Homeschool thì học cách tương tác như thế nào?

blogpost thumb

Một trong những câu hỏi được đặt ra nhiều nhất khi tôi nói về chuyện con gái của tôi homeschool đó là nàng ta sẽ học cách tương tác xã hội như thế nào. Họ luôn cho rằng tương tác xã  hội sẽ chỉ được học ở môi trường nhà trường, nơi đó một đứa trẻ có những người bạn đồng lứa, và được sự chỉ dẫn của những người được đào tạo về nghiệp vụ sư phạm. Tôi không đồng tình với quan điểm này, bởi vì ngay từ triết lý ban đầu của nền giáo dục hiện đại, đặc biệt là ở Việt Nam, thì nhà trường đã không phải là nơi để một đứa trẻ học cách tương tác.

Điều này nghe có vẻ mâu thuẫn!

Hãy xem, trường học của chúng ta đang học được dựng lên theo mô hình như thế nào? Chúng ta được học theo một khuôn mẫu, mà trong đó những người học giỏi và được cho rằng có tư cách đạo đức tốt là hình mẫu.  Trường học là một bản sao được nén lại của xã hội. Bản sao này chứa tất cả các yếu tố làm nên một cộng đồng hạn chế tính cá nhân một cách tối đa. Trong xã hội, con người vận hành theo quy luật kiếm sống và tiêu dùng. Mọi sản phẩm được tạo ra để kiếm sống và lấy nguồn thu từ sản phẩm để mua sản phẩm khác. Sự tương tác giữa con người và con người trong xã hội hiện nay (và có thể là trong mọi hình thái xã hội cổ sơ) đều chỉ là tương tác giữa nhân công với nhân công (kể cả khi bạn ở thượng tầng trong xã hội, về bản chất vẫn là nhân công). Toàn bộ thế giới là một công xưởng, một tập đoàn khổng lồ mà chẳng ai thực sự sở hữu. Chính bản thân nó sở hữu loài người. Trong ấy, trường học giống như một trại huấn luyện.

Con vật bị đưa vào các rạp xiếc, vườn thú, được huấn luyện để đẽo gọt bản tính hoang dã của mình. Chúng được thuần hóa. Cây trồng bị tước bỏ những phẩm tính cây dại của mình để trở thành thức ăn hoặc vật trang trí. Chúng bị bứng khỏi thiên nhiên, trở nên “có văn minh” hơn, nhưng đồng thời cũng mất đi những tinh túy cần có. Chúng trở nên ngớ ngẩn và ngờ nghệch, trở nên giả dối. Nói như nhà thơ Đinh Hùng, đó là một tình trạng “lạc thiên nhiên”. Khi chúng tương tác với nhau như một hệ thống, chúng không tạo thành một hệ sinh thái đa dạng, vừa có thể cộng sinh vừa có thể cạnh tranh sinh tồn, mà trở thành “hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng”, như những con hổ trong vườn bách thú “nằm dài trông ngày tháng dần qua” hay “bọn gấu dở hơi”, “cặp báo chuồng bên vô tư lự” (những hình ảnh trong bài “Nhớ rừng” của Thế Lữ). Nói một cách khác, chúng không tương tác với nhau, chúng cố ngang hàng với nhau để thành hàng lối.

Một trong những ám ảnh tồi tệ nhất của con gái tôi khi ở trường mà luôn khiến tôi bực bội, đó là nàng ta luôn lăn tăn: “Tại sao mình khác những đứa khác thế?”. Không muốn khác người, không muốn đặc biệt, không muốn xuất chúng, và đương nhiên không muốn yếu kém hơn.  Khi có một chút vượt trội hơn, hoặc thua kém hơn, nàng ta lại có cảm giác rằng mình đang thiếu hòa đồng. Cần phải được bình thường như bao đứa trẻ khác là một nỗ lực không dễ đối với con gái tôi. Luôn ở giữa hai lựa chọn: hoặc tự tước bỏ bản thân để bình thường, hoặc cứ sống thoải mái với bản thân mình và chấp nhận cô độc. Các cô giáo trong trường cấp 1 có thể hiểu thấu tình trạng của con gái tôi, nhưng các thầy cô cấp 2 thì không. Cấp độ thấu hiểu này ngày càng ít dần đi khi lên các cấp cao hơn, bởi vì họ thực sự chỉ là “người lái đò” làm dịch vụ đưa học sinh qua sông. Những lời này có lẽ hơi tàn nhẫn với các thầy cô giáo, vì ở đâu đó vẫn có những thầy cô rất tốt bụng và yêu nghề, nhưng đó chỉ là số ít, rất ít giữa một xã hội vô cảm và trục lợi. Và dù họ có yêu nghề đến đâu, thì liệu họ có ý thức được rằng họ đang là nhân công góp phần đào tạo ra các nhân công để phục vụ một xã hội đang tước bỏ các phẩm tính tinh thần của con người?

Một đứa trẻ tương tác với nhà trường, gia đình và xã hội theo một cách không tự nhiên. Nó không thực sự tương tác. Vì nó đâu được là chính nó. Tương tác không tồn tại giữa những chiếc mặt nạ với mặt nạ, những lập trình với những lập trình. Tất cả đều được lập trình theo cách giống nhau, và chỉ hệ thống tự vận hành theo cách của mình mà mỗi con người bị đưa đẩy theo lối đó. Rồi người ta gọi đó là số phận, là định mệnh, là quy luật xã hội…  Và ngay cả những người lớn, cũng chẳng ai tương tác với ai cả. Họ có thể nói chuyện, nhưng không tương tác, bởi các nội dung không đến từ chiều sâu tinh thần mà đến từ những ham muốn, kỳ vọng ở bên ngoài, hoặc tệ hơn, sự hời hợt của nghĩa vụ quan hệ giữa người và người. Những lời chào vô nghĩa, những đon đả không thật lòng, những nghi lễ chỉ mang tính hình thức, những đua tranh thành tích chẳng để làm gì ngoài tô điểm cho cái mặt nạ… tất cả tạo ra một bầu không khí đạo đức giả từ nhà trường, đến gia đình và ngoài xã hội.

Phản ứng lại sự đạo đức giả này, nhiều đứa trẻ có xu hướng chửi bậy, cố tỏ ra “cool ngầu”, đôi khi chuyển sang phong cách “dark”. Con gái tôi đã ở trong tình trạng này và vẫn chưa thoát khỏi. Giống như nhiều đứa trẻ đồng trang lứa, nàng ta nghĩ rằng tất cả những điều ấy là sống thật. Chưa đến lúc nàng ta nhận ra rằng đó chỉ là một thái cực kia của sự giả dối, và thái cực kia không phải là sống thật, mà là một tình trạng giả dối khác. Tuy nhiên, thái cực này là cần thiết để tiếp tục tiến sang nhiều thái cực khác cho đến khi trở về cốt lõi của tinh thần.

Tôi không học được điều này từ các nhà tâm lý học, tôi học điều này từ bản thân tôi. Từ bé tôi luôn là một đứa con ngoan trò giỏi, tuân thủ tuyệt đối mọi quy định tới mức mà tự biến mình thành công cụ để thắt chặt những người bạn của mình vào các quy định ấy. Nhưng khi lên lớp 7, tôi mệt mỏi. Sự mệt mỏi hình thành từ bất mãn của tôi với cô giáo dậy văn của tôi lúc ấy. Cô ấy đã trù dập tôi suốt một năm trời chỉ vì tôi lỡ chỉ ra một kiến thức sai của cô. Cả một năm, tôi chỉ được 7 điểm văn, không hơn. Qúa nhiều điểm 7 đến nỗi tôi cứ ngỡ rằng tôi kém cỏi văn chương. Và cả năm ấy tôi chửi bậy. Cùng với bạn bè mình, tôi cười sằng sặc trước các truyện dạng “sex joke”, mặc toàn đồ đen “cool ngầu”, và chả ngần ngại đọc những thứ như “Cô giáo Thảo” hay “Chú Kim”, những truyện sex đồi bại nổi tiếng. Đó là một năm nổi loạn. Cho đến cuối năm, bài thi môn văn của tôi không được chấm bởi cô giáo dạy văn ấy, mà bởi một cô khác, tôi mới nhận ra rằng chẳng có gì để tự nghi ngờ mình và giận dữ mình. Bài thi ấy, đã rọc phách, và được 9 điểm, được xác nhận bởi cô giáo dạy văn giỏi nhất và có uy tín nhất trường, một cô giáo không thể bị mua chuộc và kỹ lưỡng trong từng câu từng chữ. Từ đó, tôi đã thoát ra khỏi thái cực kia. Lúc ấy, nhìn lại quãng thời gian lớp 7, tôi vẫn nhớ mình có cảm giác như đi ra khỏi địa ngục – trải nghiệm mà sau này tôi đã tự mã hóa vào tiểu thuyết “Điệu nhạc trần gian” tôi viết vào năm lớp 8.

