Home Bình Luận Văn hóa đại chúng & dân trí #4: Đám đông & bạo lực

Văn hóa đại chúng & dân trí #4: Đám đông & bạo lực

Khi nhắc đến đại chúng và vai trò của họ trong đời sống xã hội hiện đại, người ta khó có thể bỏ qua ký ức về Cách mạng Pháp năm 1789. Đối với nhiều thế hệ trí thức châu Âu, cuộc cách mạng ấy vừa là biểu tượng của tự do, bình đẳng và giải phóng con người, vừa là lời nhắc nhở về sức mạnh đáng sợ của đám đông khi bị cuốn vào những cơn cuồng nộ tập thể. Những biến cố như Thời kỳ Khủng bố (La Terreur), các cuộc hành quyết hàng loạt và những đợt thanh trừng chính trị đã để lại một dấu ấn sâu đậm trong tâm thức châu Âu suốt cuối thế kỷ XVIII cả thế kỷ XIX.

Đám đông đói nghèo, ít học với công cụ gây sát thương trong tay

Trong bối cảnh hỗn loạn của Châu Âu, Gustave Le Bon đã viết Tâm lý học đám đông (Psychologie des Foules) vào năm 1895. Khác với các nhà tư tưởng Khai sáng từng đặt nhiều kỳ vọng vào khả năng lý trí của công chúng, Le Bon quan tâm đến điều xảy ra khi các cá nhân hòa mình vào đám đông. Theo ông, trong trạng thái đám đông, con người không còn hành động như những cá nhân độc lập với khả năng phán đoán riêng biệt. Họ dễ bị lây nhiễm cảm xúc, dễ bị dẫn dắt bởi các biểu tượng đơn giản, các khẩu hiệu mạnh mẽ và các niềm tin tập thể hơn là bởi những lập luận phức tạp hay các chứng cứ lý tính. Điều đáng chú ý là Le Bon không xem đám đông đơn thuần là tập hợp của nhiều cá nhân. Đám đông, theo ông, là một thực thể tâm lý mới với những quy luật vận hành riêng. Một người có thể hành xử rất thận trọng khi ở một mình nhưng lại trở nên cực đoan khi hòa vào đám đông. Những năng lực phản tư cá nhân bị suy giảm, trong khi các phản ứng cảm xúc được khuếch đại. Chính vì vậy, đám đông thường bị hấp dẫn bởi những hình ảnh đơn giản hơn là những lý luận phức tạp, bởi những khẳng định dứt khoát hơn là những phân tích nhiều chiều. Nếu Ortega y Gasset lo ngại về sự trỗi dậy của con người đại chúng, thì Le Bon lại lo ngại về sự hình thành của tâm lý đám đông. Cả hai đều nhìn thấy một vấn đề tương tự: sự phát triển của xã hội hiện đại đã trao cho số đông một quyền lực chưa từng có trong lịch sử, nhưng không có gì đảm bảo rằng quyền lực ấy sẽ luôn đi cùng với sự phát triển tương ứng của năng lực nhận thức.

Tuy nhiên, cách nhìn của Le Bon cũng có những giới hạn riêng. Ông đặc biệt chú ý đến trạng thái tâm lý của đám đông khi họ bị cuốn vào những cơn cuồng nộ tập thể, nhưng lại ít quan tâm đến những điều kiện lịch sử đã tạo ra sự phẫn nộ ấy. Đám đông không tự nhiên trở nên cuồng nộ. Những hành vi cực đoan thường không xuất hiện từ khoảng không, mà được nuôi dưỡng trong những hoàn cảnh xã hội cụ thể. Trước Cách mạng Pháp, phần lớn dân chúng phải sống trong tình trạng nghèo đói kéo dài, chịu gánh nặng thuế khóa, bất bình đẳng đẳng cấp và những cuộc khủng hoảng lương thực liên tiếp. Trong suốt quá trình công nghiệp hóa châu Âu thế kỷ XIX, hàng triệu người lao động đô thị tiếp tục phải sống trong điều kiện khắc nghiệt, làm việc với cường độ cao nhưng hưởng mức sống thấp, trong khi những thành quả của tăng trưởng kinh tế chủ yếu tập trung vào một bộ phận nhỏ của xã hội. Đằng sau những đám đông mà Le Bon mô tả là cả một lịch sử dài của sự tích tụ bất mãn.

Điều này không có nghĩa rằng mọi hành vi của đám đông đều hợp lý hay chính đáng. Nhưng nếu chỉ nhìn vào sự cuồng nộ mà bỏ qua những nguyên nhân xã hội của sự cuồng nộ ấy, chúng ta sẽ dễ rơi vào một cách giải thích phiến diện. Sự cuồng nộ của đám đông không chỉ là một hiện tượng tâm lý mà còn là sản phẩm của những điều kiện sống, những trải nghiệm lịch sử và những cấu trúc xã hội cụ thể. Những người lao động đổ xuống đường trong các cuộc cách mạng hay các phong trào xã hội không đơn thuần hành động như một đám đông vô danh; họ còn là những con người đang phản ứng trước những hoàn cảnh mà họ cho là không thể tiếp tục chịu đựng. Theo nghĩa đó, câu hỏi về dân trí không thể chỉ được đặt ra ở cấp độ tâm lý học. Một xã hội không thể giải quyết các vấn đề của đám đông chỉ bằng giáo dục hay truyền bá tri thức nếu những nguyên nhân tạo ra sự bất mãn vẫn còn tồn tại. Tri thức có thể giúp con người hiểu rõ hơn về thế giới và về chính mình, nhưng khả năng duy trì một đời sống cộng đồng lành mạnh còn phụ thuộc vào việc xã hội có tạo ra những điều kiện sống đủ công bằng và nhân văn để các cá nhân có thể tham gia vào đời sống chung với tư cách những công dân hay không.

