degas luôn ở trong tình trạng vô trọng lượng, còn Marc Chagall thì vẽ những người đang bay… Tất cả đều thể hiện sự thoát khỏi lực hấp dẫn, hay khẳng định luật hấp dẫn là một ảo giác.

Chương 24: Khối lượng điêu khắc/ Không-thời gian bị uốn cong.

–          Nghệ thuật đương đại phát triển mạnh ý tưởng thoát khỏi lực hấp dẫn với các cấu trúc điêu khắc kì dị. Tác phẩm “Merzbau” làm từ rác đã biểu hiện cấu trúc bên trong lấp dần đầy. Năm 1932 với “Bẫy tôm hù”, Calder đã tách tượng ra khỏi bệ đỡ. Năm 1960s, Robert Smithson lắp ghép những hòn đá thành dấu hiệu độc đáo của thiên hà, gán kết quả đất với sao trời, diễn tả về lực hấp dẫn xoắn cuộn không thể cưỡng được cáo vì sao.

–          Nghệ thuật và vật lý đã mở đường cho khám phá bản chất của luật hấp dẫn và giải thích bí ẩn về thực tại.

Chương 25: Tôi/Chúng ta

–          Làm thế nào mà nghệ sĩ tại tiên cảm được. Tác giả đưa ra giả định “zeitgecst”, một nhiễu động nào đó không xác định trong không khí đã ngưng tụ gây ra thay đổi đồng loạt.

–          Khái niệm “cái tôi” kết thúc ở lớp da của chúng ta, và khi ra khỏi môi trường dó thì “không phải tôi”. Chính “cái tôi” này dẫn đến quan niệm rằng trí tuệ là một thứ riêng rẽ.

–          Tác giả dùng thuyết tiến hóa, khoa họ não bộ và thần học. Qua nghiên cứu về cách đàn kiến hình thành, giao tiếp, phân bổ và lụi tàn, tác giả khẳng định rằng có một thứ gọi là “trí tuệ vũ trụ” mà nghệ sĩ có đủ trực giác nhạy cảm để có thể liên hệ.

Chương 26: Phải/Trái

–          Tác giả đưa ra cấu tạo 2 bán cầu não: trái/ phải. Não trái phục vụ ngôn ngữ, tư duy trừu tượng, ảm giác về những con số và chuỗi hành động. Não phải phục vụ nhận biết hình ảnh tổng thể, ẩn dụ, thưởng thức âm nhạc tốt.

–          Con người là loài tiến hóa cao nhát với một bộ não kép hoàn hảo

Chương 27: Không gian – Thời gian

–          Sự tiến hóa của muôn loài không phải chỉ ở mặt vật chất mà còn ở nhận biết. Càng ở mức độ cấu tạo hoàn thiện hơn, loài vật nhận biết về không thời gian chuẩn xác hơn.

Chương 28: Dionysus/ Apollo

–          Hai hình mẫu tư duy của não trái (Apollo) và não phải (Dionysus), sự đối kháng của nghiêm nghị và phóng túng, trực giác và lý trí, mà cụ thể nhất là thể hiện qua âm nhạc: classic và jazz.

Chương 29: Nghệ thuật/ Vật lý

– Trong thần thoại Hy Lạp có vị thữ thần “Techne” vừa liên quan đến“Technique” vừa gắn với nghệ thuật là động từ “tikein” (sáng tạo), nàng

là cảm hứng cho cả khoa học lẫn nghệ thuật.

–          Đến gần đây các nhà khoa học đã chỉ ra trí óc có thể không phải ở dạng vật chất và nằm ngoài phạm vi của khoa học. Nghệ thuật mang tính cách mạng luôn tiên báo các sự việc xuất hiện vượt tầm thời đại.

–          Năm 1974, Lawrence Weizkrantz, một bác xi nhãn khoa đã tìm ra: khả năng “thấu thị mù”. Chúng ta hoàn toàn có thể nhìn thấy được những thứ mà Vật lý không thể thay thế.

 

ĐÁNH GIÁ VỀ CUỐN SÁCH “NGHỆ THUẬT VÀ VẬT LÝ”

–          Cuốn sách đã điểm xuyết một tiến trình tương tác chạy dọc suốt chiều dài lịch sử văn minh phương Tây của hai lĩnh vực: Nghệ thuật và Khoa học. Leonard Shlain đã làm được điều Leonard di Vinci tâm niệm: “Để có một tư duy hoàn hảo, cần phải rèn luyện khoa học của nghệ thuật và nghệ thuật của khoa học. Học cách để nhận biết và thấy rằng mọi thứ đều có sự nối kết với nhau”

–          Mặc dù trước tuyết tương đối rộng của Einstein, các họa sĩ đã tiên cảm được nhiều điều và đi trước khoa học, nhưng sau đó, khoa học phát triển mạnh mẽ hơn rất nhiều và đã bỏ rơi nghệ thuật. Nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật thị giác chỉ còn là sự mô phỏng của các học thuyết khoa học mới. Dường như Leonard Shlein vì quá yêu nghệ thuật đã không thể chấp nhận thực tế này.

–          Tác giả đưa ra khái niệm “trí tuệ vũ trụ” để lý giải cho sự tương đồng trong cách khám phá thế giới của nghệ thuật và tương đồng, nhưng đây là một điều “bất khả tri” ở thời điểm ông viết quyển sách. Mới đây, những khám phá về sự toàn ảnh của vũ trụ và bộ não, người ta đã có thể lý giải phần nào về sự kết nối giữa cá nhân và vũ trụ vô biên.

 

Hà Thủy Nguyên

Zootopia – Ẩn ức bình đẳng trong thế giới lý tưởng

blogpost thumb

Bộ phim “Zootopia” đã trình chiếu hơn 1 tháng nay và nhận rất nhiều lời khen về nội dung dễ thương, hài hước, hình ảnh thiết kế đẹp. Qủa nhiên, “Zootopia” là một tác phẩm kỹ lưỡng trong từng thước phim và chắc hẳn số tiền đầu tư cũng không nhỏ. Nhưng tôi tin, các nhà làm phim của Mỹ không đầu tư rất nhiều tiền bạc và công sức chỉ để làm mộ tác phẩm “dễ thương” hay “đẹp”, bộ phim luôn có thông điệp đằng sau. Một cách rất rõ ràng, “Zootopia” có ẩn chứa rất nhiều thông điệp chính trị.

Trước hết, tôi rất phản đối khi người ta dịch tên phim thành “Phi vụ động trời”. Đó là một sự hạ thấp ý tưởng lớn lao mà các nhà làm phim đặt ra. “Zootopia” là tên thành phố lý tưởng của các loài thú, nhại lại Utopia – hình mẫu xã hội lý tưởng của loài người. “Utopia” là tác phẩm về một xã hội lý tưởng nơi con người sống bình đẳng với nhau, hòa hợp với nhau, được viết vào thế kỷ 15 bởi Thomas Moore. “Utopia” đã tạo ra cảm hứng lớn cho các triết gia, các nghệ sĩ, các nhà khoa học về việc kiến tạo một thế giới đại đồng, trong đó có Chủ nghĩa Cộng sản của Karl Marx. Zootopia không phải là thành phố đại đồng trong mơ, mà là thành phố của sự bình đẳng, nơi thú săn mồi và thú nhỏ (vốn đóng vai trò là con mồi trong tự nhiên) lại bắt tay với nhau cùng chung sống.

Vấn đề bình đẳng ấy chính là điểm mấu chốt dẫn đến rất nhiều xung đột trong bộ phim. Thành phố Zootopia được thống trị bởi những con thú săn mồi (cho dù họ nói rất nhiều về bình đẳng): Thị trưởng Lionheart là một con sư tử, đội cảnh vệ là những con sói, cảnh sát lẫn lộn các giống loài nhưng về cơ bản là những con thú lớn… Những động vật nhỏ đa phần đều là các thành phần dân chúng hoăc viên chức. Đặc biệt chỉ có loài chuột là xây dựng một đế chế riêng, được quản lý bởi một tên trùm Mafia. Ai đó chắc chắn sẽ phải phì cười khi thấy xã hội mà trong đó dân công sở là những con chuột lang béo núc ních, xếp hàng đi nối đuôi nhau, làm gì cũng vội vã; hay các viên chức hành chính dưới hình dạng con lười làm cái gì cũng chậm rãi… Tất cả là ẩn dụ cho các đặc tính tính cách của từng nghề nghiệp, từng giai cấp… trong xã hội loài người. Vấn đề bình đẳng được đặt ra, cũng chính là vấn đề mà ngày nay nền chính trị phương Tây vẫn đang cố gắng thiết lập.

Judy là một cô thỏ xuất thân nông dân và có mơ ước trở thành cảnh sát – nghề vốn chỉ dành cho những con thú lớn và cơ bắt. Nhưng nhờ trí thông minh, cô đã nhanh chóng vượt qua các bài thi khắc nghiệt chỉ dành cho những con thú lớn. Judy có một ẩn ức, đó là cô luôn mặc cảm mình là loài thú nhỏ, yếu đuối, và qua cái bài học, cô biết rằng giống loài của cô chỉ là con mồi. Tuổi thơ của cô bị bao vây bởi những định kiến kỳ thị thú săn mồi bởi gia đình và cộng đồng thú nhỏ tạo ra. Mà định kiến ấy chủ yếu dành cho loài cáo. Chính định kiến ấy lại trở thành động lực để Judy vươn lên và trở thành con thú nhỏ duy nhất làm cảnh sát.

Nhưng ngay buổi làm việc đầu tiên, Judy đã phải giáp mặt với chàng cáo Nick – một kẻ lừa đảo trên phố, và chính Judy cũng bị lừa. Nhưng với ý thức của một cảnh sát, phải bảo vệ bất cứ ai, bất cứ giống loài nào, nên Judy đành phải miễn cưỡng chấp nhận Nick. Vụ mất tích hàng loạt diễn ra trên toàn thành phố Zootopia đã đưa đẩy khiến Judy phải hợp tác với Nick để điều tra. Cũng từ đây, vấn đề bất bình đẳng giữa thú săn mồi và con mồi được đẩy cao hơn.

Bình đẳng ở đây không phải chỉ là chuyện những con thú nhỏ bị coi thường mà còn là những con thú săn mồi bị buộc phải ngang hàng với những con thú nhỏ, thậm chí bị kỳ thị, bị ganh tị, bị đề phòng. Các con thú nhỏ vẫn lo ngại, dù rằng chúng đông hơn và được cung cấp mọi phúc lợi xã hội, chúng e sợ nanh vuốt của thú săn mồi. Cáo Nick là một trường hợp điển hình cho việc thú săn mồi bị hắt hủi và bị chính đám đông thú nhỏ bắt nạt từ thuở còn bé. Rất trùng hợp, tôi đI xem bộ phim này cùng lúc đang viết bài về cuốn sách “Chính trị luận” của Aristotle. Aristotle không ca ngợi suông các lý tưởng về bình đẳng, ông đặt ra vấn đề khó khăn trong việc bình đẳng giữa những người có phẩm chất để cai trị và những người sinh ra là để bị trị. Aristotle rất thích thú với ý tưởng rằng một con sư tử và một con thỏ không thể bình đẳng với nhau, bởi con thỏ không có móng vuốt như sư tử. Và ông cũng phân tích rằng trong xã hội bình đẳng, trên thực tế, giống loài sư tử sẽ bị đẩy ra hoặc bị kỳ thị. Nhóm nhỏ mạnh mẽ ấy lại trở nên yếu thế trước đám đông.

Trợ lý của thị trưởng Lionheart là một con cừu. Giống cừu đã cùng nhau tổ chức một âm mưu lật đổ. Chúng dùng độc hoa “Tiếng tru đêm” để kích động cơn điên hoang dại trong các con thú săn mồi. Thị trưởng Lionheart lo ngại về điều này nên đã bắt nhốt những con thú điên và giấu diếm sự thật. Khi sự việc bại lộ, Lionheart bị truất ghế thị trưởng và đem truy tố. Judy và Nick đã điều tra sự việc đến đó. Khi trả lời báo chí, Judy đã vội vã đưa ra kết luận rằng đó là do khác biệt về DNA giữa thú săn mồi và con mồi. Kết luận này khiến Nick cảm thấy tủi thân và đặc biệt gây chấn động toàn thành phố, khiến các con thú săn mồi bị hắt hủi.