Hồi đó, những mối quan hệ bạn bè dạng “cool ngầu” rất vui, rất ồn ào, nói theo ngôn ngữ bây giờ là “rất quẩy”. Nhưng trong mối quan hệ ấy không có sâu lắng. Chơi bời với nhau nhưng chẳng thể chia sẻ với nhau. Tôi cảm thấy những người bạn chẳng thể chạy theo kịp suy nghĩ của mình. Tôi vẫn thích thú cảm giác trèo lên thành bể trên nóc tầng thượng, nằm dài và nhìn trời mây trôi qua, hơn là tươi cười với họ. Ngày ấy Hà Nội không quá ô nhiễm, trời còn trong xanh và mát mẻ. Cây cối trên tầng thượng lúc nào cũng lên mơn mởn. Tôi dẫn người bạn thân nhất của mình lên tầng thượng. Cả hai nói rất nhiều, rất nhiều, nhưng nhạt nhẽo. Có thể cô bạn tôi không thấy nhạt nhẽo, nhưng tôi cảm nhận thấy sự chán nản trong tôi. Từ đó, tôi cũng không đưa cô bạn lên tầng thượng thêm lần nào nữa.

Những câu chuyện mà chúng tôi nói, không là công việc ở lớp, thì cũng là chuyện nói xấu người này người kia, hoặc mua các đồ “xịn xò”, hoặc theo dõi tình hình của các anh thần tượng. Đôi lúc, sâu sắc hơn một chút, là nghe nhau kể những cảm xúc thoáng qua của tình yêu thuở mới lớn hay những giận hờn bố mẹ.  Chúng tôi giải trí và giết thời gian của nhau nhiều hơn tương tác với nhau. Về sau, những người bạn thân khác của tôi cũng vậy. Mẹ tôi luôn chê tôi vì tôi không biết trân trọng tình bạn. Có lẽ lời mẹ tôi chê là đúng! Bởi vị tôi khó có cảm giác tình bạn tồn tại khi tôi không nhìn thấy họ thực sự là chính họ. Với họ, tôi luôn có một sự e dè nhất định, một cảm giác bất an, không do sự nghi ngờ, mà là do sự thiếu đồng điệu về tinh thần. Tôi cảm thấy rằng họ đang cố đồng hóa tôi vào mẫu hình đời sống của họ với những lời khuyên về việc phải thế nọ, phải thế kia – một điều tối kị của tôi, từ bé cho đến bây giờ.

Sáu năm ở trường tương tác theo lối ấy là quá đủ với con gái tôi, và tôi khó có thể tưởng tượng nàng ta sẽ trải qua ngần ấy năm như tôi, bởi vì sự cố chấp của nàng ta cao hơn tôi, nhưng cũng vì thế mà càng bị ám ảnh tâm lý nhiều hơn tôi. Với tôi, mọi sự rất dễ dàng. Dễ dàng để tuân thủ, dễ dàng để ồn ào, dễ dàng để xu thời, dễ dàng để nổi loạn, và cũng dễ dàng để vứt bỏ những thứ ấy chỉ trong một suy nghĩ. Tôi thuộc loại người chỉ cần một chiếc lá rơi có thể làm tôi quên phắt mọi thứ, nhưng con gái tôi lại là người khư khư với những ký ức. Và càng khư khư với chúng thì lại càng khó chịu đựng nhà trường, khó chịu đựng những tổn thương. Nhưng cũng chính sự khư khư ấy khiến con gái tôi nhớ được những trải nghiệm tự do và vui vẻ mà gia đình tôi tạo ra, để nàng ấy khó chấp nhận được môi trường giam hãm tinh thần và cả thể xác của nhà trường.

Vậy thì bây giờ, con gái tôi sẽ phải học tương tác như thế nào? Đầu tiên là tương tác với chính mình. Có nghĩa là nàng ta phải trải qua những đấu tranh trong tâm trí, sự cãi nhau và dàn hòa giữa các luồng suy nghĩ, sự xung đột và tương thích giữa các thang bậc cảm xúc, và đối mặt với nỗi sợ hãi của chính mình. Nếu không thể tương tác với bản thân mình thì làm sao tương tác và thấu hiểu người khác được? Sự tương tác hờ hững như những kẻ lướt qua đời nhau nào có để làm gì? Và muốn học cách tương tác với bản thân mình thì đầu tiên phải hạn chế tương tác với bên ngoài nhiều nhất có thể. Khi học cách tương tác với bản thân mình rồi, một lúc nào đó, nàng ấy sẽ bước ra ngoài để biểu hiện mình và giải mã các biểu hiện của người khác, nhưng không phải bây giờ.

Nói thì nói vậy nhưng không dễ. Chuyển từ trạng thái ham vui của một đứa trẻ mới lớn sang một trạng thái tĩnh lặng cần thiết luôn khó khăn. Con gái tôi vẫn cần bạn bè, không phải vì thực sự cần, mà vẫn ôm khư khư ý niệm rằng bản thân mình cần bạn và buộc phải có bạn. Khó để gỡ bỏ ý niệm ấy. Vậy thì có một cách đó là đa dạng hóa những loại bạn của con gái tôi. Vợ chồng tôi cho phép con gái lên mạng, chat với những đứa trẻ đồng trang lứa trên facebook. Nàng quen thêm bạn ở đủ cả ba miền Bắc – Trung – Nam, bạn ở Mỹ và ở Nhật. Đằng nào cũng chỉ là tán nhảm, thì tán nhảm ở trường hay ở facebook thì cũng đều độc hại như nhau. Tán nhảm online cho phép nàng thả cửa với những suy nghĩ điên rồ mà không cần phải che dấu. Và khác với những đứa trẻ khác luôn che giấu bố mẹ các đoạn hội thoại trên mạng, nàng thường chụp màn hình các đoạn hay cho vợ chồng tôi đọc. Đôi khi chồng tôi còn chat với bạn của con gái tôi để giúp giải quyết các mâu thuẫn giữa lũ trẻ và phân tích đúng sai cho chúng cũng như cho con gái tôi. Những tranh cãi được lưu ở dạng văn bản luôn rất thuận tiện để làm bằng cớ cho sự phân xử và khiến các bên tâm phục khẩu phục. Các phụ huynh thường sợ con cái mình trò chuyện trên Internet bởi vì họ sợ, họ không tương thích được với thế giới này, và khi sợ thì họ cấm. Sự cấm đoán chỉ càng khiến họ đánh mất dần quyền kiểm soát của mình với con cái. Cha mẹ và con cái cùng tự do theo cách của mình, kỳ lạ thay đó là lúc mọi chuyện được kiểm soát tốt nhất, bởi vì đó là cách người với người đang thực sự tương tác.