Nếu tìm một hình tượng gần gũi hơn với xã hội Việt Nam, có lẽ Chí Phèo của Nam Cao là một ví dụ điển hình cho con người cần lao cùng quẫn. Điều khiến Chí Phèo trở nên đáng sợ không phải vì hắn sinh ra đã là một kẻ hung bạo. Trái lại, Nam Cao dành cả câu truyện để cho thấy Chí Phèo vốn là một con người bình thường, từng có những ước mơ bình thường và những khát vọng rất đỗi giản dị. Sự hung hãn của hắn xuất hiện sau một quá trình dài bị tước đoạt phẩm giá, bị loại khỏi cộng đồng và bị từ chối khả năng sống như một con người có vị trí trong xã hội. Chính vì vậy, Chí Phèo không chỉ là một bi kịch cá nhân mà còn là một bi kịch điển hình của xã hội. Hắn đại diện cho trạng thái mà ở đó một con người không còn nhìn thấy con đường nào để tham gia vào đời sống chung ngoài bạo lực, sự phá phách hoặc sự trả thù. Khi một cá nhân rơi vào hoàn cảnh ấy, hậu quả có thể chỉ là một bi kịch. Nhưng khi một số lượng lớn người cùng trải qua những điều kiện tương tự, xã hội sẽ đối mặt với một vấn đề hoàn toàn khác: sự hình thành của những đám đông mang trong mình cảm giác bị tước đoạt, bị xúc phạm và bị bỏ rơi.

Trong bất kỳ hoàn cảnh lịch sử nào, một đám đông được cấu thành bởi những con người mang tâm thế của Chí Phèo đều tiềm ẩn khả năng trở nên hung cuồng và hủy diệt. Không phải vì họ thiếu lý trí bẩm sinh, mà vì những điều kiện xã hội đã làm xói mòn những nền tảng giúp con người duy trì lý trí. Một người còn cảm thấy mình có tương lai thường có khả năng kiềm chế. Hoặc họ còn cảm thấy mình được lắng nghe thì vẫn còn  khả năng đối thoại. Nhưng khi số đông không còn nhìn thấy ý nghĩa của việc tuân thủ những quy tắc chung, năng lượng tích tụ trong họ rất dễ chuyển hóa thành sự phủ định đối với chính những trật tự đang tồn tại. Thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX là thời đại của những cuộc cách mạng, những cuộc nổi dậy và những phong trào quần chúng với quy mô chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Công nghiệp hóa kéo hàng triệu người từ nông thôn vào các đô thị. Những cộng đồng truyền thống bị phá vỡ. Sự nghèo đói, thất nghiệp và bất ổn xã hội tạo ra những tầng lớp dân cư đông đảo nhưng thiếu các thiết chế để tham gia một cách có tổ chức vào đời sống chính trị và xã hội. Và trong một bối cảnh như vậy, ai cũng có thể trở thành Chí Phèo. 

Nỗi sợ của nhiều thế hệ trí thức châu Âu không chỉ là sức mạnh của đám đông, mà là sức mạnh của những đám đông đói nghèo và mù chữ. Đó là những con người gần như không sở hữu tài sản, không có vị thế xã hội ổn định, ít được tiếp cận giáo dục và thường không có những kênh đối thoại chính thức với tầng lớp cầm quyền. Khi những bất mãn tích tụ vượt quá giới hạn chịu đựng, họ có thể biến bất cứ thứ gì trong tay thành công cụ đấu tranh. Một chiếc búa của người thợ, một lưỡi liềm của người nông dân, một thanh gỗ nhặt trên đường hay một khẩu súng cướp được đều có thể trở thành phương tiện bạo lực. Điều khiến các tầng lớp tinh hoa lo ngại không phải là bản thân những công cụ ấy, mà là cảm giác rằng họ không còn khả năng thương lượng hay kiểm soát một lực lượng xã hội đang ngày càng đông đảo hơn.

Chính từ nỗi ám ảnh này mà câu chuyện dân trí trở thành một vấn đề trung tâm của thời hiện đại. Bởi nếu xã hội chỉ có hai lựa chọn giữa một bên là thiểu số tinh hoa và một bên là những đám đông bị dồn nén trong nghèo đói và mù chữ, thì mọi xung đột cuối cùng đều có nguy cơ bị đẩy tới bạo lực. Dân trí, trong cách hiểu của nhiều nhà cải cách thế kỷ XIX và XX, không đơn thuần là việc truyền bá tri thức. Nó còn là nỗ lực tạo ra một tầng lớp công dân có khả năng suy nghĩ, tranh luận, tổ chức và theo đuổi lợi ích của mình thông qua những phương thức khác với bạo lực. Theo nghĩa đó, nâng cao dân trí không chỉ nhằm tạo ra những người hiểu biết hơn, mà còn nhằm tạo ra một xã hội có khả năng tự điều chỉnh các xung đột của mình bằng đối thoại, pháp luật và các thiết chế công cộng. Một xã hội càng thiếu những năng lực ấy, nguy cơ quay trở lại trạng thái của những đám đông mang tâm thế Chí Phèo càng lớn. Và đó có lẽ mới là nỗi sợ sâu xa nhất ẩn sau các tranh luận về đám đông, văn hóa đại chúng và dân trí trong suốt hai thế kỷ qua.