Nhưng tất cả đó là tham vọng của đám cừu, chúng muốn cướp ghế thị trưởng, cướp vai trò lãnh đạo thành phố và đẩy con thú săn mồi xuống đáy xã hội. Việc này có giống thế giới của chúng ta? Những người mạnh mẽ nhất, khác biệt nhất, sinh ra để cai trị… bị coi như những nguy cơ của thế giới, bị bêu xấu, bị gạt bỏ. Nền chính trị thế giới chỉ chấp nhận những chính trị gia “nói lời hay, làm việc tốt”. Những kẻ dám ngang nhiên sống đúng với bản chất của chính trị, nói thẳng toẹt ra mọi ý định của mình sẽ bị truyền thông bôi nhọ. Tham vọng của một con thú săn mồi là đáng sợ và độc tài, nhưng chúng phóng khoáng và chân thật, chúng chấp nhận để các con vật khác cùng tồn tại dưới trướng mình. Tham vọng của những con cừu hủ bại hơn. Chúng làm thấp kém mọi phẩm giá của các cá nhân bằng thuyết đại đồng và bình đẳng, và gạt ra ngoài lề hoặc tận diệt bất cứ ai mạnh mẽ hơn.

Aristotle đề xướng một nền tinh hoa trị, nơi con thú săn mồi xuất sắc nhất làm người cai trị, và quả thực là thế giới hiếm khi có được những nhà lãnh đạo đích thực là một người cai trị, tức là đủ tài năng và trung thực để không che giấu bản chất của mình nhưng cũng không để bản chất của mình xâm hại đến giống loài khác. Còn lại vẫn là nền chính trị của những con cừu hèn yếu, lừa dối và hủ bại.

Cáo Nick và thỏ Judy là hai nhân vật tượng trưng cho lớp người trung lưu. Những người trung lưu có đủ trí tuệ để nhìn thấu rõ bản chất của tất cả, bị đá đi đá lại giữa hai thái cực và nhờ thế mà có thể thông cảm cho tất cả. Tầng lớp trung lưu, như Aristotle phân tích, là nhóm người có đầy đủ cơ hội và điều kiện để cân bằng thực sự cán cân giữa người cai trị và kẻ bị trị. Sự trung lập không phải là lờ vờ, trung lập chính là độc lập. Và chỉ những con người độc lập mới có thể bình đẳng với nhau.

Cái thứ mà chúng ta gọi là thế giới lý tưởng thường gây ra những vấn đề xung đột trầm trọng. Lý tưởng là tốt, nhưng một lý tưởng khi áp vào thực tế thì sẽ thành toàn trị. Lý tưởng có thể dẫn con người đi sai hướng khỏi chính bản chất thực sự của mình và hình thành các định kiến mới. Thứ duy nhất khiến thế giới lý tưởng phơi bày bản chất của mình, đó là sự thật. Sự thật chỉ ra rằng không có thế giới lý tưởng, nhưng một thế giới có thể chấp nhận được các sự thật để thay đổi thì thế giới ấy đang tốt đẹp hơn bất kể chúng có lý tưởng hay không.

Hà Thủy Nguyên

“CHÍNH TRỊ LUẬN” CỦA ARISTOTLE VÀ SỰ PHÊ PHÁN CÁC MÔ HÌNH XÃ HỘI

blogpost thumb

I – Góc nhìn chính trị của Aristotle

“Chính trị luận” của Aristotle là một tác phẩm kinh điển mang tính chất đột phá trong lịch sử triết học và chính trị học không phải ở mức độ liệt kê quy mô mà ở tầm nhìn. Trước Aristotle, chính trị chỉ đơn thuần được xem như mối quan hệ giữa người cai trị và người bị trị trong một quốc gia. Thậm chí với Plato, người thầy của Aristotle, chính trị vẫn là một thứ mơ hồ được đóng khung trong mô hình nhà nước lý tưởng. Aristotle thì khác, ông là một triết gia hiếm hoi trong lịch sử thế giới thành công trong vai trò chính trị – là người thầy, cố vấn cho vị hoàng đế vĩ đại nhất Hy Lạp cổ đại: Alexadre Đại Đế. Bởi thế, ông nhìn chính trị với con mắt của người trong cuộc và thấy rằng chính trị là một lĩnh vực tổng thể:

“Cũng giống như trong các ngành khác của khoa học, chính trị cũng vậy, một hợp chất luôn luôn có thể được phân giải ra thành những phần tử đơn giản hay nhỏ nhất của tổng thể. Do đó, chúng ta phải xem xét các phần tử cấu thành nhà nước, hầu có thể thấy được các luật lệ khác nhau của các loại chính quyền khác nhau như thế nào, và có thể rút ra được một kết luận khoa học nào chăng về mỗi loại chính quyền”.

Trước khi là một triết gia, một nhà chính trị, Aristotle đã từng theo học học viện của Plato, và chịu ảnh hưởng trước tác cuối cùng của thày mình là “Luật pháp”. Nhưng sau khi Plato qua đời, Aristotle không phục người kế nhiệm học viện, nên đã rời bỏ Athens, du hành đây đó, thử nghiệm áp dụng tri thức bản thân trong suốt 12 năm. Sau đó, ông và người bạn thân là Xenocrates cùng với một số triết gia khác đã thành lập một Học viện chính trị tại đô thành Troad của vị vua độc tài Hermias. Ông trở thành bạn thân của Hermias và được vua gả cháu gái. Tại đâu, ông hiểu rõ hơn về chế độ quân chủ và hiểu thêm được các nguyên tắc thương mại, ngân hàng từ đô thành này.

Một thời gian sau, Aristotle được vua Philip của xứ Macedonia mời đến Pella để dạy học cho hoàng tử Alexandre. Những tài liệu còn sót lại cho biết, Aristotle đã gửi cho Alexandre hai bản luận cương về “Thuật làm vua” và “Cai trị các thuộc địa”. Sau khi Alexandre thành công, Aristotle trở về Athens và mở học viện Lyceum, thắt chặt mối quan hệ với Antipater – người đề xướng tinh hoa trị (Oligarchy hay còn gọi là Aristocracy).

Sau khi Aristotle qua đời vào năm 322 TCN, tư tưởng chính trị của ông vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến chính trị Athens. Bản hiến pháp của Athens do Antipater soạn thảo tiếp thu quan điểm về quyền đầu phiếu giới hạn trong số dân Athens có tài sản từ 2000 drachmas trở lên, nghĩa là giới hạn trong giới trung lưu. Sau đó, Demetrius, một người học trò của Aristotle lên cai trị Athens và biến những gì Aristotle đã dạy tại Lyceum.

Do có quá trình nghiên cứu về tự nhiên học, siêu hình học và đề xướng ra Logic học, Aristotle viết “Chính trị luận” với cái nhìn quy nạp, đi từ nhỏ đến lớn, từ phần tử đến tổng thể, từ cá nhân đến xã hội, từ cụ thể đến trừu tượng. Lối tư duy này trái ngược hẳn với Plato thày ông, người đã đề xướng chủ thuyết lý tưởng.

  1. “Con người là một sinh vật mang tính chính trị”

“Con người là một sinh vật mang tính chính trị” là câu nói nổi tiếng của Aristotle mà bất cứ ai quan tâm đến chính trị đều thấm thía. Điều đó có nghĩa là, con người khác với con vật ở chỗ có thể ý thức được vai trò của mình trong cộng đồng, Con vật tương tác với nhau do bản năng, còn con người tương tác với nhau không chỉ có bản năng mà còn có ý thức. Tính ý thức ấy chính là tính chính trị.

Trong cộng đồng người, Aristotle cho rằng việc phân chia người cai trị và kẻ bị trị là điều tự nhiên. “Những phần tử có khả năng, nhờ sự khôn ngoan biết tính toan, lo xa, dĩ nhiên trở thành phần tử cai trị, còn những phần tử mà khả năng chỉ do sức mạnh của thể chất mang lại, để làm những gì mà phần tử kia hoạch địch, là phần tử bị trị, đương nhiên ở trong tình trạng nô lệ.” Đây là một định nghĩa sâu sắc về người tự do và nô lệ. Và cho dù các xu thế chính trị mới đề cao giá trị bình đẳng thường bài trừ quan niệm về nô lệ này của Aristotle nhưng thực tế vẫn không thể phủ nhận: người biết tư duy thì có thể có tự do, kẻ không tư duy chỉ biết răm rắp làm theo đó chính là nô lệ. Mối quan hệ phụ thuộc này biểu hiện rõ ngay từ các phần tử nhỏ của xã hội là gia đình, rồi đến các làng mạc. Aristotle phân tích rằng, mối quan hệ giữa người cai trị và bị trị xuất phát từ trong gia đình, tới làng mạc chính là tiền đề cho việc một quốc gia cần có vua cai trị, và ngay cả thần thánh cũng cần tới một vị vua để cai trị.

Từ sự mở rộng và phát triển của làng mạc, nhà nước (polis) ra đời một cách tự nhiên, một bước tiếp theo của gia đình, làng mạc. “Và như thế, nếu các hình thức ban đầu của xã hội là tự nhiên, thì nhà nước cũng vậy, vì nhà nước là kết quả cuối cùng của mọi xã hội, và tính tự nhiên của sự vật chính là chung cục của nó. Vì ta gọi là tự nhiên khi một sự vật được phát triển đầy đủ tới dạng cuối cùng của nó, dù đó là một con người, một con ngựa, hay một gia đình.” Vậy nên, nhà nước là một tất yếu trong bước phát triển nhân loại. Aristotle cho rằng bất cứ ai một cách tự nhiên, chứ không phải do hoàn cảnh khách quan xô đẩy, lại “chọn sống ở ngoài cộng đồng chính trị, thì kẻ đó hoặc là chẳng ra gì, hoặc là một siêu nhân hơn người.” Trong suốt những năm từ 1960 đến nay, phong trào vô chính phủ cực đoan đã cổ vũ lối sống tách biệt khỏi cộng đồng chính trị. Và theo quan niệm của Aristotle những người nằm trong số “chẳng ra gì” hoặc “siêu nhân”, mà tôi tin rằng gần như toàn bộ là “chẳng ra gì”.

Một lập luận mang tính nghịch lý mà rất nhiều người đề cao quyền tự nhiên của con người hẳn sẽ thấy bất bình khi nghe đó là: “Nhà nước hiện hữu bởi tự nhiên và có trước nhân nhân. Chứng cứ của cả hai lập luận này là sự kiện nhà nước là tổng thể, còn cá nhân là cá thể. Mọi cá nhân không thể nào tự túc khi sống cô lập, bởi vì mọi cá nhân là vô vàn các cá thể cùng lệ thuộc vào cái tổng thể, là cái mà chỉ có nó mới đem lại sự sung túc cho tất cả.” và “Cái tổng thể luôn nhất thiết phải hiện hữu trước cá thể theo tự nhiên. Nếu cả cơ thể bị tiêu hủy, thì sẽ chẳng còn cái chân hay cái tay nữa, ngoại trừ theo cái nghĩa mơ hồ mà người ta thường dùng cùng một từ để chỉ các vật khác nhau, như khi ta nói về một cái tay bằng đá, vì một cái tay khi bị tiêu hủy (khi cả thân thể bị tiêu hủy) thì hơn gì một cái tay bằng đá đâu?””

Nếu chúng ta gạt bỏ các định kiến chính trị ngày nay, chúng ta sẽ nhận ra rằng đây là vấn đề cốt lõi của thế giới hiện đại: cuộc đấu tranh giữa hệ thống và tính cá nhân. Hệ thống tổng thể sẽ không dễ dàng sụp đổ khi có vài cá thể tách khỏi. Hệ thống sụp đổ thì chắc chắn cá thể trong hệ thống sẽ không tồn tại nữa, và theo Aristotle thì các cá thể đó đã “mất khả năng thực thi chức năng”. Quan điểm hệ thống có trước cá nhân dễ dàng được Công giáo và các chính trị gia chấp nhận, bởi  nó tạo ra ràng buộc chặt chẽ giữa người dân và nhà nước. Thế nhưng, cái cơ chế ràng buộc ấy có thành công hay không lại lệ thuộc rất nhiều vào việc họ có hiểu đúng kiến giải này của Aristotle hay không. Mặc dù cá nhân lệ thuộc nhiều vào hệ thống và ở trong hệ thống, nhưng không có nghĩa rằng hệ thống có quyền triệt tiêu mọi yếu tố cá nhân. Bởi hơn ai hết, Aristotle cổ vũ cho các công dân tự do, biết tư duy, chứ không phải những cá nhân nô lệ cho hệ thống, chỉ biết phục tùng và tuân theo. Ở đây, ông đặt ra mối ràng buộc này, có nghĩa rằng con người không thể tách khỏi cộng đồng người, không có nghĩa rằng cộng đồng có quyền áp đặt cho từng cá nhân.