 

Hà Thủy Nguyên

Tận hưởng niềm vui với con cái

blogpost thumb

Con cái có lẽ là tạo tác tuyệt vời nhất trong cuộc đời mỗi con người. Nhân tính của đứa con sẽ nói lên cách mà bạn đối xử với chúng, hay nói một cách khác sự trưởng thành của con cái phản ánh nhân cách của những người nuôi dưỡng chúng. Nhưng cũng giống như sáng tác tác phẩm nghệ thuật, thái đô và quan niệm của bạn trong sáng tác sẽ quyết định phong cách và tư tưởng của tác phẩm, quan niệm của bạn về nuôi dậy con sẽ quyết định đặc tính mối quan hệ giữa bạn và con cái. Có người nhận thấy việc nuôi con cái là một trách nhiệm nặng nề với những lo toan chuẩn bị cho tương lai sinh tồn của đứa bé trong đời sống xã hội, có người dồn toàn bộ những ẩn ức của cuộc đời mình vào con cái để thúc ép đứa bé trở thành một thứ gì đó vượt trội, có người coi con cái như cục nợ và chỉ cần vứt tiền nuôi chúng là đủ… Trong bài viết này, tôi sẽ viết về một thái độ khác, quan niệm khác trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái: tận hưởng niềm vui với chúng và để chúng tự quyết định trong cuộc đời mình.

Tận hưởng niềm vui với con cái và để con cái tự quyết, nói thì dễ nhưng làm được thì rất khó. Chúng ta có thể nhìn lại thời thơ ấu của chúng ta. Chúng ta phải đối mặt với áp lực từ trường học với lời trách mắng của thày cô, sự tẩy chay của bạn bè, nếu chúng ta cứ mải chơi và không tập trung học những điều trên lớp, hoặc thể hiện ý kiến phản đối chương trình trong sách giáo khoa hay lời dạy của thày cô, hoặc có một thói quen gì đó khác lạ. Chúng ta phải nghe đủ loại người lớn từ người thân cho đến người ngoài phàn nàn về lối sống của chúng ta. Và gần như chúng ta không có đồng minh, không một lời chia sẻ trong những lần đối mặt ấy. Vậy thì con cái chúng ta giờ đây cũng thế. Đừng so sánh về điều kiện sống, hãy so sánh về những vấn đề tâm lý cần đối mặt, chẳng phải ta và con cái chúng ta rất giống nhau sao? Thế thì tại sao không thể coi chúng như những người bạn ít tuổi hơn mà phải coi chúng như một sinh vật cần được dạy dỗ, cần được nhào nặn từ bàn tay của chúng ta? Cha mẹ khi để con cái được tự do và giữ mối quan hệ ngang bằng với con cái cũng sẽ gặp phải những áp lực không kém từ môi trường xung quanh: Thày cô gọi điện phàn nàn về con cái, những người lớn khác lời ra tiếng vào, và đương nhiên cũng phải từ bỏ không ít những niềm vui khác. Đương nhiên, không ít cha mẹ sẽ chọn phương án an toàn, giống như họ đã từng từ bỏ niềm vui của mình để tuân thủ mọi quy tắc xã hội đặt ra trong cuộc đời của họ.

Con của bạn liệu có thực sự cần rất nhiều đồ chơi hay không? Không, chúng cần nhiều đồ chơi để bù lấp những khoảng thời gian trống khi bạn không ở bên cạnh. Con của bạn có cần tới những trung tâm giải trí ồn ào hay không? Không, chúng cần tới đó bởi đó là cơ hội để được ở bên cạnh bạn. Bạn mới là điều quan trọng nhất, tối cần thiết nhất để mang tới niềm vui đích thực cho con cái, tất cả những thứ khác chỉ là phụ trợ mà thôi. Tôi đã thấy nhiều cha mẹ mua đồ chơi cho con để chúng cho bạn thời gian rảnh hay đưa chúng đi những trung tâm giải trí rồi lại hí hoáy với cái di động. Vậy chẳng phải chúng ta đã để niềm vui ấy vuột mất ư? Thay vì chúng ta quay trở lại với con người trẻ thơ để được vui cười như chúng, chúng ta đã áp đặt một thế giới trẻ thơ khác lên chúng với mục đích lảng tránh những tương tác tinh thần của hai thế hệ. Chơi với con trẻ như một đứa trẻ cũng không tệ đâu. Bạn chỉ cần vứt hết mọi thứ lo toan đời thường sang một bên, để nói một chuyện gì đó nhảm nhảm cùng con cái không vì mục đích gì cả, để đùa nghịch, để khám phá những chiều sâu tinh thần của nhau… Dần dần, bạn cũng như con bạn sẽ thấy những thú vui ngoài kia, ừ thì cũng hay đấy, nhưng không thú vị bằng khoảnh khắc ở bên nhau, bởi khi ở bên nhau bạn và con bạn được bộc lộ những gì phải giấu kín với thế giới ngoài kia.

Con bạn có thật sự cần được dạy dỗ để thích nghi với đời sống xã hội ngoài kia hay không? Không, chúng không cần được dạy dỗ. Điều chúng cần không phải là chặt đi mọi cá tính của bản thân để thích nghi với xã hội. Chúng sẽ vui hơn khi được là chính chúng và biến đổi môi trường xung quanh chúng cho phù hợp với chúng. Điều này quá viễn tưởng, phải không? Hãy nhớ về tuổi thơ của bạn, có phải bạn luôn có một cái nhìn mang tính phán xét với thế giới người lớn, về những thứ kỳ quặc trong thế giới ấy? Nhưng rồi, xã hội, nhà trường, gia đình đã điều chỉnh cái nhìn phán xét ấy của bạn, thứ mà họ gọi là “đạo đức” hay “giáo dục công dân”. Dần dần, bạn thấy những thứ kỳ quặc ấy cũng … bình thường, và bạn được gọi là “khôn ngoan” hay “trưởng thành”. Rồi những ý định, những ước mơ của bạn cũng dần mờ nhạt đi, thay vào đó là chọn con đường an toàn mà xã hội hay gia đình đã định sẵn cho bạn thông qua truyền thông, các lời giáo huấn hay dạy dỗ hay định hướng. Thế là hết! Bạn phải tìm đến những niềm vui giả vờ thông qua đủ loại giải trí hay các cộng đồng hay các lớp dạy kỹ năng sống. Làm sao bạn có thể vui thật sự khi mà con người thật sự của bạn đã bị giam đâu đó trong cái thế giới được ghi đè lên tâm trí của bạn. Những cha mẹ chưa từng được tự do hay chưa từng được tận hưởng niềm vui sẽ không thể cho con cái của họ tự do hay niềm vui. Bạn có nằm trong số họ hay không? Hãy thử tự suy nghĩ xem sao?

Sau cùng, những vấn đề lo lắng thường thấy ở các bậc cha mẹ để quyết định cho con cái tự do và niềm vui, đó là “Liệu con mình có trở nên hư hỏng hay không, đời bây giờ nhiều cạm bẫy xấu xa lắm?”, hay “Xã hội bây giờ nó vận hành như thế, con cái mình không chấp nhận, liệu nó có cuộc sống yên ổn hay không?”… Những lo lắng này là thừa. Những đứa con chỉ nhìn vào cuộc đời của cha mẹ chúng hoặc ai đó nuôi dạy chúng. Nếu bạn tự do là chính mình, luôn vui vẻ, luôn gần gũi về mặt tinh thần với chúng, làm sao chúng có thể hư hỏng? Nếu bạn là chính mình và gặp đủ loại khó khăn nhưng bạn vẫn luôn bình tĩnh vượt qua, luôn vui vẻ đối mặt, thì con cái sẽ học được ở bạn phẩm chất ấy. Hành động trong cuộc đời của bạn sẽ có tác dụng hơn gấp bội so với những lời giáo huấn và dạy dỗ.

Bây giờ thì, nếu bạn đã có con, hãy tắt máy tính đi, và dành thời gian cũng như tinh thần cho con cái.

Hà Thủy Nguyên

Năm đầu tiên homeschool của mẹ trẻ

blogpost thumb

Mình cho mẹ trẻ nghỉ hè phải gần 1 tháng rồi, nhưng hôm nay mới bắt đầu thảnh thơi viết lại những gì mẹ trẻ đã học trong 1 năm đầu homeschool. Thỉnh thoảng mình có “nhá hàng” vài hoạt động kèm theo vài quan điểm của mình một cách vụn vặt, đây là bài tổng kết lại quãng thời gian vừa qua.