 

Một đám đông nắm trong tay công cụ truyền thông

Trong khi các nhà tư tưởng như Le Bon đang cố gắng lý giải sự xuất hiện của đám đông trong đời sống chính trị, thì một biến đổi khác cũng đang diễn ra với tốc độ chưa từng có: sự phát triển của truyền thông đại chúng. Những thập niên đầu thế kỷ XX chứng kiến sự bùng nổ của báo chí, xuất bản, điện ảnh, phát thanh và các hình thức truyền thông hiện đại khác tại châu Âu và Bắc Mỹ. Lần đầu tiên trong lịch sử, hàng triệu người có thể tiếp cận cùng một nguồn thông tin, cùng theo dõi những sự kiện giống nhau và cùng tham gia vào một không gian văn hóa chung vượt qua những giới hạn địa phương. Theo nhiều phương diện, đây là một thành tựu vĩ đại của nền văn minh hiện đại. Truyền thông đại chúng giúp các thông điệp lan truyền nhanh hơn, mở rộng khả năng tiếp cận thông tin mà các thế hệ trước chưa từng có. Những thành tựu khoa học, những tư tưởng chính trị mới, những khám phá địa lý hay những cuộc tranh luận triết học không còn bị giam giữ trong các học viện hay các tầng lớp tinh hoa. Chúng có thể đến với quảng đại công chúng thông qua báo chí, sách phổ thông và các phương tiện truyền thông đại chúng.

Nhưng vấn đề là, người dân vừa là những người thụ hưởng truyền thông đại chúng, vừa có thể trở thành nạn nhân của nó. Bởi những công cụ giúp tri thức lan truyền cũng là những công cụ có khả năng lan truyền định kiến, cảm xúc tập thể, tuyên truyền chính trị và các hình thức thao túng nhận thức. Nếu thế kỷ XIX lo ngại về những đám đông tụ tập trên quảng trường hay trên đường phố, thì thế kỷ XX bắt đầu chứng kiến sự hình thành của những đám đông được kết nối thông qua truyền thông. Những chế độ toàn trị của thế kỷ XX hiểu rất rõ sức mạnh này. Từ tuyên truyền chiến tranh, các phong trào dân tộc cực đoan cho đến các chiến dịch vận động quần chúng quy mô lớn, truyền thông đại chúng không chỉ được sử dụng để thông tin mà còn để định hướng cách con người suy nghĩ, cảm nhận và hành động. Đám đông không còn cần phải đứng cạnh nhau về mặt vật lý để cùng chia sẻ một trạng thái tâm lý mà  liên kết với nhau thông qua những câu chuyện chung, những biểu tượng chung và những cảm xúc chung được sản xuất hàng loạt bởi các phương tiện truyền thông.

Từ góc nhìn này, dân trí lại mang thêm một ý nghĩa mới. Nó không chỉ là khả năng đọc, viết hay tiếp cận thông tin. Nó còn là khả năng duy trì năng lực phán đoán độc lập trong một môi trường nơi các thông tin, hình ảnh và cảm xúc liên tục được sản xuất để tác động đến nhận thức của công chúng. Một xã hội có thể có tỷ lệ biết chữ rất cao mà vẫn dễ dàng bị thao túng bởi truyền thông, bởi vấn đề không còn nằm ở việc con người có được tiếp cận thông tin hay không, mà nằm ở việc họ có đủ năng lực để hiểu, đánh giá và phản biện những thông tin ấy hay không. Có lẽ đây là nghịch lý lớn nhất mà thế kỷ XX để lại cho chúng ta: những công cụ được tạo ra để khai sáng công chúng cũng đồng thời trở thành những công cụ có khả năng dẫn dắt và định hình công chúng trên quy mô chưa từng có trong lịch sử, và những công cụ ấy nở rộ trong đầu thế kỷ 21 với cái tên “mạng xã hội”.

Khi mới ra đời, mạng xã hội được bao quanh bởi rất nhiều kỳ vọng. Nếu truyền thông đại chúng thế kỷ XX thường bị phê phán vì tính tập trung quyền lực, khi một số ít tổ chức truyền thông có khả năng định hình nhận thức của hàng triệu người, thì mạng xã hội được hình dung như một giải pháp dân chủ hơn. Lần đầu tiên trong lịch sử, mỗi cá nhân đều có cơ hội trở thành một chủ thể truyền thông. Họ không chỉ tiếp nhận thông tin mà còn có thể sản xuất, chia sẻ và lan truyền thông tin của riêng mình. Đằng sau sự lạc quan ấy là niềm tin rằng công nghệ sẽ giúp khôi phục vị trí của cá nhân trong đời sống công cộng, thay vì bị hòa tan vào những đám đông vô danh do truyền thông đại chúng như TV hay điện ảnh, báo chí… tạo ra, mỗi người sẽ có cơ hội thể hiện những trải nghiệm, quan điểm và bản sắc riêng của mình. Mạng xã hội được kỳ vọng sẽ tạo ra một không gian nơi tính cá nhân được tôn trọng hơn, nơi những tiếng nói trước đây bị bỏ quên có thể được lắng nghe, và nơi quyền lực truyền thông được phân tán rộng rãi hơn trong xã hội.

Ở một mức độ nào đó, những kỳ vọng ấy không hoàn toàn sai. Mạng xã hội thực sự đã mở ra cơ hội biểu đạt cho vô số cá nhân và cộng đồng vốn trước đây khó tiếp cận với các kênh truyền thông truyền thống. Nó cho phép các nhóm thiểu số tìm thấy nhau, cho phép những người ở các vùng địa lý khác nhau kết nối với nhau, và tạo điều kiện cho nhiều hình thức học tập, chia sẻ tri thức hay hoạt động xã hội phát triển với chi phí thấp hơn rất nhiều so với trước đây. Tuy nhiên, cùng với thời gian, vấn đề lại nảy sinh. Mạng xã hội không chỉ giải phóng tính cá nhân mà còn tạo ra những hình thức đại chúng mới. Những thuật toán tối ưu hóa sự chú ý, những cơ chế lan truyền dựa trên cảm xúc và những áp lực vô hình của việc tìm kiếm sự công nhận xã hội khiến các cá nhân dù được tự do biểu đạt hơn vẫn liên tục bị kéo vào những dòng chảy tập thể. Con người không còn bị đồng nhất bởi một vài tờ báo hay đài phát thanh như trước đây, nhưng lại có thể bị đồng nhất bởi các trào lưu bị dẫn dắt bởi các thuật toán gợi ý và những vòng lặp phản hồi liên tục trên mạng xã hội.