Hệ thống xã hội mà Aristotle nhắc đến không phải sự toàn trị, mà là luật pháp và công chính. Đó chính là cột trụ quan trọng nhất của nhà nước. Con người bị tách khỏi luật pháp và công chính thì hoàn toàn có thể trở thành “động vật xấu xa nhất. Bất công trở nên tệ hại hơn đó là là sự bất công được vũ trang”. Một nhà nước khi đã mất đi luật pháp và sự công chính, tức là cột trụ sụp đổ, và tổng thể đó đã bị hủy hoại. Những kẻ trái pháp luật trong hệ thống đó đã là đáng sợ, nhưng đáng sợ hơn cả là những kẻ trái pháp luật được trang bị vũ lực, có quyền dẫm đạp lên sự công bằng.

Từ điểm nhìn này, Aristotle đã đưa ra các nguyên tắc trong quản trị từ gia đình đến nhà nước. Tất cả đều dựa trên sự công chính.

  1. Vấn đề người cai trị và kẻ bị trị

Aristotle định nghĩa về một hộ gia đình như sau: “Thành viên của hộ là tất cả những người sống trong cùng một căn nhà, và một hộ đầy đủ gồm có nô lệ và những người tự do”. Đừng vội cho rằng “nô lệ” mà Aristotle nhắc đến là do ảnh hưởng của chủ nghĩa nông nô và vội bài trừ nó. Hãy quay lại với định nghĩa về người tự do và nô lệ của Aristotle, chúng ta sẽ thấy rằng nô lệ vẫn tồn tại cho đến ngày nay, chỉ khác về tên gọi. Nô lệ, đơn giản là những người không có tư duy độc lập.

Ở thời đại của Aristotle, nô lệ là một tài sản sống, và ông xếp mối quan hệ giữa chủ nhân – nô lệ là quản lý tài sản, cùng với các tài sản vô tri khác. Những người tự do luôn cần nô lệ để phục tùng mình. Và nô lệ chỉ không còn cần thiết khi các tài sản vô tri khác có thể tự vận hành. Vậy thì, việc duy trì trạng thái chủ nhân – nô lệ có phải là một việc tự nhiên không? Ông khẳng định: “Sự việc có kẻ sinh ra để cai trị và kẻ sinh ra để bị trị là một sự việc không những cần thiết mà còn mang lại lợi ích nữa; có những kẻ từ khi lọt lòng mẹ đã được lựa ra để cai trị và những kẻ khác bị trị.”

Ông cho rằng theo tự nhiên, con người có linh hồn và thể xác và linh hồn điều khiển thể xác. Chỉ trong vài trường hợp thể xác điều khiển linh hồn, đó là phản tự nhiên, và nảy sinh cái ác. Những người có sức khỏe và làm việc tay chân thì cần phải bị cai trị bởi những người có tư duy, không những trong quy mô hộ gia đinh mà còn là quy mô quốc gia. Một điểm đặc biệt là Aristotle không đóng khung vấn đề tự do – nô lệ trong danh phận và địa vị xã hội. Hết lần này đến lần khác, ông khẳng định, một cách bẩm sinh, người tự do là độc lập và nô lệ thì lệ thuộc. Đó là do tự nhiên sinh ra không phải do xã hội quy định. Và đương nhiên những người tự do bị rơi vào thân phận nô lệ sẽ không ngừng dành lại tự do của mình, cũng như người nô lệ ở trong thân phận tự do thì vẫn cứ tiếp tục làm nô lệ. Và hiện trạng trái tự nhiên này sẽ gây ra nhiều thiệt hại và gây ra thù nghịch, mâu thuẫn quyền lợi.

Xét về bình diện nhà nước, quan hệ cai trị kiểu chủ nhân – nô lệ này là bất khả thi. Bởi vấn đề của một vị vua phải đối mặt không phải là quản lý những người bẩm sinh là nô lệ mà quản lý những người bẩm sinh là người tự do. Và bởi thế, quản lý nhà nước vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật, và không phải ai cũng có thể đảm nhiệm công việc này.

 

II – Các mô hình nhà nước lý tưởng

  1. Mô hình của Socrate và Plato

Aristotle cho rằng vấn đề cốt lõi của quản trị nhà nước đó là mức độ công – tư giữa công dân và nhà nước, tức là: “Công dân của một nước hoặc có chung mọi thứ, hoặc không có chung thứ gì hết, hoặc là chỉ có chung một số điều nào đó thôi.” Ông phân tích việc sở hữu tư hoàn toàn là điều không thể, bởi “cơ cấu chính trị là một cộng đồng, và cộng đồng thì tối thiểu phải có một chỗ chung”. Ông cũng rất phản đối mô hình của Socrates được Plato kể lại trong cuốn “Cộng hòa”, đó là một mô hình mà ở đó “mọi công dân đều có chung của cải vật chất, và chung cả vợ và con nữa”

Nguyên nhân phê phán mô hình nhà nước Socrates mà ông đưa ra chính là những vấn đề rất thực tế. Socrates cho rằng một nhà nước hoàn hảo là phải đồng nhất, nhưng sự đồng nhất này đi ngược lại tính đa dạng, và bởi thế nó không còn là quốc gia nữa. Aristotle lập luận: “Để tiến tới đồng nhất thì quốc gia phải trở thành một gia đình, và từ gia đình muốn đồng nhất hơn, thì phải rút lại còn cá nhân”. Tức là cơ hội cho độc tài chuyên chế, tức là “phá hoại quốc gia”. Aristotle khẳng định lại: “Quốc gia không phải chỉ là sự tập hợp của nhiều người mà là nhiều người khác nhau, vì sự đồng dạng không tạo thành quốc gia.” Vì vậy, nhiệm vụ của chính trị là đem lại phúc lợi cho quốc gia chứ không phải biến tất cả mọi người thành đồng nhất.

Hơn nữa, vấn đề quan trọng khiến sở hữu chung làm lụn bại quốc gia, đó là, khi tài sản là của chung thì sẽ không ai bảo quản, giống như cha ông chúng ta thường nói “cha chung không ai khóc”. Và một khi tất cả là của chung, tất cả đều bình đẳng theo cách Socrates muốn thì mối quan hệ gia đình, thân nhân sẽ đổ vỡ, tạo điều kiện cho cái ác và bạo lực hoành hành. Một người sẽ không dám làm điều ác với người thân của mình, nhưng sẽ dễ dàng làm điều ác hơn nếu nạn nhân chỉ đơn thuần là người dưng. Do đó, một quốc gia không nên và chắc chắn không thể là một tập hợp đồng nhất với ý tưởng rằng tất cả đều là của chung.

Sở hữu chung, đặc biệt là sở hữu đất đai sẽ là tiền đề gây ra nhiều bất công. Theo lập luận của những người đề cao sở hữu chung đều lập luận rằng đất không của riêng ai, do đó đất đai nên là sở hữu công. Thế nhưng việc chia chác hoa lợi trên mảnh đất thật không dễ dàng, dễ bị ơi vào tình trạng kẻ làm nhiều mà hưởng ít hoặc kẻ làm ít mà hưởng nhiều. Do đó, tài sản nên thuộc sở hữu tư để mỗi người sở hữu chúng đều phải chịu trách nhiệm.

Và nếu sự chia sẻ diễn ra, thì đó không nên là ép buộc mà đến từ lòng tốt tự nhiên. Aristotle cho rằng “bạn bè chia sẻ với nhau mọi điều”. Ở Athens và Sparta, tình bạn được coi trọng. Người dân đều có sở hữu tư, nhưng luôn dành một phần để bạn bè sử dụng, và một phần khác cho người khác dùng chung. Nếu trên đường đi, ai đó thiếu thốn cái gì, thì có thể tự do lấy thứ đó ở bất cứ đâu trên dường. Điều quan trọng của nhà lập pháp, theo Aristotle là phải “tạo ra lòng từ thiện trong mỗi công dân để họ sẵn lòng chia sẻ với nhau”. Những vấn nạn xảy ra trong xã hội sở hữu tư không phải do hệ thống ấy tạo ra, mà là do bản năng xấu xa của con người chưa được gột bỏ. Và bản năng này, trên thực tế, có nguy cơ bùng phát mạnh mẽ hơn ở những xã hội chỉ có sở hữu công.

Vấn đề là, về mặt tự nhiên, con người sinh ra đã ở vị thế hoặc là cai trị hoặc là bị trị, hoặc là người tự do, hoặc là nô lệ. Xã hội Cộng hòa mà Socrates vẽ ra làm lẫn lộn người cai trị và người bị trị, khiến người bị trị phải tư duy như người cai trị, và người cai trị bị chậm lại bởi cái ách nặng nề của kẻ bị trị khoác lên. Và lúc đó, nông dân không làm việc của nông dân, trí thức không làm việc của trí thức.Tất cả điều đó chính là sự bất ổn không phải chỉ ở giai cấp thấp mà cả ở giai cấp cao hơn. Aristotle có đề cập đến một mô hình khá bình đẳng giữa người cai trị và người bị trị, đó là xã hội tại đảo Crete: “nô lệ cũng được hưởng mọi quyền lợi như chủ nhân, ngoại trừ quyền được học tập thể lực và quyền mang vũ khí”.

Phê phán Socrates, tức là Aristotle đã phê phán chính thầy mình là Plato. Sự phê phán này đến từ logic và thực tiễn chính trị mà thày ông là Plato không có nhiều kinh nghiệm. Trái lại với sự thành công của Aristotle, Plato luôn thất bại trên con đường chính trị. Plato chưa bao giờ tham gia vào công cuộc điều hành một quốc gia, nên những vấn đề ông và thày ông là Socrate đặt ra chỉ đơn thuần là chiêm nghiệm và tính toan. Plato khác với Socrate ở điểm, ông không cực đoan với ý tưởng sở hữu công, ông cho phép sở hữu tư nhưng phải tuân thủ các chuẩn mực và giới hạn. Ví dụ như, người dân không được phép có số tài sản quá gấp 5 lần mức quy định. Aristotle cho rằng khi đặt ra giới hạn này, Plato không lường trước được rằng việc giới hạn tài sản sẽ dẫn đến việc giới hạn con cái hoặc một gia đình sẽ bị bần cùng hóa vì giới hạn tài sản không tương xứng với số con. Cùng thời với Plato và Aristotle, một số thành bang cũng xử dụng phương pháp bình đẳng hóa sở hữu tài sản như vậy với hị vọng sẽ giảm thiểu tội ác. Việc này gây ra hiện trạng là dân chủ quá mức, khiến ai cũng được phép trở thành người cai trị. Hơn nữa, Aristotle cho rằng, tội ác gây ra không phải bởi vì kẻ yếu thế muốn được bình đẳng, mà là vì lòng tham. Và không có mức bình đẳng nào thỏa mãn được họ. Cuộc cải cách chính trị đích thực không phải là tạo ra bình đẳng mà là nâng cao ý thức tinh thần của con người vượt lên trên lòng tham.

  1. Mô hình của Hippodamus

Hippodamus của xứ Miletus là người phát minh ra nghệ thuật quy hoạch thành phố, và đã quy hoạch thành phố Piraeus. Hippodamus có tham vọng là quy hoạch một quốc gia có 10.000 dân. Ông chia làm ba phần cho ba lớp người: dân thợ, nông dân và lực lượng vũ trang. Đất đai cũng chia thành ba phần: đất tế tự, đất nuôi quân, đất sinh sống và canh tác. Pháp luật chia thành ba bộ phận chính là: ẩu đả, gây thương tích và án mạng. Do đó, ông duy trì duy nhất một tòa án tối cao để “tái thẩm những trường hợp tòa dưới đã xét xử không đúng.” Ông đề cao việc ghi chép chi tiết về tình trạng của một vụ xét xử, tức là nếu có tội thì ghi là có tội, vô tội thì ghi là vô tội, không thể đi đến kết luận cũng phải ghi là không thể kết luận. Ông phản đối cách biểu quyết của hội đồng để đi đến kết luận ai đó có tội hoặc không.