Trước tiên, phải nói trước là, mình không hoàn toàn định hướng cho mẹ trẻ ra nước ngoài học, giống nhiều gia đình khác. Mình là một người từ bỏ đại học và ngay từ năm thứ nhất mình đã thấy rằng việc mình cố gắng đi du học thật là ngớ ngẩn. Bởi vì sao? Vì mình nhận thức một cách rất rõ ràng rằng mình muốn trở thành một nhà văn, vậy thì đi du học có giúp mình viết văn hay hơn không hay là chỉ tạo cho mình những cơ hội để dễ nổi tiếng hơn? Mình cho rằng ở lại Việt Nam, tự tìm đọc các tư liệu cả trong và ngoài nước, cho mình nhiều thời gian rảnh nhất có thể, những trải nghiệm lăn lộn với các số phận và con người khác nhau… hữu ích để mang đến cho mình những trưởng thành văn chương, chậm rãi nhưng chắc chắn, hơn là chạy sang tiếp thu một cách sống sượng mớ lý thuyết về nghệ thuật và văn học (những thứ mình có thể tự đọc sách theo từng giai đoạn phù hợp với mức độ thấu hiểu của mình). Còn danh tiếng ư, không phải là thứ nên cưỡng cầu. Năm thứ 2 đại học, mình bỏ tiết rất nhiều,  vì mình cảm thấy mệt mỏi với việc kiểm tra và thi thố với những đề thi ngớ ngẩn và lối học thi học thuộc lòng như một thứ cấp 4. Mình muốn dành nhiều thời gian hơn để đọc sách, tham gia các dự án làm phim (thứ mà mình tưởng rằng đó là con đường đầy thú vị), và tiếp tục sáng tác. Thế rồi mình có con. Nhưng mình vẫn đến trường đi thi, vẫn nhiều thầy quý mình và tạo các điều kiện để mình học tiếp. Có điều, trong thời điểm sinh mẹ trẻ, mình chợt thấy rằng mình đang tự giam mình ở một môi trường học thuật không thích hợp. Đến năm thứ 3 thì mình bỏ đại học, để thực sự bắt đầu cuộc sống tự do của mình. Và cũng chỉ sau đó 1 năm, mình ly hôn người chồng đầu tiên.

Qúa dài dòng để kể về một quá khứ như vậy, để phần nào lý giải cái nhìn của mình về sự vô nghĩa mà các bậc phụ huynh đang đeo đuổi: Một giấc mơ giả tạm về gia đình hạnh phúc và những đứa con thành đạt. Đương nhiên, việc đeo đuổi những điều này không có gì xấu, chỉ là, tôi không muốn giam mình vào giấc mơ ấy để rồi tôi và mẹ trẻ của tôi mất đi cơ hội được  tự do là chính mình. Tôi đã phải nghe quá nhiều người lao vào giấc mơ giả tạm ấy, nhưng họ lại tâm sự với tôi rằng sâu kín trong họ, họ thèm muốn được là chính mình, rằng họ cảm thấy trống rỗng và phải tiếp tục trốn sự trống rỗng ấy bằng cách lao vào các thú vui xa xỉ và những khoảnh khắc sống ảo trên facebook. Họ không cảm thấy tình yêu hay niềm vui bao giờ, mà chỉ duy trì sự tồn tại của mình bằng niềm tự hào về một giấc mơ lung linh.

Và tất cả chuỗi ký ức trên chính là nền tảng cho quyết định khuyến khích mẹ trẻ homeschool thay vì đến trường, không phải vì lý do muốn cho mẹ trẻ đi du học, mà vì để mẹ trẻ được thực sự là mình hơn, dù gian nan và phải đối mặt với đủ thứ thiên kiến xã hội. Hiện giờ, tôi không tính toán cho tương lai của mẹ trẻ, đó là việc của mẹ trẻ, tôi chỉ có thể giúp mẹ trẻ xử lý các tổn thương tâm lý mà thời đi học đã gây ra và tạo các nền tảng kiến thức để mẹ trẻ tự học. Còn tương lai của mẹ trẻ, mẹ trẻ nên tự mình đưa ra quyết định và làm tận cùng, thành công cũng được mà thất bại cũng được, vì thành công hay thất bại chỉ là một cái nhìn tương đối dựa trên các thang đo về phân cấp xã hội mà thôi. Mẹ trẻ có thể chọn đi du học, tôi sẵn sàng tìm hiểu đầy đủ thông tin. Nếu mẹ trẻ muốn học đại học trong nước, tôi có thể dùng hết sức mình để tổ chức vận động chính sách buộc chính quyền chấp nhận trẻ học homeschool. Nếu mẹ trẻ muốn “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” như các thành viên của Book Hunter thì Book Hunter vẫn luôn có sẵn đấy để hỗ trợ. Không có cái đích nào mà không có con đường dẫn đến nó, miễn là mình thực sự nhất quán về đích đến.

Thế nên, năm đầu tiên, mình chọn cách cho mẹ trẻ “xõa là chính”, và học với khoảng thời gian 1 tiếng/ngày.  Và dưới đây sẽ là những gì mẹ trẻ làm trong 1 năm vừa qua.

  1. Giải tỏa những căng thẳng

Thời gian đi học ở trường của mẹ trẻ là những chuỗi ngày căng thẳng. Mẹ trẻ ngứa mắt khi nhận ra rằng một số cô giáo đối xử thiếu công bằng giữa các bạn học mà gia đình “tặng quà” thường xuyên cho cô và những gia đình không làm như vậy. Bạn cùng lớp thường ghen tị với mẹ trẻ vì mấy lý do sau: mẹ trẻ xinh và nhiều bạn trai thích (khổ quá, xinh đẹp là một cái tội), ăn mặc đẹp và sử dụng các đồ dùng học tập đẹp, được mẹ thơm mỗi khi đến trường, đòi gì là nhà mình mua cho thứ ấy. Các bạn cùng lớp cũng đặc biệt không ưa mẹ trẻ vì cảm xúc của mẹ trẻ tuôn trào quá dễ dàng: bật khóc ngay lập tức khi bị đối xử bất công, buồn bã nhiều ngày khi trong nhà có người ốm… Trong những lần làm bài kiểm tra, cô cho phép lớp mở sách ra chép và cho phép các bạn trong lớp chép bài nhau, nhưng riêng mẹ trẻ không chép, cũng không làm bài triển tra luôn, chỉ ngồi im. Nói chung, mẹ trẻ hoàn toàn cô độc khi ở trường, mà thậm tệ hơn thế, các bạn cùng lớp luôn gây áp lực bắt mẹ trẻ phải thế nọ thế kia. Một số cô giáo hiểu và thật sự quý trọng mẹ trẻ thì cứ đột nhiên nghỉ dạy, mà có dạy được hết năm học thì cũng không thể theo lên tiếp năm sau.

Đến khi mẹ trẻ lên lớp 6, tình hình còn tệ hơn, vì cô giáo chủ nhiệm cấp 2 của mẹ trẻ là một người không chịu chấp nhận rằng nền giáo dục Việt Nam là một sai lầm lớn, mà chỉ khăng khăng chạy đua theo thành tích. Cô giáo bắt mẹ trẻ phải đi học phụ đạo buổi chiều trong khi điều này được hợp lý hóa bằng việc bắt bố mẹ viết đơn xin cho con mình được học phụ đạo. Mẹ trẻ nhà mình đương nhiên không chấp nhận, nên mẹ trẻ quyết định không đi học phụ đạo, mà ở nhà học cùng vợ chồng mình dưới hình thức bán homeschool, tức là buổi sáng mẹ trẻ học chương trình của nhà trường và buổi chiều học chương trình mà mình và “bạn chồng” mới của mình dậy. Một điều không thể tránh khỏi đó là mâu thuẫn giữa hai chương trình học. Và điều này càng làm gia tăng mức độ bất tuân cùng với áp lực tâm lý của mẹ trẻ. Dậy thử 1 tháng, mình thấy mẹ trẻ quá khổ, nên quyết định: “Thôi nghỉ đi! Khi nào Hà Nguyên từ bỏ chương trình ở trường hoàn toàn thì mẹ và chú Nam sẽ dậy tiếp!”