Sinan Aral đã gọi mô hình thiết lập mạng xã hội dưới mọi hình thức là “Cỗ máy thao túng”, ở đó sự xếp hạng và bình luận sẽ tạo ra sự lây nhiễm ra quyết định lẫn nhau, thuật toán sẽ thổi phồng những ý kiến cùng chiều… tất cả dần dần nhào nặn thành một bầy đàn có chung ý kiến và ở sâu trong bầy đàn đến mức tin đó là sự thật.  Cụ thể: Những cơ chế tưởng như vô hại như lượt thích, lượt chia sẻ, bình luận, xếp hạng hay xu hướng thịnh hành thực chất tạo ra những hình thức ảnh hưởng xã hội liên tục. Con người không đưa ra quyết định trong trạng thái cô lập. Họ quan sát những gì người khác đang quan tâm, những ý kiến nào đang được tán thưởng và những quan điểm nào đang được cộng đồng ủng hộ. Từ đó hình thành hiện tượng mà Aral gọi là sự lây nhiễm xã hội (social contagion), khi các lựa chọn, cảm xúc và niềm tin lan truyền từ người này sang người khác giống như một loại dịch bệnh văn hóa. Thuật toán càng làm cho quá trình ấy trở nên mạnh mẽ hơn. Để tối đa hóa thời gian sử dụng và mức độ tương tác, các nền tảng thường ưu tiên hiển thị những nội dung có khả năng giữ chân người dùng lâu nhất. Trong thực tế, điều này thường dẫn đến việc các quan điểm tương đồng được củng cố liên tục, trong khi các ý kiến trái chiều hoặc phức tạp hơn ít có cơ hội tiếp cận người dùng. Dần dần, mỗi cá nhân có thể bị bao quanh bởi một môi trường thông tin ngày càng đồng nhất với những gì họ đã tin tưởng từ trước.

Tìm hiểu thêm: Cỗ máy thao túng – Sinan Aral – Book Hunter Lyceum

Hệ quả không chỉ là sự phân cực của xã hội, mà còn là sự thay đổi trong cảm nhận về thực tại. Khi một quan điểm liên tục được lặp lại bởi những người quen biết, được xác nhận bởi các chỉ số tương tác và được củng cố bởi thuật toán, con người rất dễ nhầm lẫn giữa sự đồng thuận của nhóm với chân lý. Họ không còn cảm thấy mình đang đi theo đám đông, bởi đám đông ấy đã trở thành môi trường nhận thức tự nhiên của họ. Những gì được lặp lại nhiều lần dần dần được cảm nhận như những gì hiển nhiên đúng. Theo nghĩa đó, mạng xã hội đã tạo ra một nghịch lý mới của thời đại dân chủ: Chưa bao giờ con người có nhiều cơ hội biểu đạt ý kiến cá nhân đến thế, nhưng cũng chưa bao giờ các ý kiến cá nhân lại bị định hình mạnh mẽ bởi các cơ chế tập thể vô hình đến thế. Nếu Le Bon lo ngại về tâm lý đám đông khi con người tụ tập trên quảng trường, thì ngày nay chúng ta phải đối diện với những đám đông phân tán, vô hình và hoạt động liên tục bên trong các nền tảng số. Chúng không đòi hỏi sự hiện diện vật lý, nhưng vẫn có khả năng nhào nặn nhận thức của hàng triệu người cùng lúc.

Và cũng chính từ đây xuất hiện một hiện tượng ngày càng phổ biến trong đời sống đương đại: các làn sóng bạo lực mạng. Nếu trong quá khứ, sự cuồng nộ của đám đông thường đòi hỏi sự tập trung vật lý của nhiều người trong cùng một không gian, thì ngày nay những cơn cuồng nộ tập thể có thể được hình thành chỉ trong vài giờ thông qua mạng xã hội. Một thông tin gây tranh cãi, một phát ngôn bị cắt khỏi ngữ cảnh, một đoạn video ngắn hay một lời cáo buộc chưa được kiểm chứng có thể nhanh chóng kích hoạt những phản ứng dây chuyền. Cơ chế lây nhiễm xã hội mà Sinan Aral mô tả kết hợp với những động lực cảm xúc của đám đông mà Le Bon từng phân tích tạo ra một môi trường nơi sự phẫn nộ lan truyền nhanh hơn rất nhiều so với khả năng kiểm chứng sự thật. Mỗi lượt chia sẻ, mỗi bình luận và mỗi phản ứng cảm xúc đều góp phần khuếch đại quy mô của cơn sóng ấy.

Điều đáng chú ý là phần lớn những người tham gia vào các làn sóng bạo lực mạng thường không tự xem mình là một phần của đám đông. Họ tin rằng mình đang đưa ra những phán đoán độc lập dựa trên những gì mình biết. Nhưng trong thực tế, những gì họ biết thường đã được lựa chọn, sắp xếp và khuếch đại bởi chính môi trường thông tin mà họ đang sống trong đó. Khi hàng nghìn người cùng phản ứng theo một hướng giống nhau, cảm giác chắc chắn về tính đúng đắn của bản thân càng được củng cố mạnh mẽ hơn. Ở đây, chúng ta có thể thấy một hiện tượng rất gần với điều Ortega y Gasset từng lo ngại. Con người đại chúng không nhất thiết là người thiếu thông tin. Trái lại, họ thường bị bủa vây bởi rất nhiều thông tin. Vấn đề nằm ở chỗ họ dễ nhầm lẫn giữa việc sở hữu một ý kiến với việc hiểu một vấn đề. Trong môi trường mạng xã hội, nơi việc biểu đạt ý kiến được khuyến khích nhiều hơn việc truy cầu chân lý, sự nhầm lẫn ấy càng dễ dẫn đến những hành vi mang tính tập thể và cực đoan.