Hippodamus đặc biệt tưởng thưởng cho những người đưa ra các sách lược cho quốc gia. Ông cũng chăm lo đến phúc lợi xã hội, đặc biệt là với các gia đình tử sĩ. Tầng lớp quan lại do dân bầu ra, và có trách nhiệm chăm lo cho lợi ích cộng đồng.

Aristotle phê phán cách phân chia công dân thành ba loại, và cho tất cả các quyền bình đẳng. Ông cho rằng không thể có sự bình đẳng giữa ba loại người này. Bởi thợ thuyền và nông dân do không được mang vũ khí, nên không có gì khác là nô lệ của giai cấp chiến binh. Và do yếu thế như vậy, hai loại người kể trên không có quyền lực để tham dự vào chính sự. Cũng vì không thể tham dự vào chính sự, họ không thể trung thành với quốc gia. Ngoài ra, hệ thống tòa án của Hippodamus dẫn đến tình trạng độc tài trong phiên tòa, dễ dẫn đến tham nhũng và chạy án.

Ông không giấu được sự mỉa mai với việc vinh danh người đưa ra sách lược cho đất nước, ông cho đó là rỗng tuếch. Vì đó là cơ hội cho “những kẻ chỉ điểm tố cáo những người có tư tưởng cải cách là âm mưu làm loạn.” Hơn nữa, người ta sẽ dễ dàng đưa ra các đề xuất mà không tính toán đến các khía cạnh thực tiễn trong thay đổi. Aristotle phân tích rằng, thay đổi là tốt trong nghệ thuật và khoa học, nhưng với chính trị đó là vấn đề khác. Bởi một nhà cầm quyền có thể ra chính sách nhưng người dân lại lệ thuộc vào tập quán, và luật pháp cần rất nhiều thời gian để có thể thay đổi tập quán, có thể gây ra rất nhiều xáo trộn.

  1. Mô hình của Sparta, Crete và Carthage

Tại Sparta, nông nô luôn luôn tìm cách nổi loạn, trong khi ở Crete, mối quan hệ chủ nô khá ổn định. Tại sao lại có sự khác biệt này?

Sparta là một thành bang cho phép phụ nữ sống phóng túng. Và khi phụ nữ sống phóng túng  thì nền tảng luật pháp cũng lung lay. Hậu quả của việc này đó là sự sùng phụng của cải, và đặc biệt là người chồng bị vợ chi phối. Mỉa mai là, đây là hiện trạng thường thấy trong các dân tộc hiếu võ, ngoại trừ người Celt và một số dân tộc cho phép đồng tính luyến ái nam.

Một vấn đề nữa khiến Sparta suy yếu đó là cơ quan Giám sát viện. Bình luận về cơ quan này, Aristotle kết luận ngắn gọn như sau: “Đây là cơ quan quyền lực cao nhất, nhưng Giám sát viện lại do toàn dân bầu ra trong đám thứ dân, cho nên các chức vụ này dễ rơi vào tay của những người nghèo túng, và người nghèo thì lại dễ bị hối lộ.” Thậm chí, hội đồng trưởng lão của Giám sát viện lại được duy trì đến hết đời, đây là việc phản khoa học vì khi hội đồng này già đi sẽ không thể quản lý tốt được.

Aristotle cực lực phản đối cơ chế bầu cử của Sparta. Bởi vì những người tài thì bị ấn định vào chức vụ, còn ai muốn được bầu thì phải tự ứng cử. “Ở đây cũng như trong những phần khác của hiến pháp, hiển nhiên nhà lập pháp cho thấy ý định của mình là muốn công dân phải có lòng khát khao danh vọng và chức vụ, và ấn định đó là một tiêu chuẩn mà một trưởng lão cần phải có, vì chẳng có ai tự ra ứng cử nếu không muốn có danh vọng. Tuy nhiên, tham danh và tham lợi, hơn bất cứ nhiệt tình nào khác của con người, chính là động lực đưa đến tội ác.”

Thứ duy nhất Sparta coi trọng đó là đức tính duy nhất: đức tính quân nhân. Còn lại, mọi thứ đều tệ hại. Và đó là lý do khiến ngân khố của Sparta luôn thiếu vì phải lo chiến phí, dân thì trốn thuế, quan chức thì móc ngoặc với các thế lực bên ngoài. Tất cả đều dẫn đến một Sparta ngày càng suy thoái.

Crete khá tương đồng với Sparta. Aristotle cho rằng bản hiến pháp của Sparta là bản sao chép lại của Crete. Điểm đặc biệt của Sparta và Crete đó là cả hai thành bang này thực hiện chính sách bữa ăn chung. Ở Sparta, người dân phải trả tiền cho bữa ăn chung. Còn ở Crete thì mọi hoa lợi tập trung lại rồi được chia làm ba phần: tế lễ, công quỹ và bữa ăn chung. Crete khuyến khích mối quan hệ đồng tính và đàn ông hạn chế ở chung với vợ để giảm dân số. Nhờ thế, dù gặp phải tất cả các rắc rối như ở Sparta nhưng Crete vẫn khôn khéo cheo chống.

Mô hình của Carthage  tốt hơn nhiều so với Sparta và Crete dù có chung một cơ cấu chính trị. “Điều này được chứng minh bởi dân thường Carthage luôn trung thành với hiến pháp và người Carthage chưa bao giờ có cuộc nổi loạn đáng kể nào, và chưa hề bị cai trị bởi một bạo chúa.”

Điểm khác biệt: Sparta lựa chọn người giám sát theo bốc thăm, còn Carthage chọn quan chức theo tài năng. Vua của Carthage không cha truyền con nối như Sparta mà vua được bầu bởi gia tộc nổi trội trong từng giai đoạn, và dựa trên tài năng chứ không phải tuổi tác.

Hiến pháp của Carthage dù được xây dựng dựa trên quyền lợi của quý tộc, nhưng chính quyền khá linh động trong từng hoàn cảnh: hoặc dân chủ, hoặc tinh hoa trị. Tùy từng vấn đề, họ có thể đưa ra công chúng để bàn thảo  hay không. Và khi người dân không đồng tình, người dân có thể tự do phản đối. Tuy nhiên, về căn bản, Carthage vẫn là một mô hình điển hình cho tinh hoa trị.

Mặc dù có nhiều ưu điểm, nhưng nền chính trị Carthage cũng không tránh khỏi các khuyết điểm của thể chế tinh hoa trị. Thể chế tinh hoa trị tạo ra cơ hội cho  kẻ giàu dễ dàng mua được các chức vị cao, thậm chí là chức vua. Hơn nữa, hiến pháp cho phép một người giữ nhiều chức vụ, khiến cho công việc chồng cheo và khó hoàn thành nốt, tệ hơn, có thể dẫn đến chuyên quyền. Carthage rất khôn khéo, để tránh các tệ nạn này, họ thực hiện di dân tới định cư ở các thuộc địa. Vấn đề còn lại là ở chỗ, nhà cầm quyền phải đưa ra các phương sách để phòng ngừa nổi loạn từ chính những thuộc địa ấy.

 

III – Các cột trụ của nhà nước

  1. Nhà nước là gì?

Aristotle đưa ra một quan điểm bao quát hơn so với các chính trị gia cùng thời với ông về nhà nước. Nhà nước, theo định nghĩa của ông, “là một hỗn hợp do nhiều bộ phận tạo thành; những bộ phận đó chính là công dân.” Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, ai là công dân. Bởi trong mỗi một thể chế khác nhau, công dân lại khác nhau. Ông cho biết, một công dân ở thể chế dân chủ thì không phải là công dân ở chế độ quả đầu. Ông cho rằng công dân không có nghĩa là một người dân sống ở một quốc gia nào đó. Định nghĩa của Aristotle về công dân là: “Người công dân chỉ cần có một đặc tính duy nhất là người có quyền tham gia vào việc thực thi công lý và đảm nhiệm các chức vụ trong chính quyền.””

Do mỗi chính quyền có một mô hình khác nhau thì công dân lại giới hạn trong các nhóm khác nhau. Ở xã hội dân chủ, người dân thường có thể là công dân. Nhưng ở các xã hội độc tài, dân không có quyền tham chính, nên không thể gọi là công dân. Và nhà nước chỉ hình thành khi “các công dân hợp lại nhằm đạt tới mục đích đời sống”.

Aristotle cũng đặt ra một vấn đề gây nhiều tranh cãi, ngay cả với tình trạng nước ta hiện nay: Một người dân tốt liệu có phải là một công dân tốt hay không? Ông khẳng định hai việc này rất khác nhau. Công dân có trách nhiệm giữ cho xã hội được an toàn, vận hành tốt, giống như người thủy thủ có trách nhiệm giữ cho con tàu phải giữ đúng hải trình và cập bến an toàn. Nên người công dân tốt không nhất thiết phải có đức tính tốt. Nhưng tất cả mọi người nếu là công dân tốt thì nhà nước đó là tuyệt hảo.Tục ngữ cổ Hy Lạp có câu: “Kẻ nào chưa từng vâng lời, không thể trở thành một người chỉ huy giỏi”. Đó là khi “biết cách cai trị như một người tự do và biết cách vâng lời như một người tự do”. Điều này đúng với mọi kẻ mong muốn mình trở thành kẻ cai trị vĩ đại. Bởi không biết tuân phục thì không có cái nhìn bên trong của hệ thống, và bởi thế không hiểu về hệ thống đủ để thay đổi nó. Để trở thành một lãnh đạo giỏi, cần có cả hai đức tính: công dân tốt và người tốt.

 

  1. Chế độ quả đầu, Chế độ dân chủ và Pháp luật

Aristotle phân tích rằng “hiến pháp và chính quyền có cùng một nghĩa, và chính quyền, tức là quyền uy tối thượng trong một nước, phải nằm trong tay của một người, hay của một vài người, hay thuộc về nhiều người.” Những nước mà quyền lực nằm trong tay một người hay nhóm người, theo Aristotle, đó là “hủ bại”. Bởi người dân, chỉ khi là công dân thì mới tham gia vào chính sự.

Hiến pháp có vai trò cốt lõi để xem xét cơ cấu chính quyền. Thông qua Hiến pháp, ta có thể biết được cơ cấu chính quyền nào “gần với cơ cấu lý tưởng nhất, trong hoàn cảnh lý tưởng nhất” và xem cách thực thi hiến pháp trên các quốc gia. Một nhà lập pháp cần phải phân tích và chọn lựa cơ cấu chính trị dựa trên thực tế, bởi theo Aristotle, các nhà tư tưởng chính trị thường không có thực tế.

Aristotle vạch ra một sự phân biệt sẽ gây chấn động với chúng ta ngày nay như sau: “ta thấy có ba mô hình đúng đắn: quân chủ, tinh hoa trị và chính quyền theo hiến pháp; và ba mô hình hủ bại – bạo chúa, quả đầu và dân chủ.” Ông không đồng ý với lập luận của thày ông là Plato rằng “khi mọi thể chế đều tốt thì chế độ dân chủ là chế độ xấu nhất, nhưng khi mọi chế độ đều xấu hết, thì chế độ dân chủ là chế độ tốt nhất”. Về căn bản, các mô hình nhà nước thời đó vẫn được chia thành hai loại: quả đầu (tức nhóm thiểu số nắm quyền) và dân chủ (tức nhóm đa số nắm quyền). Aristotle thì không chia như vậy, ông phân loại theo kiểu: cơ cấu nào tử tế và cơ cấu nào hủ bại

Quyền lực khi tập hợp vào cá nhân thì gọi đó là quân chủ, mà hình thức “hủ bại” là bạo chúa. Quyền lực tập trung vào một nhóm người thì gọi đó là tinh họa trị, và hình thức “hủ bại” là quả đầu. Quyền lực cho nhiều người, ta gọi đó là dân chủ. Nhưng cả ba thể chế này, Aristotle đều cho rằng không hề quan tâm đến quyền lợi của quốc gia, bởi vì “Bạo chúa hủ bại vì nhà vua chỉ chăm lo quyền lợ của vương thất, quả đầu chỉ lo cho quyền lợi của kẻ giàu, và dân chủ chi lo cho quyền lợi của dân nghèo”

Sự khác biệt giữa quả đầu và dân chủ nhiều người cho rằng ở vấn đề thiểu số cầm quyền hay đa số cầm quyền. Sự khác biệt nằm ở tài sản, và sự khác biệt này luôn đặt ra các vấn đề về bình đẳng. Nếu chế độ dân chủ được sử dụng, tức là số đông cầm quyền. Liệu có thể lấy tài sản của người giàu để chia cho người nghèo không? Chắc chắn là không. Và đương nhiên, nếu nhóm giàu có cầm quyền, lòng tham sẽ khiến họ nhân danh nhiều thứ để tước đi tài sản của người dân. Cả hai chế độ này đều bỏ qua một vấn đề cốt lõi trong xã hội, đó là đạo đức. Bởi để một xã hội vận hành, không đơn giản chỉ dựa trên việc nhóm nào cầm quyền, mà còn dựa vào cột trụ đạo đức.