Suốt cả năm lớp 6, mẹ trẻ bị lớp học phá hủy một cách kinh khủng hơn nhiều lần so với 5 năm cấp 1. Mẹ trẻ đang từ một đứa rất khá môn toán thì bây giờ không thèm làm bài tập toán nữa vì thấy…chán. Mẹ trẻ đang rất yêu môn mỹ thuật và thích vẽ thì bây giờ không muốn cầm cây bút vẽ nữa vì cứ nhìn thấy bút vẽ là nhớ đến mặt ông thầy dậy vẽ hắc ám suốt ngày chửi rủa và phạt mẹ trẻ vì không chịu làm theo quy định của ông ta, vân vân và vân vân các ám ảnh như thế. Chỉ một năm học, từ một cô bé xinh xắn và dễ thương, mẹ trẻ trở nên phì nộn với nét mặt lúc nào cũng cau có, mụn đầy mặt, dáng người trở nên thô lỗ hơn, và đã chuyển từ sự yêu thích những điều dễ thương sang hứng thú với những thứ đen tối. Thật tệ hại nếu tình trạng này duy trì lâu dài.

Kiểm tra cuối kỳ năm lớp 6, tất cả các môn, mẹ trẻ nộp giấy trắng, trừ môn Giáo dục công dân, vì bài kiểm tra này làm về quyền trẻ em. Cô giáo chủ nhiệm hoàn toàn vô cảm với điều này và nghĩ rằng mẹ trẻ bị thiểu năng, yêu cầu nhà mình đi xin giấy trẻ thiểu năng cho mẹ trẻ. Hôm thi lại, mẹ trẻ không chịu đi thi. Và dù mẹ trẻ lưu luyến trường đến đâu thì mình cũng biết rằng trong thâm sâu mẹ trẻ muốn ở nhà để học cùng vợ chồng mình.

Thế thì năm đầu tiên không nên nhanh chóng bắt mẹ trẻ vào một chương trình đầy áp lực. Mình cũng không đồng tình với cách ép các bạn nhỏ phải lao động chân tay cực khổ để các bạn nhỏ hiểu được cái vất vả của người lao động như một nhóm homeschool khác đang làm. Kinh nghiệm của mình khi vận động nặng đó là người ta chả nghĩ được gì cao xa hay mở mang tâm trí, mà chỉ để rèn luyện tính kỷ luật theo lối quân phiệt. Mình chẳng có nhu cầu trói mẹ trẻ vào một thứ kỷ luật ngớ ngẩn mà người lớn đặt ra rồi cho rằng đó là điều đúng đắn bắt buộc phải làm để đi tới thành công.

Mẹ trẻ được tha hồ nằm lầy trên giường, ngủ và thức theo khung giờ của mình, được xem tất cả những chương trình mẹ trẻ thích (dù nhiều chương trình mình thấy thiếu văn hóa). Được cái, mẹ trẻ có nhận định riêng, và ý thức được khả năng tự xóa não mình khi gặp phải những thứ quá kinh khủng.

Mẹ trẻ thích chơi slime và làm slime. Thực ra nhiều trường tiểu học ở Mỹ đưa làm slime vào chương trình học để kích thích sáng tạo. Okay, nhà mình đầu tư mỗi tháng 500.000 để mua nguyên liệu làm slime cho mẹ trẻ. Mẹ trẻ tự xem công thức trên mạng, tự thử nghiệm, ra thành phẩm. Học xong một công thức này thì mẹ trẻ lại học tiếp công thức khác. Và có lẽ chỉ chán slime sau khi học hết các công thức slime. Làm slime giúp mẹ trẻ tự học được cách cân đo các liều lượng vùa phải, biết được mình thực sự cần gì để hoàn thành một nhiệm vụ, và quan trọng hơn là… giải tỏa những căng thẳng. Mẹ trẻ con huấn luyện mấy cô cháu của mình cách làm slime chuyên nghiệp như mẹ trẻ. Vợ chồng mình dụ mẹ trẻ bán slime đi để thu hồi vốn đầu tư của vợ chồng mình, mẹ trẻ cương quyết lắc đầu nói là sẽ bán nhưng không phải bây giờ vì mẹ trẻ thấy sản phẩm chưa đủ tốt để tung ra thị trường.

 

  1. Học lịch sử

Mẹ trẻ không thích học lịch sử nhưng đây là môn tạo ra những xung đột lớn giữa chương trình học ở trường của mẹ trẻ và kiến thức mình cung cấp cho mẹ trẻ. Mình đoán đây là lý do mẹ trẻ quyết định chọn học lịch sử, dù mẹ trẻ không hề ý thức được điều này, mà chỉ thấy mơ hồ rằng cần phải học lịch sử. 2 buổi/tuần, mình hướng dẫn mẹ trẻ học lịch sử Việt Nam.

Đầu tiên là cho mẹ trẻ xem các phim dã sử mà Việt Nam đã làm (dù rất ít ỏi), để mẹ trẻ có cảm nhận về không khí lịch sử Việt Nam. Các phim mình chọn bao gồm: “Đêm hội Long Trì” (kèm với phần 2 của phim là “Kiếp phù du”), “Vũ Như Tô” (kịch truyền hình), “Long thành cầm giả ca”. Ban đầu, mình dự định để mẹ trẻ xem xong phim rồi đọc tất cả thông tin về nhà Lê có trên Wikipedia. Nhưng việc này hơi quá tải với mẹ trẻ. Dù mẹ trẻ thích xem “Đêm hội  Long Trì” và “Long thành cầm giả ca” hơn, nhưng với phim “Vũ Như Tô”, mẹ trẻ lại thể hiện nhiều thái độ. Mình xin được copy lại note mình viết ngày 21/9/2018 ngay sau khi mẹ trẻ xem “Vũ Như Tô”:

Kéo lê mãi và bị gián đoạn bởi kế hoạch công tác dài ngày của mình, nên đến giờ mới hướng dẫn cho mẹ trẻ xong về các mặt từ hành chính, pháp luật, kinh tế, văn hóa, thủ công nghiệp, văn học nghệ thuật, quân đội, ngoại giao… thời Lê Sơ. Túm lại, mẹ trẻ nhà mình không quan tâm lắm mấy cái thủ công nghiệp hay văn học nghệ thuật, mà chỉ đặc biệt quan tâm đến hành chính, pháp luật và quân sự. Ví dụ các mối quan tâm sẽ xoay quanh các câu hỏi hoặc các nhận xét của mẹ trẻ như sau:

– So sánh lục bộ thời Lê với các bộ bây giờ. Nói chung mẹ trẻ so sánh khá chính xác.

– Thán phục bộ luật Hồng Đức bảo vệ quyền phụ nữ, lại có vẻ rất tâm đắc ở điểm này.

– Thấy Đại Việt đánh Chiêm Thành và nước Lan Xang (biên giới Lào và Tây Bắc Việt Nam) thì kết luận là: Nước mình cũng ác khác quái gì Trung Quốc đâu mà cứ chê nó.