Tìm hiểu thêm: Sự trỗi dậy của đại chúng – José Ortega y Gasset – Book Hunter Lyceum

 

Khi các chính quyền chủ động tạo ra đám đông bạo lực

Dù Le Bon hay Ortega đều cảnh báo về sự phá hủy của đám đông, nhưng trên thực tế điều đáng lo ngại nhất không phải là sự tồn tại của con người đại chúng. Xã hội hiện đại vốn được xây dựng trên nền tảng của xã hội đại chúng và không ai hoàn toàn đứng ngoài nó. Điều đáng lo ngại hơn là thời điểm con người đại chúng bắt đầu tin rằng mình đang sở hữu một quyền lực mà thực tế họ không thực sự nắm giữ hoặc không thực sự hiểu rõ. 

Trong đời sống thường nhật, con người đại chúng hiếm khi trở thành một mối đe dọa. Họ có thể chạy theo các xu hướng thời thượng, dễ bị hấp dẫn bởi quảng cáo, dễ thay đổi sở thích theo những làn sóng văn hóa đang thịnh hành hoặc đưa ra những quyết định thiếu cân nhắc trong tiêu dùng và đời sống cá nhân. Nhưng những hành vi ấy chủ yếu chỉ tác động đến bản thân họ. Chúng là những biểu hiện quen thuộc của đời sống đại chúng chứ chưa phải là những nguy cơ xã hội nghiêm trọng. Vấn đề bắt đầu xuất hiện khi con người đại chúng được trao cho cảm giác rằng ý kiến của mình có thể ngay lập tức tạo ra ảnh hưởng đối với người khác, rằng cảm xúc của mình có thể trở thành tiêu chuẩn để phán xét người khác, hoặc rằng mình đang tham gia vào một sức mạnh tập thể có khả năng thay đổi hiện thực. Khi đó, cảm giác về quyền lực thường phát triển nhanh hơn rất nhiều so với năng lực sử dụng quyền lực ấy một cách có trách nhiệm.

Điều mà Le Bon quan sát được trong các đám đông và điều mà Ortega lo ngại ở con người đại chúng thực chất đều xoay quanh hiện tượng này. Một cá nhân khi đứng riêng lẻ thường ý thức rõ hơn về giới hạn của mình. Nhưng khi hòa vào một tập thể lớn, đặc biệt là một tập thể được kết nối bởi những cảm xúc chung, họ rất dễ cảm thấy mình đang sở hữu một thứ quyền lực vượt quá khả năng phán đoán thực tế của bản thân. Chính cảm giác ấy khiến những hành vi mà một cá nhân sẽ không bao giờ thực hiện khi ở một mình lại trở nên có thể khi họ là một phần của đám đông. Theo nghĩa đó, đám đông bạo lực không phải là trạng thái tự nhiên của con người đại chúng. Đa số con người đại chúng không có nhu cầu hủy diệt ai. Họ đi làm, nuôi gia đình, giải trí, tiêu dùng và sống cuộc sống thường nhật như mọi người khác. Để biến một tập hợp những cá nhân bình thường thành một đám đông mang tính hủy diệt, thường cần đến một quá trình kích động, huy động hoặc dẫn dắt cảm xúc. Chính vì vậy, lịch sử cho thấy những đợt bạo lực tập thể hiếm khi xuất hiện một cách tự phát hoàn toàn. Chúng thường đi kèm với những câu chuyện chung  nhằm đơn giản hóa thực tại, những hình tượng kẻ thù rõ ràng, những lời kêu gọi cảm xúc mạnh mẽ và những cơ chế khuếch đại tâm lý tập thể.

Trong bài viết “Kỹ thuật tuyên truyền và ảnh hưởng tới xã hội”, tôi từng đề cập rằng tuyên truyền không đơn thuần là việc truyền đạt thông tin. Tuyên truyền là kỹ thuật định hướng nhận thức tập thể. Nó lựa chọn điều gì được nhìn thấy, điều gì bị bỏ qua, điều gì được lặp lại và điều gì bị lãng quên. Nói cách khác, tuyên truyền không trực tiếp tạo ra suy nghĩ của con người mà định hình môi trường để những suy nghĩ ấy được hình thành. Điều này giải thích vì sao con người đại chúng không tự động trở thành đám đông bạo lực. Phần lớn thời gian họ chỉ là những cá nhân đang sống cuộc sống thường nhật của mình. Họ có thể hời hợt, dễ bị ảnh hưởng bởi quảng cáo, dễ chạy theo thời trang hay những xu hướng văn hóa mới nhất, nhưng những đặc điểm ấy chưa đủ để tạo ra một đám đông mang tính hủy diệt.

Để điều đó xảy ra, cần có một hệ thống tổ chức cảm xúc tập thể. Nếu văn hóa đại chúng là một hiện tượng tương đối mới, gắn liền với sự xuất hiện của xã hội công nghiệp, đô thị hiện đại và các phương tiện truyền thông đại chúng, thì tuyên truyền lại có lịch sử lâu đời hơn rất nhiều. Có thể nói rằng tuyên truyền xuất hiện gần như đồng thời với những hình thức tổ chức xã hội đầu tiên của loài người. Trong thế kỷ XIX, đó có thể là những diễn thuyết chính trị, những tờ báo đảng phái hay những cuộc vận động quần chúng. Trong thế kỷ XX, đó là hệ thống truyền thanh, điện ảnh và báo chí đại chúng. Trong thế kỷ XXI, đó là các nền tảng mạng xã hội cùng những thuật toán phân phối thông tin. Công nghệ thay đổi nhưng nguyên lý cơ bản vẫn giống nhau: tập trung sự chú ý của số đông vào cùng một đối tượng, cùng một cảm xúc và cùng một cách diễn giải thực tại. 