Tuy nhiên, dù không thích tình trạng số đông nắm quyền, nhưng ông vẫn phải thừa nhận số đông sẽ ưu việt hơn thiểu số tài năng. Bởi vì, một tập hợp những người dân làng nhàng, khi được tổ chức tốt sẽ có khả năng thực thi tốt hơn. Đương nhiên, không thể tránh khỏi nguy cơ những kẻ dốt nát sẽ dễ dàng tham chính. Nhưng nếu không cho những kẻ dốt nát ấy tham chính thì chính quyền còn phải đối mặt với nguy cơ nguy hiểm hơn, đó là đẩy những kẻ dốt nát ấy vào tình trạng đối nghịch và phản loạn. Chính quyền dân chủ, tạm thời là ưu việt, nhưng vẫn có rất nhiều vấn đề, mà vấn đề chủ chốt chính là dân trí. Vì đám đông với dân trí thấp sẽ tạo ra một thể chế với các lựa chọn sai lầm, những cuộc đấu tố kinh hoàng.

Vậy thì, dù là chế độ quả đầu hay dân chủ, các quy định về pháp luật là thước đo quan trọng hơn cả. Pháp luật sẽ bù đắp được những khiếm khuyết của dân trí ở chế độ dân chủ và ràng buộc được nhóm lợi ích lam quyền ở chế độ quả đầu. “Từ đó, ta có thể suy ra rằng một chính quyền được thiết lập đúng đắn sẽ nhất thiết có luật pháp công chính, còn những chính quyền được thiết lập sai lầm thì sẽ có bất công.

Cũng giống như mọi nhà chính trị, Aristotle cho rằng luật pháp bình đẳng với tất cả mọi công dân. Nhưng ông cũng cho rằng luật pháp bình đẳng này  chỉ có tác dụng với những người có tài năng hạng trung, ngang bằng với nhau về khả năng. Luật pháp không có tác dụng với người siêu tuyệt, bởi lấy một thứ pháp luật cho người hạng trung để kiểm soát người bậc cao, đó là không thể.

“Nếu có người nào hay một số người nào, dù không đủ số để tạo thành một quốc gia đầy đủ, nhưng tài năng và đức độ siêu tuyệt hơn tất cả mọi người cộng lại, thì kẻ đó hay nhóm người đó không thể được coi là một phần tử của quốc gia nữa. Bởi vì đối với họ đó là điều bất công nếu được đối xử bình đẳng như những người khác có tài năng và đức độ kém hơn. Những người siêu tuyệt như vậy chỉ có thể là thần thánh chứ không thể là người. Như thế, ta thấy rằng luật pháp chỉ liên quan tới những người bình đẳng về tài năng và gia thế, còn đối với những người siêu tuyệt như vậy thì không có luật lệ nào ràng buộc họ. Chính họ là pháp luật. Và thật lố bịch khi có những người đòi làm luật để kiềm chế họ, vì họ sẽ trả lời như trong truyện ngụ ngôn về con sư tử và đàn thỏ của Anthithenes: Khi đàn thỏ đòi bình quyền cho mọi loài súc vật, sư tử hỏi rằng các ngươi có nanh vuốt không mà đòi hỏi bình quyền?’’

Ở các chế độ dân chủ thời cổ Hy Lạp, nhiều người hùng tài ba đã bị đẩy ra nước ngoài. Trong truyền thuyết cũng nhắc đến đoàn thuyền Augonaut đã bỏ Hercules lại, không cho chàng về Argo vì sợ tài năng của chàng sẽ lấn át tất cả. Các chính quyền, dù ở chế độ nào vẫn không thể đưa ra một chính sách hợp lý với các phần tử vượt trội này. Chỉ có hai cách, hoặc đẩy họ đi, hoặc để họ làm vua cho tới chết. Bởi một bậc siêu thuyệt thì xứng đáng được làm vua. (Ở xã hội ngày nay, các bậc siêu tuyệt có lẽ sẽ không thể làm vua, vì họ sẽ bị đưa vào các phòng thí nghiệm để theo dõi và nghiên cứu)

  1. Các mô hình quân chủ

Theo cách nhìn nhận của Aristotle, mô hình quân chủ là mô hình đúng đắn nhất của chính quyền. Nhưng mô hình quân chủ, ngay thời bấy giờ cũng được chia ra làm rất nhiều loại.

Quân chủ được lập nên bởi pháp luật (mô hình tại Sparta) được xem là mẫu mực nhất. Quyền lực của nhà vua không được xem là tuyệt đối, trừ trường hợp xuất chinh hoặc các vấn đề tôn giáo. Vị vua này có thể do kế vị hoặc do dân bầu.

Mô hình quân chủ chuyên chế được nhiều quốc gia phương Đông (ý nói khu vực Lưỡng Hà và Ai Cập) áp dụng. Các vị vua thường coi người dân là nô lệ. Nhưng chế độ này, theo Aristotle đánh giá là ”bền vững và không sợ bị lật đổ vì được xem là hợp pháp và đời cha xuống đời con”. Tại đây, người dân tô vinh vua của họ thật sự, cấm vệ quân cho vua được tuyển từ dân; khác hẳn với chế độ bạo chúa, cấm vệ quân thường là lính đánh thuê và dân bị cưỡng bức tuân phục.

Mô hình quân chủ độc tài (Aesymnetia), tồn tại ở Hy Lạp thời cổ. Mô hình này có thể gọi là “quả đầu qua bầu cử”, tức là người dân bầu lên vị vua của mình, tùy theo nhiệm kỳ, nhiệm vụ hoặc trọn đời.

Mô hình quân chủ thế tập ở Thời đại anh hùng trong khu vực Địa Trung Hải. Các vị vua có truyền thống cha truyền con nối với quyền lực bao trùm. Nhưng dần dần, các vị vua này giao lại một số đặc quyền cho dân, còn mình giữ vai trò tế tự hoặc khi viễn chinh.

 

 

  1. Mô hình Tinh hoa trị và Hiến định

Aristotle dành rất nhiều ca ngợi cho mô hình Tinh hoa trị (ở bản dịch ghi là mô hình quý tộc). Ông định nghĩa mô hình này như sau: “Một chế độ chỉ được gọi là tinh hoa trị một cách đúng đăn nếu đó là một chế độ điều hành bởi những người tài đức nhất, hiểu theo nghĩa tuyệt đối, chứ không phải là những người tài giỏi theo một tiêu chuẩn nào đó.

Mô hình Hiến đình là mô hình phức hợp giữa chế độ quả đầu và chế độ dân chủ. Mô hình Hiến định được quy định bởi hiến pháp chung, thỏa thuận giữa nhóm đa số và nhóm thiểu số. Do đó các chính sách sẽ không hoàn toàn đi theo quyết định của số đông, bởi số đông có thể đưa ra các quyết định sai lầm.

Mô hình Tinh hoa trị là một mô hình hoàn hảo nhưng quá khó để đi theo bởi rất khó để khẳng định tài năng và đức độ của một người vượt trội. Trên thực tế, chưa có một nhà nước nào đạt đến Tinh hoa trị. Thông thường, các nhà nước sẽ chuyển sang hệ thống Hiến định. Hệ thống hiến định hướng con người đến sự trung dung. Tức là, “một đời sống hạnh phúc là một đời sống theo đức hạnh và có đủ phương tiện vật chất để sinh sống, và đức hành là số trung bình cộng hay sự trung dung, thì đời sống trung dung và có số trung bình mà ai củng có thể đạt được phải là đời sống tốt đẹp nhất.

Mô hình Hiến định được xây dựng bởi lớp trung lưu, không quá giàu cũng không quá nghèo. Aristotle phân tích rằng những người quá giàu hoặc quá vượt trội về tài năng sẽ không có khả năng lý trí, dễ phạm tội lớn. Những người quá nghèo sẽ bị lòng tham và sinh tồn chi phối, cũng không thể có khả năng lý trí, dễ trở thành lưu manh. Vì vậy, những người ở giữa, tức giai cấp trung lưu, nên chiếm đa số, như thế tình trạng bình đẳng sẽ dễ dàng diễn ra hơn.

Ông kết luận: “Một nước được thành lập bởi đa số công dân thuộc thành phần trung lưu chắc chắn phải là một nước có chế độ chính trị tốt nhất bởi vì họ cũng giống như những sợi chỉ dệt thành tấm vải quốc gia. Thành phần công dân trung lưu là thành phần ổn định và chắc chắn nhất của một nước, vì họ không như người nghèo thèm thuồng tài vật của hàng xóm, mà cũng không ai thèm thuồng của cải thuộc vào loại thường thường bậc trung của họ, vì người nghèo ham muốn tài vật của người giàu. Họ cũng chẳng thèm âm mưu hại lẫn nhau, mà cũng chẳng có ai thèm âm mưu làm hại đến họ, cho nên , họ sống một đời sống an toàn.” Tất cả những điều ấy khiến giai cấp trung lưu đóng vai trò quyết định. Hoàn hảo nhất là giai cấp trung lưu chiếm đa số, còn nếu không tối thiểu phải đông hơn một trong hai nhóm đối nghịch là giàu và nghèo. Khi ấy, sự quyết định của giai cấp trung lưu sẽ đóng vai trò then chốt trong cán cân chính trị và ngăn không cho các phần tử cực đoan thống trị.

Trên thực tế, mô hình trung dung này cũng rất khó thực hiện. Như Aristotle thống kê thì chỉ có duy nhất một vị vua thực hiện được, có thể là Theramenes, lãnh đạo Athens năm 411TCN. Tại Athens bấy giờ, quyền lực chính trị nằm trong tay 5000 công dân có khả năng tự chiến đấu. Một giả thuyết khác đặt ra thì chế độ trung dung đó chính là do Nhiếp chính  của Alexandre Đại đế là Antipater, bạn thân của Aristotle thực hiện tại Hy Lạp. Tôi cho rằng, người mà Aristotle nhắc đến khả năng là Antipater, bởi vì Antipater và Aristotle thường xuyên chia sẻ tầm nhìn chính trị, nên việc hai người cùng hướng tới mô hình trung dung này là điều dễ hiểu.

 

  1. Các cuộc Cách mạng

Các cuộc Cách mạng, như Aristotle nói, đều đến từ việc các nhóm giàu và nghèo cảm thấy bị đối xử bất bình đẳng. Trong khi ấy, những người có tài xuất chúng mới thực sự là người bị đối xử bất bình đẳng thì họ  lại ít khi nổi loạn. Còn những người xuất thân danh giá thường có xu hướng nổi loạn hơn. Các cuộc Cách mạng được chia làm hai loại. Một là nhằm thay đổi hiến pháp, tức là thay đổi cơ chế và mô hình chính trị. Ở mức độ nhẹ hơn, Cách mạng sẽ góp phần thay đổi một phần nào đó trong Hiến pháp. Hai là loại Cách mạng chỉ nhắm vào những cơ quan của chính quyền.

Đối với quan chức, danh vọng và đấu đá phe cánh là nguyên nhân dẫn đến nổi loạn. Với tình trạng chia bè kết cánh này, các phe sẽ đi ngược lại với hiến pháp để kiếm lợi, đục khoét công quỹ hoặc bóc lột người dân. Một nhóm cảm thấy ghen tị vì danh vọng và quyền lực không bằng nhóm khác có thể dẫn đến nổi dậy.

Một nguyên nhân đối nghịch với tự mãn về danh vọng đó là sự sợ hãi. Sự sợ hãi có thể đến từ hai phía, và thường là sợ hãi mình bị tước quyền, không được đối xử bình đẳng. Người giàu nổi loạn vì sợ đám đông dân chúng sẽ triệt hạ họ hay người nghèo nổi loạn vì sợ chính quyền tước đoạt các quyền lợi… tất cả đều đến từ sự sợ hãi.

Nguyên nhân nghiêm trọng nhất của Cách mạng là do khác biệt sắc tộc. Nên nhớ rằng khu vực Địa Trung Hải là một trong các khu vực phức tạp nhất về sắc tộc trên thế giới. Nếu dân nhập cư nhiều mà chưa có đủ thời gian để các sắc dân học cách tồn tại với nhau thì đó chính là nguyên nhân dẫn đến nổi loạn.