 

Sau đó, mình cho mẹ trẻ xem vở kịch “Vũ Như Tô”. Mẹ trẻ xem kịch này không hào hứng như mấy bộ phim kia, phần vì bản trên Youtube chất lượng thấp quá, phần vì kịch dàn dựng hơi thiếu hấp dẫn thật 🙁 .Nhưng mà mẹ trẻ vẫn xem. Lúc đang xem dở, mẹ trẻ có vẻ rất hứng thú với Cửu Trùng Đài (cứ nghĩ là bây giờ vẫn còn). Đến lúc cuối vở kịch, Cửu Trùng Đài bị đốt phá và Vũ Như Tô bị chết thì mẹ trẻ có vẻ hơi… thộn. Khi nghe câu kết của vở kịch: “Vũ Như Tô phải hay những kẻ giết Vũ Như Tô phải?” thì mẹ trẻ nói luôn: “Chịu!”. Túm lại mẹ trẻ kết luận: “Đúng là ở Việt Nam thì chỉ xây cái gì nhỏ nhỏ thôi không là dân phá ngay, tiền là phải để nuôi dân! Nhưng mà vẫn thích Cửu Trùng Đài!” Rồi lẩm bẩm: “Sai sách!Sai sách!”.

À quên, bổ sung: Mẹ trẻ tuyệt đối không thích Lê Khanh trong vai Đan Thiềm, bảo là cứ giả giả sao đó. Vụ này mình không phản đối nha.

Đến trưa nghe tin “bác Quang thôi đã thôi rồi” thì mẹ trẻ chỉ kết luận “Để xem đám ma có to bằng ông Võ Nguyên Giáp” rồi cắp đít lên phòng điều hòa.

Sau đó là những lần dã ngoại đi Bắc Ninh thăm làng Đình Bảng, đi Đường Lâm, đi Sài Gòn…

Đầu năm 2019, mình thay đổi cách học sử của mẹ trẻ, chọn một cách dễ dàng hơn, đó là đọc lướt tổng quan, và sang năm sẽ đi sâu vào từng chi tiết sau. Mình chọn các link Wikipedia có tính tổng quan về các triều đại và thời kỳ lịch sử cho mẹ trẻ đọc. Mình không coi trọng việc mẹ trẻ phải thuộc làu những điều này, mà quan trọng và những nhận định và phán xét của mẹ trẻ khi đọc các thông tin đa chiều. Ví dụ đây là nhận định của mẹ trẻ khi tìm hiểu về Nhà nước Văn Lang và ngày 18/2/2019:

Sau 3 tháng mẹ trẻ “thích thì nghỉ thôi”, bây giờ mới quay lại học tiếp. Bài học đầu tiên là về Nhà nước Văn Lang. Thú thật là mình rất ái ngại khi dậy về mảng lịch sử này, vì mình không chắc chắn lắm về cái được gọi là “cội nguồn dân tộc”, nhưng mà thôi, cứ cho mẹ trẻ đọc thôi.

Sau khi mẹ trẻ đọc về nhà nước Văn Lang xong thì đưa ra mấy kết luận sau:
1. Nhà nước này có vẻ coi trọng CHIM (Xong rồi cười với sự không được trong sáng cho lắm)
2. Âu Cơ có vẻ nguy hiểm 
😂 Túm lại con phải theo mẹ thì mới được làm vua. Âu Cơ là giống Chim mà nước Văn Lang thờ Chim đó. Nói chung là ở nước này, con phải theo mẹ mới được làm vua (tương tự như thế là trường hợp Lạc Long Quân thì cũng theo nòi Long quân của họ ngoại).
3. SGK lịch sử dậy về nhà nước Văn Lang ngắn, dễ hiểu hơn, nhưng mà sai sự thật. 
😂
4. Sẽ không bao giờ đi Đền Hùng.

Đọc lại những nhận định của mẹ trẻ về nhà nước Văn Lang thì mình có thể hiểu được tại sao những “chuyên gia giáo dục” ở Việt Nam lại e sợ homeschool đến thế. Đến mẹ trẻ, khi đọc kha khá lịch sử cũng phải thốt lên là môn lịch sử mà mình dậy đã làm giảm “sự trong sáng” trong đầu óc của mẹ trẻ. 😊 Một điểm hay ho khi cho mẹ trẻ đọc lịch sử đó là mẹ trẻ dễ chán những chương trình vớ vẩn trên Youtube hơn, rồi đi đến quyết định không xem chúng nữa, hiệu quả hơn nhiều so với việc mình cấm đoán.

 

  1. Học tiếng Anh

Bạn chồng mình là người dậy tiếng Anh cho mẹ trẻ. Cũng loay hoay ra phết, dù đã quyết định ứng dụng công nghệ cho việc học tiếng Anh. Mẹ trẻ ban đầu học bằng Memrise, có kết quả khá tốt, nhưng sau khi thử 2 tháng, mẹ trẻ không học nữa vì lý do… khó chịu với mấy người dậy phát âm trên Memrise ☹  Thật là bó tay! Sau đó chuyển sang học bằng Busuu. Học được 1 tháng, lại chán, vì các bài tập trong Busuu quá… chán. Cuối cùng, bạn chồng mình chọn cách: cho mẹ trẻ xem shitcom, à quên sitcom mà ngày xưa bạn ấy dùng để học tiếng Anh, có tên là “Extra”. Mẹ trẻ học được lâu dài hơn, vừa đọc sub tiếng Anh vừa đọc sub tiếng Việt, vừa luyện thói quen nghe, vừa được cười sằng sặc. Tóm lại là mẹ trẻ đã theo được từ đầu 2019 đến thời gian nghỉ hè.

Kết quả đó là thỉnh thoảng mẹ trẻ vô thức bật ra mấy câu tiếng Anh mà chẳng hiểu sao mình lại phát ngôn như thế, và ngay cả trong giấc mơ cũng… nói tiếng Anh. Tóm lại, trong thời gian đầu này, bạn chồng mình đã “cài não” thành công môn tiếng Anh cho mẹ trẻ. Đương nhiên, đây chỉ là bước đầu. Những gì cần đối mặt trên chặng đường học tiếng Anh còn dài dài.

 

  1. Giải quyết các nỗi sợ

Nỗi sợ đầu tiên phải giải quyết giúp mẹ trẻ, đó là mặc cảm rằng mình là một kẻ thất bại, thất bại trong quá trình học ở trường, thất bại vì mẹ trẻ thấy mình thua kém những đứa bạn học mà mẹ trẻ nhìn thấy rõ là dốt nát và kém đạo đức hơn so với mẹ trẻ. Đây là điều không dễ. Mình phải liên tục nhắc cho mẹ trẻ nhớ rằng chính vợ chồng mình là những người từ bỏ cơ hội có tấm bằng đại học để tự đi lên bằng con đường học thuật mà vẫn được người khác kính trọng và yêu quý. Mình phải cho mẹ trẻ thấy những cơ hội có thể có được cho dù rời khỏi trường. Bữa ăn cơm trưa nào cũng là một buổi trị liệu tâm lý và phân tích về xã hội với các tranh cãi cam go giữa ba thế hệ nhà mình.

Nỗi sợ này đương nhiên vẫn còn tồn tại ở mẹ trẻ, nhưng mà đã giảm đi đáng kể khi mẹ trẻ nhận ra rằng sau 1 năm xõa, mẹ trẻ trở nên xinh đẹp hơn với một dáng hình đúng như mẹ trẻ mong muốn. Có lẽ giờ chỉ phải làm giảm mụn thôi. Và hơn thế nữa, mẹ trẻ có thêm vài người bạn  mới thật sự có sở thích và thật sự biết chăm lo cho mẹ trẻ chứ không phải những bạn học đầy đố kị ở trường.

Mình đang cố gắng tháo gỡ dần những ám ánh của mẹ trẻ, đặc biệt là với môn mỹ thuật. Mình đã cố giới thiệu với mẹ trẻ các tác phẩm hội họa kinh điển trên thế giới để khiến mẹ trẻ yêu lại môn vẽ, nhưng mẹ trẻ vẫn không chịu cầm bút vẽ trở lại. Có lẽ đây sẽ là những lớp tâm lý cần tháo gỡ dần dần.

Xem ra, nỗi sợ tương lai không đáng sợ bằng nỗi sợ quá khứ, ít ra là với trường hợp mẹ trẻ. Những ám ảnh quá khứ để lại các vết hằn tâm lý quá lớn, mà có lẽ ít bố mẹ để ý đến. Đáng sợ hơn, những ám ảnh quá khứ này dễ bị đè nén, bị khoác vỏ, và phải thật tinh ý, phải theo dõi, điều tra, đấu trí… mới có thể tìm ra được.