Ngay từ khi các cộng đồng nguyên thủy bắt đầu hình thành những thủ lĩnh, những pháp sư hay những tầng lớp có quyền lực biểu tượng, nhu cầu khiến cộng đồng tuân phục đã xuất hiện. Muốn một nhóm người cùng hành động theo một hướng, người ta cần những câu chuyện chung, những niềm tin chung và những biểu tượng chung, ví dụ như những huyền thoại về tổ tiên, những truyền thuyết về nguồn gốc bộ tộc, những nghi lễ tôn giáo hay những biểu tượng thiêng liêng đều mang trong mình một phần chức năng tuyên truyền theo nghĩa rộng nhất của từ này… Chúng giúp tạo ra sự đồng thuận và duy trì trật tự của cộng đồng. Từ thời cổ đại, tuyên truyền tiếp tục phát triển cùng với quyền lực chính trị. Các vị vua thường tự nhận mình là con cháu thần linh. Các đế chế dựng tượng đài, đúc tiền xu, xây dựng những công trình đồ sộ và ghi chép chiến công của mình lên đá… Những hoạt động ấy không chỉ nhằm lưu giữ lịch sử mà còn nhằm định hình cách thần dân nhìn nhận về quyền lực. Ngay cả khi chưa có báo chí hay truyền hình, quyền lực vẫn luôn tìm cách kiểm soát những câu chuyện mà xã hội lưu truyền.

Điều này cho thấy tuyên truyền không phải là sản phẩm của công nghệ truyền thông hiện đại. Công nghệ chỉ làm thay đổi quy mô và tốc độ của nó. Bản chất của tuyên truyền vẫn là nỗ lực định hình nhận thức tập thể để phục vụ cho một trật tự xã hội, một quyền lực chính trị hoặc một mục tiêu cộng đồng nào đó. Khác biệt nằm ở chỗ, trong xã hội hiện đại, tuyên truyền gặp một môi trường hoàn toàn mới: xã hội đại chúng. Trước đây, người cầm quyền chỉ cần tác động đến một số cộng đồng tương đối nhỏ và biệt lập, nhưng khi báo chí, phát thanh, truyền hình và sau này là mạng xã hội xuất hiện, khả năng tác động đến hàng triệu người cùng lúc là điều khả thi. Tuyên truyền khi đó không còn chỉ là công cụ của nhà vua hay giáo hộ mà trở thành một kỹ nghệ xã hội vận hành thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng.

Trong thế kỷ XX, tuyên truyền không còn chỉ là nghệ thuật của các nhà cầm quyền hay những diễn giả chính trị mà dần trở thành một đối tượng nghiên cứu khoa học, điều này có nghĩa là đây là một hoạt động thường xuyên và có tầm ảnh hưởng xã hội trầm trọng. Một trong những công trình có quan trọng nhất theo hướng này là “Kỹ thuật tuyên truyền trong Thế chiến” của Harold D. Lasswell, xuất bản năm 1927. Thay vì bàn về tuyên truyền như một hiện tượng cần bị lên án, Lasswell tiếp cận nó như một kỹ thuật tổ chức nhận thức tập thể trong bối cảnh chiến tranh hiện đại. Qua việc nghiên cứu các chiến dịch tuyên truyền trong Thế chiến thứ nhất, Lasswell chỉ ra rằng chiến tranh không chỉ diễn ra trên chiến trường mà còn diễn ra trong tâm trí con người. Để huy động hàng triệu người tham gia chiến tranh, các chính phủ phải tạo ra những câu chuyện có khả năng định hướng cảm xúc và nhận thức của công chúng. Báo chí, áp phích, điện ảnh, diễn văn chính trị, các tổ chức xã hội và thậm chí cả giới văn nghệ sĩ… đều được huy động vào quá trình ấy.

Tìm hiểu thêm: Kỹ thuật tuyên truyền trong thế chiến – Harold D. Lasswell – Book Hunter Lyceum

Điều đáng chú ý là tuyên truyền hiệu quả hiếm khi vận hành bằng những lời nói dối hoàn toàn. Một thông tin hoàn toàn sai sự thật thường dễ bị bác bỏ. Trái lại, dựa trên những gì Lasswell quan sát được, tuyên truyền thường dựa trên những sự kiện được lựa chọn, sắp xếp và diễn giải theo một mục tiêu nhất định. Nó sử dụng những phần của sự thật nhưng không phải toàn bộ sự thật. Nó nhấn mạnh một số yếu tố và làm lu mờ những yếu tố khác. Nó dẫn dắt công chúng đến một kết luận mong muốn mà không nhất thiết phải bịa đặt toàn bộ hiện thực. Asa Wirkfoss trong cuốn sách của mình đã gọi đó là những “dữ kiện lấp lửng” (alternative fact), những mảnh sự thật tồn tại giữa ranh giới của thông tin và diễn giải. Bản thân từng dữ kiện có thể không sai, nhưng cách chúng được lựa chọn và đặt cạnh nhau lại tạo ra một bức tranh nhận thức phục vụ cho một mục đích cụ thể. Chính vì vậy, tuyên truyền hiện đại không chủ yếu vận hành bằng sự giả dối, mà bằng sự chọn lọc.

Từ góc nhìn này, chúng ta có thể hiểu vì sao tuyên truyền đặc biệt hiệu quả trong môi trường văn hóa đại chúng. Như đã phân tích ở phần trước, con người đại chúng thường tiếp cận thế giới thông qua những mảnh vụn tri thức và những thông tin rời rạc. Khi không có đủ thời gian hoặc năng lực để đặt từng dữ kiện vào một bối cảnh rộng lớn hơn, họ rất dễ tiếp nhận phần được nhìn thấy như toàn bộ sự thật. Điều mà tuyên truyền khai thác không phải là sự ngu dốt của con người, mà là những giới hạn tự nhiên trong khả năng nhận thức của con người trước một thế giới quá phức tạp. 