Lãnh thổ có thể cũng là vấn đề dẫn đến nổi loạn. Khi một quốc gia quá rộng và quá nhiều khu tự trị, chính quyền trung ương sẽ không thể thâu tóm được, dần dần hình thành nên sự không tương đồng, và cuối cùng là ly khai, có ly khai là sẽ có nổi loạn.

Nhưng cho dù là nguyên nhân gì thì điểm mấu chốt dẫn đến nổi loạn đa số đều đến từ những va chạm rất nhỏ của các nhóm quyền lợi, như một giọt nước tràn ly. Những cuộc nổi loạn này sẽ thường dẫn tới thay đổi mô hình xã hội một cách đột nngôt, đảo qua giữa hai thái cực. Tình trạng này dễ dàng diễn ra khi tầng lớp trung lưu không đủ đông để giữ cân  bằng.

Ở chế độ dân chủ, tình trạng nổi loạn gây lật đổ thường đến từ sự thật. Ở các xã hội dân chủ, thuật hùng biện và tranh biện rất phát triển. Thuật này là cách thức để các chính trị gia thuyết phục người dân tín nhiệm mình. Nhưng khi sự thật bị lật tẩy, người dân ý thức rằng tất cả chỉ là lừa mị, họ sẽ nổi dậy.

Ở chế độ quả đầu, tình trạng nổi loạn và lật đổ thường đến từ chính nội bộ. Các nhóm quyền lợi trong chính quyền sẽ không bao giờ vừa lòng với những vị trí họ có. Vậy nên, tranh chấp quyền lực chắc chắn sẽ diễn ra.

Ở chế độ tinh hoa và pháp định thì thường bị lật đổ do không giữ được các nguyên tác công chính. Nếu hiến pháp chung của người giàu và người nghèo không được tôn trọng thì nguy cơ bất bình đẳng sẽ diễn ra. Chắc chắn một nhóm sẽ nổi dậy để chống lại nhóm đang thắng thế.

 

  1. Làm thế nào để duy trì độc tài

Chế độ độc tài những tưởng sẽ khiến người dân bức xúc mà nổi dậy, nhưng thực ra các triều đại độc tài đều duy trì khá lâu. Hiện nay, chúng ta đều mặc định rằng độc tài là xấu, còn dân chủ là tốt. Nhưng Aristotle thì khác, ông cho rằng đó chỉ là hai mặt của một vấn đề mà thôi, vì ông cho rằng dân chủ mà cực đoan quá mức sẽ dẫn đến độc tài.

Nguyên nhân một nhà độc tài bị lật đổ chính là lòng oán ghét và sự khinh miệt của người dân. Chính trong chế độ độc tài, người làm vua lại càng phải chăm lo nhiều hơn cho lòng dân. Vậy thì làm thế nào để có được lòng dân?

Aristotle đề xướng: “Quyền lực của nhà vua càng bị giới hạn chừng nào thì quyền lực càng giữ được nguyên vẹn, bởi vì như vậy thì sự cai trị của nhà vua sẽ ôn hòa và không bị dân ghen ghét.

Những nhà độc tài cực đoan sẽ luôn triệt hạ những người vượt trội, có chí khí, cấm hội họp, cấm ăn chung, dạy học và giám sát người dân bằng mọi cách. Văn học nghệ thuật trong xã hội độc tài cực đoan cũng bị cấm. Chính quyền sẽ luôn gây cản trở trong việc quen biết và trao đổi giữa người dân. Từ vấn đề giám sát người dân để ngăn ngừa nổi loạn đã hình thành nên lớp người chỉ điểm, xuất hiện trong các cuộc hội họp. Chính kẻ chỉ điểm này là thứ đáng sợ nhất gây chia rẽ trầm trọng giữa nhà độc tài và người dân, bởi chúng khiến cho người dân e ngại, không dám nói lên sự thật.

Để độc tài duy trì quyền lực tốt hơn, chính quyền luôn phải gây ra chia rẽ dẫn đến tranh cãi trong người dân. Hoặc đơn giản hơn là khiến dân bị bần cùng hóa (nhưng không quá mức), vừa đủ để người dân luôn luôn phải lo kiếm sống mà không có tâm sức để làm loạn nữa. Một xã hội độc tài thường sẽ đề cao thái quá quyền lực của người phụ nữ, để người phụ nữ đóng vai trò chủ chốt trong gia đình, như thế người vợ sẽ báo cáo với chính quyền về tình trạng của người chồng nếu người chồng có ý định làm loạn. Và đương nhiên, không có chỗ cho những tư duy độc lập trong một xã hội độc tài, bởi nhà độc tài chỉ cần những người biết nghe lời và đặc biệt trọng dụng kẻ nịnh hót.

Đúc rút lại nguyên tắc để duy trì độc tài, Aristotle tổng kết các chính sách ấy như sau:

“Đó là làm mất phẩm giá của thần dân, vì những người có ý chí thấp kém thì sẽ chẳng dám âm mưu chống lại ai; tạo sự nghi kỵ giữa đám thần dân với nhau, vì chẳng ai dám lật đổ nhà độc tài cho đến khi người dân bắt đầu có sự tin tưởng lẫn nhau; đó cũng là lý do tại sao nhà độc tài luôn tìm cách đàn áp người tốt vì không những không thể cai trị họ một cách độc đoán, mà còn vì họ luôn trung thành với nhau; nhà độc tài muốn cho thần dân của mình không có khả năng hành động, bởi vì chẳng ai lại đi làm một việc bất khả thi. Nếu họ bất lực thì họ sẽ không nghĩ đến cánh lật đổ nhà độc tài.”

Nếu chỉ bằng các phương thức hạn chế như vậy, nhà độc tài sẽ không thể duy trì quyền lực tốt, họ cần các cách thức khác để tạo hình ảnh, tạo phong thái của một vị vua, chúng ta vẫn gọi đó là “mị dân”. Ví dụ như: quan tâm đến công quỹ và tỏ ra minh bạch công quỹ; thu thuế của người dân là vì lợi ích chung; luôn phải tỏ ra uy nghiêm; tránh say mê phụ nữ và hưởng lạc. Những nhà độc tài thường tỏ ra “là một người phục vụ Thượng Đế một cách nhiệt thành” để lấy niềm tin của dân chúng, khiến dân chúng tin rằng ông ta đang đại diện cho Chúa. Ở các xã hội độc tài, các vị vua cần phải trọng dụng người có tài tới mức các tài năng sẽ trung thành với quốc gia. Đối với cả hai giai cấp giàu nghèo, nhà độc tài luôn tỏ ra là công bằng, và lực lượng nào mạnh hơn thì sẽ được lựa chọn để sát nhập.

Chuyển từ quân chủ sang độc tài, theo như Aristotle nói, là bước đầu dẫn đến sụp đổ. Nhưng độc tài khi không thực hiện các chiêu trò mị dân thì chắc chắn sẽ sụp đổ.

 

IV- Giáo dục và lý tưởng chính trị

  1. Quốc gia lý tưởng

So với các phần trước, thuần túy về mô hình chính trị và lập luận thì ở chương về giáo dục, Aristotle trở lại với các chiêm nghiệm về cuôc sống:

“Những ai muốn tìm hiểu mô hfinh chính quyền nào là mô hình tốt đẹp nhất, trước hết phải xác định xem một cuộc đời đáng sống nhất là một đời sống như thế nào. Khi ta còn chưa biết chắc về điều này, thì ta cũng không biết chắc được cái mô hình chính quyền nào là tốt đẹp nhất. Tuy nhiên trong trật tự của thiên nhiên, ta có thể đoán được những người sống một đời sống tốt đẹp là những người được sống trong một chính thể tốt dẹp nhất mà hoàn cảnh cho phép. Do đó, trước hết, ta nên xác định thế nào là một cuộc đời đáng sống, và xem xét một đời sống như vậy có phải là một đời sốn tốt đẹp nhất cho cả cá nhân và chế độ hay không?

Aristotle kết luận, những người còn độc ác và tham lam thì không thể có cuộc sống hạnh phúc. Chỉ những người có đức hạnh, tức là những người có đời sống tinh thần cao, mới có được hạnh phúc. Vậy thì, một xã hội được gọi là tốt đẹp một cách lý tưởng là xã hội đạt tới các đức hạnh tinh thần và người dân có đầy đủ thể chất, vật chất để thực hiện những đức hạnh đó.

Hạnh phúc của các cá nhân cũng phản ánh lên hạnh phúc của một quốc gia. Khi một quốc gia đề cao sự giàu có của vật chất tức là các cá nhân của quốc gia ấy cũng đang quan niệm rằng sự giàu có mang lại hạnh phúc. Tương tự như thế với uy quyền hay đức hạnh. Một chính quyền khôn khéo sẽ biết cách điều phối các quan điểm về hạnh phúc để thích hợp với tất cả các cá nhân. Và quan trọng, những người nắm chính quyền phải là người đề cao đức hạnh chứ không phải là vật chất hay uy quyền.

Có một mâu thuẫn trong vấn đề đức hạnh, đó là tự do và đời sống chính trị. Luôn có mâu thuẫn giữa hai đời sống này, và phe nào cũng có đủ lập luận để thuyết phục rằng đời sống ấy là đáng sống nhưng Aristotle thì cho rằng người thật sự có tài đức siêu tuyệt là người vừa có đức hạnh vừa có khả năng hành động.

Trong phần này, Aristotle đưa ra một định nghĩa về một quốc gia lý tưởng, rất khác biệt với các tư duy chính trị thời bấy giờ. Quan niệm về một quốc gia tốt của thời bấy giờ về một quốc gia mạnh đó là phải có dân số đông và lãnh thổ rộng lớn, nhưng một quốc gia chỉ có thể phát triển tốt nhất khi nó được tận dụng tất cả các tính năng và vai trò của nó. Một nước đông dân thường dẫn khó cai trị bằng pháp luật và dễ dẫn đến bất ổn. Diện tích lãnh thổ của một quốc gia không cần quá lớn, nhưng đất đai phải đủ để cung cấp nông phẩm và dân sống thoải mái.

Địa thế của một quốc gia được gọi là lý tưởng khi nó đủ hiểm trở để ngăn giặc nhưng đủ thuận tiện cho dân cư đi lại, và đặc biệt là dễ quan sát. Thủ đô của một quốc gia thì cần phải ở chỗ thuận tiện giao thông cả đường bộ và đường thủy, để có thể vừa là trung tâm quân sự vừa là trung tâm thương mại.

Aristotle rất phản đối các quan điểm biến quốc gia của mình thành địa điểm buôn bán của bốn phương. Giao thương buôn bán với nước ngoài quá nhiều sẽ khiến việc cai trị gặp khó khăn và các nguy cơ về quốc phòng. Đương nhiên, một nước có cảng biển sẽ thuận tiện cho phát triển và phòng thủ hơn nhiều so với một nước không có cảng. Việc trao đổi buôn bán các mặt hàng với nước ngoài cũng là điều cần thiết, nhưng không nên để các mặt hàng nước ngoài lấn lướt hàng nội địa. Ông cho rằng: “Thực ra một nước nên trở thành một thị trường để đáp ứng nhu cầu của chính mình, chứ đừng nên trở thành một thị trường cho những nước khác vào buon bán. Những nước trở thành thị trường cho thế giới buôn bán là những nước nhằm tìm kiếm lợi nhuận, nhưng một nước không nên tìm kiếm những lợi nhuận như vậy, bởi thế, một quốc gia không nên biến mình thành nơi thị tứ cho thế giới”. Thiết kế tường thành ở cảng biến phải có tính phòng thủ cao và các luật lệ phải chặt chẽ để chắn những ảnh hưởng xấu do nước ngoài mang đến.

Chất lượng dân cư cũng là yếu tố Aristotle coi trọng, mà giá trị ông đề cao chính là lòng yêu chuộng tự do và sự khôn ngoan. Ông cho rằng, người dân ở phương Bắc sống tự do nhưng thiếu khôn ngoan, còn người dân ở phương Đông khôn ngoan nhưng thiếu đi nhiệt huyết, vì thế, người Hy Lạp ở giữa, có được đặc tính ở cả hai.