 

KẾT LUẬN:

Cách dậy mẹ trẻ của mình có phải là một cách đi quá liều lĩnh? Mình không cho là vậy. Chọn tin vào lý thuyết của người khác mà chính bản thân mình chưa kiểm chứng còn là một sự liều lĩnh nguy hiểm hơn. Mình có thể tham khảo các lý thuyết giáo dục, nhưng không đồng nghĩa với việc mình sẽ chạy theo áp dụng chúng vào trường hợp mẹ trẻ. Trái lại, mình nghĩ rằng, đây là một phương thức an toàn, vì mẹ trẻ tự hình thành được cách biểu hiện cá tính của mình và tự tiết chế được cá tính ấy tùy vào những gì mẹ trẻ cho là đúng đắn; và thiên hướng mẹ trẻ chọn các môn học và cách học cho mình sẽ dần dẫn mẹ trẻ đến với việc đưa ra quyết định trở thành con người như thế nào trong tương lai.

Bí quyết dậy mẹ trẻ của nhà mình đơn giản thôi: Sự chấp nhận cá tính, cho phép tự do lựa chọn, và không khí vui vẻ cũng như công bằng trong đối thoại.

Những gì nhà mình phải đánh đổi khi cho mẹ trẻ homeschool: Nghĩ lại thì không có gì mất cả, chỉ có được thôi.

 

Hà Thủy  Nguyên

Thị trường sách Việt Nam (7): Khi văn hóa đọc thiếu nền tảng học thuật và pháp luật

blogpost thumb

Có lẽ chưa bao giờ văn hóa đọc lại nở rộ như ngày nay, đặc biệt là sự hỗ trợ từ chính quyền và các kênh báo đài chính thống. Không khí tấp nập nhộn nhịp trong các hội trợ sách, các hội thảo sách, các cuộc chạy đường trường cổ vũ phong trào đọc dường như làm sống dậy cái không khí Đông Kinh nghĩa thục: “Buổi diễn thuyết người đông như hội/Kỳ bình văn khách đến như mưa”. Chứng kiến cảnh “trăm hoa đua nở” của các đơn vị xuất bản, các cộng đồng đọc sách, các cá nhân cổ vũ đọc sách…v…v… chúng ta dễ lầm tưởng rằng một tương lai tươi sáng cho công cuộc nâng cao dân trí đang diễn ra. Tuy nhiên, nếu nhìn cận cảnh văn hóa đọc ở Việt Nam sẽ thấy một nguy cơ của tình trạng nhiễm độc “tinh thần” đang là vấn đề nan giải.

Một điểm dễ thấy ở thị trường sách Việt Nam đó là sự vượt trội về doanh số của các đầu sách dạy làm giàu, dạy kỹ năng sống, tiểu thuyết tình yêu…v…v… so với các đầu sách khác. Những cuốn sách này thường khá dễ đọc, giải quyết các nhu cầu trước mắt của người đọc, và thường được những độc giả thiếu nền tảng kiến thức ưa thích. Ở phương Tây hay Trung Quốc, những cuốn sách dạng này cũng được số đông độc giả ưa thích nhưng chúng không có vị trí thống soái như ở Việt Nam. Dù cho chúng có thể là “best seller” nhưng người dân vẫn ý thức được rằng vẫn có những cuốn sách tầm cỡ cao hơn thế, có tính học thuật hơn và sách hàn lâm vẫn giữ một vị trí thống soái dù số lượng bán ra không bằng. Nhưng ở Việt Nam, sách hàn lâm cứ như thể là một thế giới vô cùng biệt lập đối với độc giả đại chúng.

Đặc biệt là các sách dạy làm giàu, dạy kỹ năng sống luôn xuất hiện ở các giá sách của các quán café sách như một phần của phong trào nâng cao văn hóa đọc. Đây cũng là các cuốn sách ưa thích trong các chương trình đào tạo nhân viên của các tập đoàn, các công ty bán hàng đa cấp…v…v… Đến nay, sự đúng – sai của các cuốn sách này vẫn gây nhiều tranh cãi trên thế giới và ở Việt Nam, tuy nhiên, nếu đưa số sách này vào làm một phần chiến lược của phong trào nâng cao dân trí thì chẳng khác nào vứt vào tay người dân những “cái cần” chẳng biết có “câu được cá” hay không? Và nếu các cuốn sách này không thực sự giúp được người dân cải thiện cuộc sống mà chỉ được sử dụng để khích lệ ham muốn kiếm lợi thì đó không phải là nâng cao dân trí mà là làm giảm đi khả năng làm việc có chuyên môn để thay bằng các phương pháp làm giàu nhanh chóng.  Trong khi ấy, các cuốn sách có tính chuyên môn sâu hay tính hàn lâm vẫn thiếu vắng trên thị trường sách và được in với số lượng rất ít.

Tiểu thuyết tình yêu hay còn có tên gọi mới là tiểu thuyết ngôn tình không chỉ xuất hiên nhan nhản ở các nhà sách, các trang bán sách online mà còn cả ở Thư viện Quốc gia, nơi vốn dĩ là tập hợp của những cuốn sách có tính hàn lâm hoặc hữu dụng. Nếu ai đã từng một lần tới phòng đọc của Thư viện Quốc gia Hà Nội hẳn sẽ ngạc nhiên khi thấy tiểu thuyết ngôn tình chiếm một vị trí lớn trong thư viện: không chỉ có ngôn tình Trung Quốc mà còn có đủ cả ngôn tình Anh, Pháp và Việt Nam. Trong khi ấy, thư viện lại thiếu vắng các tác phẩm văn học kinh điển của thế giới mà các dịch giả từ đầu thế kỷ 20 đến nay vẫn tiếp tục dầy công chuyển ngữ. Thậm chí, nhiều tác phẩm văn học kinh điển của Việt Nam cũng không thể tìm thấy tại Thư viện Quốc gia Hà Nội. Những bạn trẻ đến thư viện có thể thoải mái ngồi đọc tiểu thuyết ngôn tình bên cạnh những nhà nghiên cứu đọc các cuốn sách dầy cộp. Đây có lẽ là một cảnh khá hi hữu tại một Thư viện công có tầm cỡ quốc gia với nền tảng lưu trữ học thuật hơn 100 năm. Cùng lúc ấy, các tác giả trẻ viết tiểu thuyết tình yêu mang tính thị trường và các tác giả sáng tác văn chương mang tính nghệ thuật cũng rất khó để phân định được ranh giới dẫn đến một tình trạng loạn chuẩn trong nền văn học, và người đọc có thể hoàn toàn sẽ bị dẫn hướng bởi truyền thông. Ví dụ như các độc giả trẻ sẽ không thể phân biệt được sự chênh lệch về chất lượng giữa một cuốn tiểu thuyết ngôn tình sử dụng yếu tố lịch sử (như trường hợp “Thành kỳ ý” của Lê Ngọc Linh hay “Đại Nam dị truyện” của Phan Cuồng) với một cuốn tiểu thuyết lịch sử công phu (như “Hồ Qúy Ly” của Nguyễn Xuân Khánh hay “Vạn xuân” của Yveline Féray).

Tình trạng “vàng” không được coi trọng bằng “thau” này đã khiến cho nền văn hóa đọc của Việt Nam ở thời sung sức của giai đoạn đầu nhiễm những tạp chất khó có thể tẩy rửa khỏi thói quen đọc sách của thế hệ trẻ. Đây là hệ quả của sự thiếu nền tảng học thuật và pháp lý trong chiến lược của phong trào nâng cao văn hóa đọc. Trong “ĐỀ ÁN Phát triển Văn hóa Đọc trong cộng đồng Giai đoạn 2011 – 2020, tầm nhìn 2030” của Thủ tướng chính phủ được thảo ra từ năm 2010, việc xây dựng nền tảng học thuật và pháp lý làm chỗ dựa cho xuất bản gần như không được đề cập đến mà hầu như chỉ nhấn mạnh vào công tác tuyên truyền nhằm gia tăng lượng độc giả. Trên thực tế, nếu không thể xuất bản ra những cuốn sách có chất lượng cao, đảm bảo tính chính xác của kiến thức, đạt các chuẩn của tiếng Việt và không có các sai phạm về bản quyền thì nền văn hóa đọc ấy sẽ chỉ gây hại cho độc giả mà thôi. Vấn đề chính yếu của văn hóa đọc hiện nay không phải là tình trạng giảm sút của số lượng độc giả mà tình trạng lỏng lẻo trong quản lý chất lượng sách.