Trong cuốn sách “Dữ kiện lấp lửng”, Asa Wirkfoss cho biết một dữ kiện lấp lửng là một phần của sự thật được tách ra khỏi tổng thể của sự thật. Nó có thể là một sự kiện có thật, một con số có thật, một phát ngôn có thật hoặc một hiện tượng có thật…nhưng nó được lựa chọn, nhấn mạnh hoặc đặt trong một khung diễn giải nhất định để dẫn người tiếp nhận đến một kết luận đã được định trước. Bản thân dữ kiện ấy không sai, nhưng nó không phải toàn bộ sự thật. Điều này khiến dữ kiện lấp lửng trở thành nguyên liệu lý tưởng cho xã hội đại chúng. Con người hiện đại tiếp xúc với thế giới chủ yếu thông qua các mảnh thông tin ngắn, các đoạn video vài chục giây, các tiêu đề báo chí, các trích dẫn và các bình luận trên mạng xã hội. Họ ít có cơ hội tiếp xúc với toàn bộ bối cảnh của một vấn đề. Trong môi trường ấy, dữ kiện lấp lửng có khả năng lan truyền mạnh hơn nhiều so với những phân tích đầy đủ và phức tạp.

Tìm hiểu thêm: Dữ kiện lấp lửng – Asa Wikforss – Book Hunter Lyceum

Theo nghĩa nào đó, dữ kiện lấp lửng chính là phiên bản chính trị của những mảnh vụn tri thức. Nếu văn hóa đại chúng thường truyền tải các mảnh vụn tri thức, thì tuyên truyền thường truyền tải các mảnh vụn sự thật. Cả hai đều khiến con người có cảm giác rằng mình đã hiểu một vấn đề trong khi thực tế họ chỉ đang tiếp xúc với một phần rất nhỏ của nó. Bên cạnh hệ thống truyền thông, nhiều hệ thống chính trị cũng chủ động tạo ra những mô hình giáo dục tương thích với nhu cầu tuyên truyền của mình. Điều đó không có nghĩa họ chủ trương dạy những điều sai. Trên thực tế, một nền giáo dục phục vụ tuyên truyền hiệu quả thường không dựa trên sự giả dối mà dựa trên cùng nguyên lý của dữ kiện lấp lửng: cung cấp một phần của tri thức thay cho toàn bộ tri thức.

Người học được tiếp cận với các kết luận nhưng không được tiếp cận với quá trình đi tới kết luận. Họ được tiếp cận với các dữ kiện nhưng không được tiếp cận với các tranh luận xoay quanh dữ kiện ấy. Họ được tiếp cận với tri thức như một sản phẩm hoàn chỉnh thay vì một quá trình truy cầu chân lý đầy nghi hoặc, phản biện và phủ định. Kết quả là xã hội có thể xuất hiện rất nhiều người có học nhưng lại rất ít người thực sự có năng lực nhận thức độc lập. Đây chính là hình thức giáo dục của những mảnh vụn tri thức. Những mảnh vụn tri thức ấy đủ để con người cảm thấy mình hiểu biết hơn trước, nhưng không đủ để họ tự kiểm tra những điều mình được nghe, được đọc hay được tin tưởng. Chúng tạo ra một lớp người luôn cần những hệ thống diễn giải có sẵn để hiểu thế giới. Và khi đó, dữ kiện lấp lửng của tuyên truyền sẽ dễ dàng tìm được mảnh đất màu mỡ để phát triển. Bởi vì tuyên truyền không áp được lên những con người quen suy nghĩ mà lên những con người quen tiếp nhận kết luận. Một người được khuyến khích liên tục đặt câu hỏi sẽ khó chấp nhận một diễn ngôn chỉ vì nó được lặp lại nhiều lần. Nhưng một người quen tiếp nhận các chân lý có sẵn sẽ có xu hướng tìm kiếm thêm những chân lý có sẵn khác để bám víu vào, từ đó hình thành một vòng lặp khép kín giữa giáo dục, truyền thông và tuyên truyền. 

Chu trình tạo ra đám đông là như thế này: Giáo dục cung cấp những mảnh vụn tri thức – Truyền thông cung cấp những mảnh vụn thông tin – Tuyên truyền cung cấp những dữ kiện lấp lửng. Cả ba hòa vào nhau tạo thành một môi trường mà ở đó con người ngày càng có cảm giác mình hiểu thế giới hơn nhưng thực tế lại ngày càng phụ thuộc vào những hệ thống diễn giải có sẵn về thế giới.  Và đây cũng là vực sâu mà các hoạt động nâng cao dân trí cần phải đặc biệt cẩn trọng. 

 

Lời nhắn gửi những nhà hoạt động nâng cao dân trí

Thực tế là không có gì đảm bảo rằng một hoạt động nhân danh nâng cao dân trí sẽ thực sự nâng cao dân trí. Trong môi trường văn hóa đại chúng và truyền thông đại chúng, các hoạt động nâng cao dân trí luôn chịu áp lực phải lan tỏa nhanh hơn, tiếp cận nhiều người hơn, đơn giản hơn, dễ hiểu hơn và hấp dẫn hơn. Áp lực ấy hoàn toàn có thật. Nhưng nếu đi quá xa, chính hoạt động nâng cao dân trí có thể bị đồng hóa vào vòng xoáy mà nó đang cố gắng chống lại. Ban đầu, người ta đơn giản hóa tri thức để tạo ra cánh cửa tiếp cận. Sau đó, người ta nhận ra những nội dung đơn giản được đón nhận nhiều hơn những nội dung phức tạp. Rồi dần dần, mục tiêu nâng cao dân trí bị thay thế bởi mục tiêu lan tỏa. Chỉ số tiếp cận thay thế cho sự chuyển hóa nhận thức. Lượt xem thay thế cho việc học tập. Sự hứng thú thay thế cho sự hiểu biết. 