Việc phân chia giai cấp được Aristotle ủng hộ. Ông cho rằng công dân thì nên cho sở hữu đất đai và vũ trang để họ tự bảo vệ đất của mình. Nhưng các công dân đó thì không nên làm nghề nông. Để làm nghề nông, tốt nhất là đi bắt người chủng tộc khác thấp kém hơn, quen với đời sống nô lệ để làm nghề nông.

Cũng trong chương này, ông giới thiệu rất nhiều các mô hình về quy hoạch đô thị theo kiểu Hippodamus, quy hoạch chiến lũy, hải cảng, cách thiết kế các địa điểm ăn chung…v…v… Nhưng quan trọng hơn hết, để điều hành các đô thị ấy, pháp luật cần phải công chính.

Ông không cho rằng một nhà cầm quyền nên kéo dài quyền lực của mình mà nên thay đổi theo nhiệm kỳ, vì trên thực tế người cai trị đa phần cũng chẳng khá hơn người dân là mấy. Thay phiên nhau làm quan, làm dân thường… là cách thức để hệ thống vận hành trơn tru hơn, tránh tình trạng kẻ bất tài nắm quyền lâu dài.

Aristotle khác với Hippodamus, ông luôn chia sự vật và sự việc thành hai thái cực. Tinh thần con người, theo ông được chia thành lý trí và lý tính (thường chúng ta hay nhầm hai khái niệm này với nhau). Lý trí là tư duy, còn lý tính cao hơn cả lý trí bởi đó thứ dẫn hướng hành động và tư duy. Đời sống con người cũng được chia làm hai loại là ”công việc và thư nhàn, hay chiến tranh và hòa bình”. Việc một ai đó lựa chọn hành động như thế nào là dựa trên sự dẫn dắt của lý tính. Người dân trong một nước lý tưởng phải có khả năng chiến đấu trong chiến tranh và khả năng thư nhàn trong hòa bình, họ phải vừa là một công dân tốt và hướng tới việc là một người tốt.

  1. Giáo dục

Aristotle đồng ý với các nhà lập pháp khác về vấn đề giáo dục tuổi trẻ nên là mối quan tâm hàng đầu, vì khi giáo dục xuống cấp thì cơ cấu chính trị sẽ bị phá vỡ. Nền giáo dục là công cụ của nhà cầm quyền để phục vụ mô hình chính trị, và do đó phản ánh toàn bộ đặc tính của mô hình ấy. Do đó, một nền chính trị tốt chắc chắn sẽ có mô hình giáo dục tốt.

Aristotle cổ vũ mô hình giáo dục công lập và phản đối giáo dục tư nhân, vì giáo dục tư nhân không nhắm đến “những điều mang lại lợi ích chung cho mọi người”. Không thể lập luận rằng vì mỗi cá nhân khác biệt nên giáo dục khác nhau được, vì một phần tử không thể tách khỏi cộng đồng. Vấn đề ở chỗ, nền giáo dục công lập này nên được tổ chức như thế nào và hướng tới cái gì. Người dân kỳ vọng nền giáo dục hướng tới điều hữu ích trong cuộc sống, nhưng có phải điều hữu ích nào cũng nên được dậy hay không? Có điều hữu ích hạ tiện và có điều hữu ích cho người tự do. Aristotle cho rằng chỉ nên dậy cho trẻ những ngành nghệ thuật hay khoa học giúp cho thể chết và tâm trí trở nên cao cả. Ông bài trừ việc dậy những gì giúp trẻ con sau này lớn lên đi làm nghề nhận lương, vì cho rằng những thứ đó làm thui chột cả thể chất và tinh thần.

Thời bấy giờ ở Hy Lạp thường có 4 môn học: đọc viết, thể dục, âm nhạc và hội họa. Trong 4 môn học này, đọc viết và vẽ được xem là hữu ích cho cuộc sống, còn thể dục là để rèn luyện lòng can đảm. Riêng âm nhạc, ông cho biết, nhiều người vẫn hoài nghi về độ hữu ích, thậm chí còn bị xem là giải trí. Aristotle khẳng định lại, âm nhạc rất cần thiết, cần thiết cho sự thư nhàn, và “nguyên tắc đầu tiên của mọi hành động là sự thư nhàn””, thậm chí, sự thư nhàn còn quan trọng hơn cả nghề nghiệp. Thư nhàn là lúc để có những trải nghiệm tinh thần và hướng tới điều cao cả hơn. Môn đọc viết không nên chỉ coi như việc hữu ích trong xã hội mà là phương tiện để thu thập thêm nhiều kiến thức. Tương tự như vậy, hội họa không chỉ dừng ở phân biệt thật giả để tránh bị lừa gạt khi mua bán, mà nên tập cho chúng khả năng quan sát và trình độ thẩm mỹ. Bởi thế, nếu cái học chỉ hướng tới sự hữu ích thi vẫn cứ là thấp kém, cái học phải hướng tới tự do và thăng hoa.

Aristotle còn dành hẳn một chương để bàn về âm nhạc, về việc tại sao phải giáo dục âm nhạc trong nhà trường. Âm nhạc với ông, không phải đơn thuần là trò “tiêu khiển và thư giãn” như “ngủ nghê và uống rượu”. Ông cho rằng “âm nhạc dẫn đến việc hình thành đức hạnh, vì âm nhạc có thể uốn nắn được tâm trí và làm cho ta cảm được niềm vui thú thực sự”, và hơn cả thế, “âm nhạc làm tâm hồn ta hân hoan”. Đó chính là “cứu cánh hoàn hảo”, là lý do quan trọng để bộ môn âm nhạc tiếp tục ngự trị nền giáo dục. Ngoài ra, “Tiết điệu và âm điệu của âm nhạc mô phỏng được sự dịu dàng và phẫn nộ, cũng như sự can đảm và twj chủ, cũng như tất cả những tính cách tương phản với đức tính này, những tính cách rất giống với tình cảm thực sự ta từng cảm nhận được, vì khi nghe những âm điệu như vậy, tâm hồn ta cũng thay đổi theo.”

Điểm đặc biệt của các chương bàn về giáo dục của Aristotle đó là ông nói rất nhiều về âm nhạc và chơi đùa. Ngay sau chương bàn về âm nhạc, ông lại dành một chương khác về việc có nên dậy trẻ con tập nhạc và chơi đùa không. Aristotle đồng ý với việc dậy trẻ em thực tập nghệ thuật, nhưng ông phản đối việc trẻ em tập đến mức độ chuyên nghiệp, bởi nghệ thuật chuyên nghiệp thì không hướng con người ta đến giá trị tinh thần nữa mà là để mua vui. Và chính sự chuyện nghiệp ấy lại tạo nên sự thô lậu.

Đọc các chương về giáo của của Aristotle, ta có thể tổng kết lại rằng, mô hình lý tưởng của ông dường như không phải chỉ thiên về trau dồi kiến thức mà quan trọng là tăng khả năng thẩm mỹ và đặc biệt là bay bổng cùng âm nhạc. Các ý tưởng về việc giáo dục âm nhạc của ông đã kết thúc  cuốn “Chính trị luận” ở một thang bậc cao vời vượt trên cuộc sống.

Hà Thủy Nguyên

LANG GIA BẢNG – QUYỀN MƯU VÀ HAI NỬA CHÍNH TÀ (3): NỮ NHÂN TRƯỚC THỜI CUỘC

blogpost thumb

“Lang Gia Bảng” không chỉ đưa ra  sự va chạm giữa các hình mẫu nam nhân một tay dàn xếp đại sự, mà còn tạo ra một không gian mà trong đó các hình mẫu nữ nhân khi đứng trước thời cuộc lại có những phản ứng khác nhau. Nữ nhân trong “Lang Gia Bảng” tuyệt nhiên không sến súa, không hành hạ các nam nhân đến mức thổ huyết như các bộ truyện ngôn tình thường thấy của Trung Quốc. Nữ nhân của phim này đều là những người biết cân nhắc đại sự, bất kể chính tà.

Những nữ nhân hi sinh vì đại cuộc

“Lang Gia Bảng” thực sự là một bộ phim về các nguyên mẫu lý tưởng. Những nhân vật nữ chính và thứ chính của phim đều thực sự hoàn hảo, và hoàn hảo theo những cách khác nhau. Một trong các cách hoàn hảo ấy chính là tấc lòng vì đại cuộc hiếm có ở các nữ nhân thông thường.

Sự xuất hiện ấn tượng nhất phải kể đến quận chúa Nghê Hoàng. Nghê Hoàng không phải một cô gái ngây thơ cành vàng lá ngọc. Nàng là điển hình cho mẫu phụ nữ mạnh mẽ, lo toan vạn sự của phủ Vân Nam Vương, lại có sức mạnh “giương cung bạt kiếm” chẳng thua kém nam nhân. Nàng được xếp thứ 7 trong bảng danh sách các cao thủ võ lâm cho Lang Nha các xếp hạng. Tưởng như, một nhân vật mạnh mẽ như thế sẽ có ham hố quyền lực, ám ảnh trả thù. Nhưng không, Nghê Hoàng không ham hố quyền lực. Mọi hành xử của nàng là vì trách nhiệm với gia tộc. Nàng giữ khoảng cách với hoàng hậu và các vương phi trong cung, bởi tự bản thân thấy rằng chẳng có chuyện gì để nói với họ. Những người phụ nữ như Nghê Hoàng, họ sống vì người khác nhưng không vì trách nhiệm mà mất đi bản tính của mình. Sự mạnh mẽ của Nghê Hoàng được đẩy lên đến đỉnh điểm vào lúc cả triều đình đang bị vây hãm bởi quân làm phản Dự Vương. Thật thú vị khi thấy cảnh “mỹ nhân cứu anh hùng”, vung thương phi ngựa diệt trừ phản tặc. Qủa là một cảnh kỳ thú trong phim ảnh Trung Quốc.

Ẩn sâu vẻ ngoài uy vũ chốn sa trường của Nghê Hoàng là một trái tim nhạy cảm. Khi Lâm Thù, người mà nàng đã dành trọn trái tim khi còn trẻ, bị vu oan là phản tắc rồi có tin chàng qua đời, Nghê Hoàng vẫn giữ một mối tình chung. Bao nhiêu năm, nàng không hủy hôn ước, vẫn khắc ghi chàng trong tim. Lâm Thù trở về với danh phận Mai Trường Tô, dù đã thay đổi hình hài, nhưng chính nàng là người nhận ra đầu tiên. Cảnh tượng Nghê Hoàng nhận ra thân phận thật sự của Mai Trường Tô, nước mắt tuôn trào đến nghẹn lời, nhưng vẫn giữ được dáng vẻ bình tĩnh. Thật sự, đó là điều hiếm có ở nữ nhân. Chỉ những người đã từng xông pha trận mạc mới có được cái bản lĩnh ấy. Nàng ở bên cạnh Mai Trường Tô, không một sự đòi hỏi đáp trả bao nhiêu năm xa cách, không một cảnh ân ái, chỉ đứng bên cạnh ngậm ngùi nhìn chàng lo toan thế cục. Mai Trường Tô bệnh tình tái phát, không thể giữ được mạng sống, nàng cũng chỉ có thể rơi nước mắt trong thinh lặng mà không thể thốt lên lời. Nỗi lòng cuồn cuộn ẩn sau sự chừng mực ấy chỉ có thể có được ở những nữ nhân không bị tầm thường hóa. Lưu Đào vào vai Nghê Hoàng quả là đúng với những gì tôi mường tượng khi đọc “Lang Gia Bảng”. Có điều, tiểu thuyết “Lang Gia Bảng” cho Nghê Hoàng cái kết viên mãn quá, viên mãn đến mức làm hỏng hình ảnh Nghê Hoàng. Kịch bản phim có lý hơn, Nghê Hoàng chấp nhận rằng lần này Lâm Thù – Mai Trường Tô đã ra đi thật sự. Người xem hẳn sẽ cảm thấy tiếc cho đôi nam nữ chính hữu duyên vô phận này. Nhưng tiếc thì cứ tiếc, vẻ đẹp của Nghê Hoàng sáng rực trong sự dở dang ấy.