Đến một thời điểm nào đó, hoạt động nâng cao dân trí vẫn tiếp tục nói về tri thức, nhưng bản thân đã trở thành sự đại chúng hóa. Khi ấy, thay vì chống lại sự băm vụn nhận thức, nó bắt đầu sản xuất thêm các mảnh vụn tri thức, thay vì chống lại các dữ kiện lấp lửng, nó bắt đầu tạo ra những phiên bản dữ kiện lấp lửng phục vụ cho những mục tiêu mà nó tin là tốt đẹp, thay vì giúp con người vượt qua con người đại chúng trong chính mình, nó lại học cách chiều theo con người đại chúng để mở rộng ảnh hưởng. Đây là một cám dỗ rất khó cưỡng lại. Bởi kết quả của nó thường đến nhanh, dễ nhìn thấy và dễ đo lường. Trong khi đó, những thay đổi thực sự của dân trí luôn diễn ra chậm chạp, âm thầm và khó thống kê.

Có lẽ vì vậy mà tiêu chuẩn cuối cùng của một hoạt động nâng cao dân trí không nằm ở việc nó tiếp cận được bao nhiêu người, mà nằm ở việc nó có tạo ra được những con người ngày càng độc lập hơn trong nhận thức hay không. Nếu sau tất cả, người tiếp nhận vẫn tiếp tục cần một hệ thống khác diễn giải thế giới hộ mình, thì dân trí chưa thực sự được nâng cao, chỉ có đối tượng mà họ phụ thuộc đã thay đổi mà thôi. Làm sao để sử dụng các công cụ của văn hóa đại chúng nhằm tiếp cận con người đại chúng, nhưng đồng thời lại phải giữ cho mình không bị biến thành một bộ phận khác của chính nền văn hóa đại chúng ấy… đó là thách thức lớn nhất của các hoạt động nâng cao dân trí trong thời đại của văn hóa đại chúng.

Hà Thủy Nguyên

Đây là bài cuối cùng của chùm bài Văn hóa đại chúng & Dân trí. Đọc đầy đủ chùm bài tại đây: văn hóa đại chúng & dân trí Archives – Hà Thuỷ Nguyên

Tại sao người Việt cuồng xem bóng đá (và người dân thế giới cũng chẳng hề kém)

Bài đã đăng tại Book Hunter, và đăng lại tại website cá nhân sau sự kiện bạo lực bóng đá khủng khiếp tại Indonesia và 1/10/2022. Xin đăng lại bài này để chúng ta nhớ rằng bạo lực bóng đá và nguyên nhân thực sự của nó đến từ chính sự kích thích tính bạo lực ngoài kiểm soát của chính bộ môn thể thao này (và cả các bộ môn thể thao thi đấu khác). *Nguồn ảnh minh họa: Malaysia eats humble pie after

Bàn về cái Khịa của Táo Quân & mô hình giải trí fastfood của VTV

Sự trở về của chương trình “Táo Quân” trước Giao Thừa năm nay đóng vai trò rất quan trọng với VTV. Dễ dàng nhận thấy, “Táo Quân” sẽ là “cú nổ” đầu tiên đánh dấu sự trở lại của chuỗi gây hài kinh điển “Gặp nhau cuối tuần” một thuở làm mưa làm gió. Tiếp nữa, chương trình là show quan trọng nhất kể từ khi giải thể và sáp nhập một loạt các đài truyền hình vào VTV. Thành công của “Táo Quân” là

Khi đời sống ngôn ngữ thiếu tính cảm xúc và ngôn từ gợi tả

“Tôi yêu tiếng nước tôi…từ khi mới ra đời…à ơi, mẹ hiền ru những câu xa vời…”(Trích “Tình ca” của Phạm Duy) Mơ màng trong tiếng ru với giai điệu êm ái, một đứa trẻ lớn lên trong không gian ấy luôn có điểm chạm ngôn ngữ sâu sắc trong tâm trí. Dễ chịu trong vòng tay yêu thương của mẹ, lim dim để mặc những cảm xúc ấm áp dưới biểu hiện của ca từ ngấm vào tâm hồn non nớt, từ đó, lớp

Kỹ thuật tuyên truyền và ảnh hưởng tới xã hội

Là một dạng thức của truyền thông (communication), tuyên truyền (propaganda) được tận dụng rộng khắp trong mọi thiết chế xã hội và xuyên suốt lịch sử nhân loại. Chính cấu tạo từ “propaganda” đã hàm chứa ý nghĩa chính của khái niệm này: tiền tố “pro-” trong gốc Latin có nghĩa là “tiến về phía trước” và “paganda” có gốc Latin là “pagare” với nghĩa “tiếp nối vào”, để tạo thành hàm nghĩa là “nhân rộng”. Khi một thông điệp được lan rộng một

Editor

07/08/2025

Văn hóa đại chúng và dân trí #3: “Con đường gian nan vạn dặm” ở Việt Nam

Khi suy nghĩ về mối quan hệ giữa văn hóa đại chúng và dân trí, tôi thường nhớ đến nhan đề cuốn sách “Đọc sách – Con đường gian nan vạn dặm” của tác giả Nguyễn Quốc Vương. Cuốn sách bàn trực tiếp đến văn hóa đọc,  nhưng tôi vẫn xin được mượn cụm từ "gian nan vạn dặm" để mô tả toàn bộ hành trình nâng cao dân trí trong xã hội Việt Nam đương đại. Sự gian nan ấy bắt nguồn từ chính