Một hình mẫu gần giống với Nghê Hoàng đó là Hạ Đông. Hạ Đông không thống lĩnh quân đội như Nghê Hoàng, mà từ nhỏ được nuôi dưỡng và huấn luyện để phục vụ cho Huyền Kính Ti – một nơi giống cơ quan tình báo của triều đình. Nếu Nghê Hoàng tránh xa mọi âm mưu thủ đoạn của triều đình thì Hạ Đông lại ở trong vũng bùn nhơ đó, ngày ngày đối mặt, thậm chí từng nhúng chàm, thế nhưng chưa bao giờ đánh mất phẩm giá của mình. Hạ Đông cùng với hai sư huynh Hạ Xuân, Hạ Thu luôn luôn quy phục sư phụ Tôn Hạ Giang của mình. Hạ Đông có một người chồng là phó tướng của Xích Diệm quân, bị cho là đã tử trận tại Mai Lĩnh năm đó. Hạ Đông luôn đau khổ vì chồng, lại ôm mối hận cho rằng gia đình Lâm gia đã ám toán phu quân của mình vì sợ âm mưu làm phản bại lộ. Đó chỉ là màn kịch Hạ Giang bày ra để đổ tội cho Xích Diệm và che giấu sự thật với Hạ Đông. Hạ Đông ôm mối thù nhưng lại không để mối thù che mờ mắt. Từng bước, từng bước, chứng kiến Mai Trường Tô lật mặt nạ của Hạ Giang, Hạ Đông bừng tỉnh và đứng về phía chính nghĩa. Ân tình với vi sư, nàng gác lại. Không phải nàng bất nghĩa, mà nàng thấu rõ rằng mình chỉ là quân cờ dưới tay Hạ Giang để Hạ Giang có thể lợi dụng đi làm việc hại người. Nhưng Hạ Đông may mắn hơn Nghê Hoàng, nàng có cơ hội để được hạnh phúc khi người chồng của nàng quay trở về, kể cả khi người ấy không nói được và hình hài bị biến đổi dị dạng. Nghê Hoàng không có cơ hội ấy, nàng chỉ có những giây phút ngắn ngủi ở bên Mai Trường Tô mà thôi.

Cung Vũ là một hình mẫu đối nghịch với Nghê Hoàng và Hạ Đông. Nàng yểu điệu thướt tha, xinh đẹp kiều diễm, luôn nhu mì dịu dàng, luôn tìm mọi cách để được ở bên người mình yêu. Nàng là một nữ gián điệp dưới trướng Mai Trường Tô, là hậu nhân của Kiệt tộc (kẻ thù của Mai Trường Tô), một ca nương nổi tiếng kinh thành. Cung Vũ luôn xuất hiện với tấm áo lụa mỏng tựa tiên nga. Người đời ít ai đề phòng nàng. Ngay cả Tần Ban Nhược, một nữ gián điệp sừng sỏ của Kiệt tộc cũng bị nàng thuyết phục. Nàng vào sinh ra tử vì Mai Trường Tô chỉ vì yêu chàng, những mong được chàng một lần đối xử nhu mì. Nàng biết trái tim Mai Trường Tô chỉ có Nghê Hoàng, nàng cũng chỉ có thể chấp nhận. Sự chấp nhận ấy không phải vì nàng không ghen tuông, không ích kỷ, mà bởi nàng chứng kiến tất cả những đau đớn của Mai Trường Tô, bởi nàng hiểu tính mạng của Mai Trường Tô như ngọn đèn trước gió, vậy thì so đo tranh giành sủng ái cũng để làm gì. Nàng chỉ có dốc hết tâm sức vì chàng mà thôi. Thế nên, Cung Vũ hi sinh vì thế cục không phải vì nàng mưu định thiên hạ, mà nàng vì người đàn ông nàng yêu say đắm. Chọn Cung Vũ hay chọn Nghê Hoàng, quả thực cũng khó cho Mai Trường Tô. Thôi thì, chết đi âu cũng là lựa chọn dễ dàng hơn cả.

Tĩnh Phi có phần nào cũng giống Cung Vũ, chỉ khác ở đối tượng mà vì họ bà sẵn sàng hi sinh. Cung Vũ hi sinh vì Mai Trường Tô, Tĩnh Phi cũng làm mọi việc vì Tĩnh Vương. Tĩnh Phi vốn bản tính hiền lương, không muốn tranh đấu chốn hậu cung. Bà chưa bao giờ được Lương Đế sủng ái, lại vì vụ án Xích Diệm năm xưa mà bị Lương Đế bỏ bê. Dù thân cô thế cô trong cung, nhưng bà vẫn sẵn lòng giúp các chị em chịu thiệt thòi do không biết cư xử. Thế nhưng, khi Tĩnh Vương nói với mẹ: “Con muốn tranh ngôi thái tử”, tức thì Tĩnh Phi đã thay đổi. Khi ấy, ta mới nhận ra rằng bà thông minh đến mức nào. Mọi âm mưu cung đều không qua mắt được bà. Thậm chí, chưa từng gặp Lâm Thù mà chỉ nhìn cuốn sách Tĩnh Vương mượn của Mai Trường Tô bà đã có thể dựa trên phân tích mà đoán ra Mai Trường Tô chính là Lâm Thù. Một cách tự nhiên, bà đoạt được sự sủng hạnh của Lương Đế. Cũng không phải mất nhiều tâm sức hay lời ngon tiếng ngọt, bà chỉ cần biết cho Lương Đế thứ mà các phi tần khác như Hoàng hậu và Việt quý phi không làm được. Tĩnh Phi không mè nheo đòi hỏi, chỉ lặng lẽ chuẩn bị các loại thức ăn, loại nước tắm có thuốc bổ nhằm bồi bổ cho sức khỏe của Lương Đế. Thuở trẻ trung, vị vua nào cũng ham mê nữ sắc, chứ đã có tuổi, cái cần lại là sự yên bình tĩnh dưỡng và một bàn tay chăm sóc. Đó lại là điều mà Tĩnh Phi giỏi hơn hẳn. Lương Đế tin cẩn bà, giao cho bà bí mật thờ cúng Thần Phi (một sủng phi họ Lâm của Lương Đế đã qua đời do liên đới đến vụ án Xích Diệm). Sự việc này bị Hoàng hậu phát hiện, làm om sòm, lại còn định kết tội bà. Thế nhưng, Tĩnh Phi vẫn không lên giọng nói rằng bà thờ Thần Phi theo lệnh Lương Đế, mà nhận tội hết về mình. Vậy là bà lấy được hoàn toàn niềm tin của Lương Đế. Lương Đế là kẻ đa nghi, điều ông ta cần nhất chính là một phi tử nhất nhất nghe lời mình, sẵn sàng bảo vệ mình. Từng bước một, Tĩnh Phi thuyết phục được Lương Đế giao quyền Thái tử cho Tĩnh Vương mà không hề mở miệng cầu xin lấy một lời. Tĩnh Phi quả thực là một phi tử cao tay, không cầu xin mà có tất cả. Sự cao tay của người thiện lương hơn hẳn sự cao tay của kẻ âm hiểm, bởi người thiện lương biết chừng mực, còn kẻ âm hiểm thì không.

Nữ nhân tham gia chính trị, dù là vì trách nhiệm của bản thân hay vì người mình yêu quý, rốt cuộc, điều quan trọng nhất chính là ở điểm gác lại thói quen ích kỷ và những ham muốn bình an yên ổn, vinh hoa phú quý lại. Nữ nhân đi giữa ngày tháng gió tanh mưa máu của triều đình giữ mình đã khó, bảo vệ người thân càng khó hơn, nếu không có óc phân tích và sự thâm trầm hơn người thì tuyệt đối không thể vượt qua được. Những hạng nữ nhân ồn ào, âm hiểm khiến thế cục rối ren, phần lớn đều là vì bản thân mà thôi.

Những nữ nhân tham quyền đoạt vị

Triều chính của Lương quốc bị thao túng bởi tay Thái Tử và Dự Vương, nhưng kẻ thao túng đằng sau hai vị hoàng tử ấy lại chính là Việt quý phi và Hoàng hậu. Việt quý phi được Lương Đế sủng ái, nhờ thế con trai được phong làm Thái tử. Nhưng Thái tử vô đức vô năng, không giỏi âm mưu, nên mọi sự dàn xếp đều do một tay Việt quý phi thực hiện.  Việt quý phi kiêu ngạo vì sự sủng ái, coi thường quy chế của hậu cung, coi thường Hoàng hậu, vậy là tự bà ta tạo ra thế đối lập cho mình. Hoàng hậu không có con trai nên coi Dự vương (vốn dĩ mồ côi mẹ) như con đẻ, muốn ủng hộ Dự vương lên ngôi. Nếu Việt quý phi không quá tự mãn, chịu cúi đầu trước Hoàng hậu thì có lẽ Hoàng hậu đã vui lòng ủng hộ Thái tử. Đó là cái ngu dốt thứ nhất của Việt quý phi. Thái tử dù sao cũng là thái tử, không dễ để bị phế, nhưng mẹ con Việt quý phi không an phận, luôn tìm cách  để tranh quyền và triệt hạ các thế lực khác, đến mức gây ra các sự việc kinh động. Thái tử mất đi chức vị chẳng qua cũng vì sự tư vấn sai lầm của Việt quý phi. Đó là cái ngu thứ hai. Hai cái ngu căn bản ấy đã kết thúc cho sự sủng ái của Lương Đế với bà ta. Hoàng hậu thâm hiểm hơn, thế nhưng cũng không khá hơn. Khi Tĩnh Phi được sủng ái, bà ta tìm mọi cách để triệt hạ Tĩnh Phi, mà không tìm hiểu xem sức hút của Tĩnh Phi thực sự nằm ở đâu. Cái đầu của bà ta không có gì khác ngoài tranh giành. Thời điểm bà ta đồng ý cho Dự Vương làm phản lật đổ Lương Đế thì bà ta cũng đặt dấu chấm hết cho tương lai của mình. Vậy nên, nữ nhân tham lam quá rất khó thành công. Thêm nữa, hai người đàn bà này, họ quá ồn ào bên tai Lương Đế, tranh giành hết điều này đến điều khác, tị nạnh từng li từng tí, dần dần họ là Lương Đế chán. Chính sự ồn ào của họ đã tạo điều kiện cho Tĩnh Phi được sủng ái vậy. Thế đó, phụ nữ muốn làm việc lớn thì không nên ồn ào.

Trái ngược với sự ồn ào của hai vị phi tử là Tần Ban Nhược. Tần Ban Nhược là mẫu nữ nhân tham gia chính trị với một lòng phục thù, không có chút tình cảm cá nhân, không chút thương tình, và đương nhiên cũng không từ thủ đoạn. Tần Ban Nhược muốn đưa Dự Vương lên ngôi để phục quốc chứ không hết lòng vì Dự Vương. Cô ta và nữ nhân Kiệt tộc của cô ta, ôm ấp mộng phục quốc mà sẵn sàng ám toán, hại người, không chút nương tình. Sư tỉ của Tần Ban Nhược muốn rút lui, đem lòng yêu người khác, cô ta cũng lợi dụng tình yêu ấy để được lợi cho mình. Cái thứ yêu nước bị đẩy tới mức thù hận đã biến toàn bộ nữ nhân của Kiệt tộc thành cỗ máy giết người. Nhìn hệ thống gián điệp của Kiệt tộc và các hành vi của Tần Ban Nhược, ta không khỏi rùng mình ghê sợ những đám đông được nuôi dưỡng bằng thù hận. Rốt cuộc, sự thù hận ấy cũng thất bại. Trăm phương nghìn kế không đọ lại được sự minh bạch các bí mật. Một khi sự thật bị phanh phui, những quyền lực dựa trên âm mưu sẽ sụp đổ.

Kết luận

Xoay quanh những nam nhân một tay dàn xếp thế cục và những nữ nhân có thể dùng nhan sắc và khả năng quyến rũ của mình để lật ngược tình thế, còn có rất nhiều những nữ nhân khác bị cuốn vào vòng xoáy tranh quyền đoạt vị. Họ không mong cầu quyền lực, họ không có tài năng tuyệt đỉnh, họ chỉ muốn được sống bình yên cùng người yêu thương. Họ là Lỵ Dương công chúa, là phu nhân của Dự Vương, là sư tỉ của Tần Ban Nhược… Họ không thể thay đổi số phận của họ, nhưng cũng không muốn mình trở thành quân cờ. Họ là những người đau đớn nhất. Đau đớn bởi họ yếu đuối, đau đớn bởi họ bất lực. Tôi dành phần kết luận để nói về những nữ nhân luôn muốn xa rời thế cuộc những mong yên bình, nhưng lại trở thành nạn nhân của thế cuộc. Họ là điển hình cho mấy câu thơ của Nguyễn Du: “Đau đớn thay, phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” vậy.

Hà Thủy Nguyên