Ngăn ngừa đạo văn có lẽ là vấn đề pháp lý quan trọng nhất của một nền văn hóa đọc. Tuy nhiên, cho đến nay, khung pháp lý xử lý đạo văn vẫn còn lỏng lẻo, không có cơ quan giải quyết các khúc mắc về đạo văn một cách chuyên nghiệp, cũng không có mức phạt nghiêm khắc thực sự để ngăn ngừa đạo văn. Hầu như trong các vụ đạo văn bị phanh phui trên truyền thông, những tác phẩm đạo văn không hề bị thu hồi và tác giả cũng không phải chịu một mức phạt nào, thậm chí nhiều trường hợp còn không xin lỗi một cách công khai. Qúy cuối năm 2015 cho đến quý I năm 2016, độc giả được chứng kiến hai vụ đạo văn đình đám: Một là sự việc nhà thơ Phan Huyền Thư đạo thơ của Phan Ngọc Thường Đoan. Hai là sự việc Lê Ngọc Linh trong tiểu thuyết ngôn tình có yếu tố lịch sử “Thành Kỳ Ý” đã đạo rất nhiều đoạn văn từ cuốn sách “Tứ thư bình giải” cùng nhiều bài báo từ các trang online của báo Dân Trí, Vietnamtourism…v…v… Cả hai trường hợp đạo văn này, sách đều không bị tịch thu và không bị nhận mức phạt nặng, cùng lắm chỉ là bị ép xin lỗi hoặc như nhà thơ Phan Huyền Thư chỉ cần trả lại giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội là đủ. Như trường hợp “Thành Kỳ Ý”, mức độ sai phạm trầm trọng hơn khi tác giả của cuốn sách này kêu gọi độc giả ủng hộ cô ta số tiền lên đến hơn 200 triệu đồng trước khi cô ta ra mắt sách. Số tiền này không hề được hoàn trả cho người ủng hộ khi cuốn sách được chứng minh là đạo văn, và cũng không có khoản phạt tài chính nào với sai phạm này. Cho đến nay, Lê Ngọc Linh vẫn không hề bị xử phạt dù cho đã có hơn 1000 chữ ký từ các độc giả vận động trên mạng và gửi thư khiếu nại đến Cục xuất bản. Hai ví dụ trên thật sự đã cho ta thấy sự quản lý lỏng lẻo của các đơn vị quản lý văn hóa. Đây chỉ là hai vụ scandal nổi tiếng trong số rất nhiều những sự vụ khác ít đình đám hơn và rất nhiều những vụ chưa được phanh phui vì chưa có ai phát hiện. Sẽ ra sao nếu Việt Nam có một nền văn hóa đọc mà ai ai cũng có thể đạo văn mà không phải chịu trách nhiệm gì? Đó là một nền văn hóa đọc không bảo vệ sự sáng tạo mà chỉ dung túng cho thói quen viết lách thiếu trách nhiệm và trình độ.

Không chỉ là một nền văn hóa đọc thiếu sự khuyến khích sáng tạo mà nền văn hóa đọc Việt Nam còn thiếu sự chính xác và tinh thần khoa học. Tình trạng nội dung sách không đảm bảo chất lượng ngôn ngữ hay khoa học là khá phổ biến. Gần như năm nào người đọc cũng được chứng kiến các sự việc sách dịch không chính xác ( như “Lolita” do Dương Tường dịch, “Sapiens, lược sử về loài người” do Nguyễn Thủy Chung và Võ Minh Tuấn dịch, “Căn tính và bạo lực – Huyễn tưởng về số mệnh” do Trần Tiễn Cao Đăng và Lê Tuấn Huy dịch…). Những cuốn sách này hoặc là thiếu chính xác trong chuyển ngữ, hoặc là diễn giải không đúng với văn phạm tiếng Việt. Bên cạnh đó còn phải kể đến không ít các cuốn sách nghiên cứu, khảo cứu, hướng dẫn… thiếu tính chính xác trong việc sử dụng kiến thức. Tôi sẽ không đề cập đến ví dụ về tình trạng sách nghiên cứu, khảo cứu sử dụng sai kiến thức bởi vì sẽ rất dài dòng để giải thích. Thay vào đó, tôi sẽ sử dụng một cuốn giáo trình tiếng Anh làm ví dụ. Đây là cuốn giáo trình tiếng Anh do trung tâm Elight phát hành, cấp phép bởi NXB Thanh Niên, có tên “Tiếng Anh cơ bản”. Một giáo viên dậy tiếng Anh rất nổi tiếng người Mỹ có tên là Dan Hauer đã chỉ ra rất nhiều lỗi sai ngữ pháp và từ vựng nghiêm trọng ở cuốn giáo trình này cùng với hơn 300 chi tiết đạo văn từ các giáo trình tiếng Anh khác. Cuốn sách được bán với giá 299 ngàn, một mức giá khá cao. Video nhanh chóng được lan truyền trên mạng với hơn 660 ngàn lượt xem và đến nay cũng chưa có dấu hiệu của đơn vị quản lý văn hóa và giáo dục xử lý các lỗi sai về kiến thức cũng như đạo văn trong cuốn sách này. Việc cung cấp sai kiến thức là một lỗi nghiêm trọng không kém gì đạo văn bởi những cuốn sách ấy phát tán các nhận thức sai lệch cho độc giả. Một nền văn hóa đọc mà trong đó độc giả dễ dàng bị nhồi nhét những nhận thức sai lệch thì đó là một nền văn hóa không lành mạnh. Sở dĩ có tình trạng như vậy là do thiếu một đội ngũ có trình độ học thuật cao tham gia các khâu thẩm định chất lượng nội dung và một nền xuất bản thiếu các tiêu chuẩn khoa học.

Mặc dù vậy, ở góc khuất của nền văn hóa đọc nhốn nháo ngày nay vẫn có những cộng đồng đọc sách nghiêm túc những mong tuyển chọn các cuốn sách hay giới thiệu cho bạn đọc, vẫn có những tác giả và dịch giả miệt mài ngày đêm âm thầm cống hiến cho tri thức, vẫn có những độc giả khôn ngoan biết tìm đến các nguồn sách có chất lượng cao. Tất cả những yếu tố này tạo nên một ốc đảo tri thức nằm giữa biển sách ngổn ngang của thị trường. Tuy rằng biệt lập nhưng họ vẫn luôn cố gắng để duy trì ngọn lửa tri thức. Và dù cho xã hội không có một khung pháp lý hay một khung học thuật để quản lý chất lượng sách trên thị trường thị họ cũng tự xác lập cho mình những chuẩn mực riêng trong ốc đảo tri thức ấy.

Hà Thủy Nguyên

Bài đăng trên Tạp chí Văn hóa Nghệ An số ra ngày 10 tháng 4 năm 2018

Thị trường sách Việt Nam (6): Cộng đồng đọc sách và quyền lực của độc giả

blogpost thumb

Trong suốt dòng lịch sử của sách, các độc giả luôn đóng vai trò như “người tiêu dùng” cho các sản phẩm và tác phẩm của các tác giả, dịch giả. Họ bị định hướng bởi các nhà phê bình, nhà báo – những người chỉ cho các độc giả biết cuốn sách nào là hay, cuốn sách nào là dở. Do đó, các độc giả chỉ là thần dân trong vương quốc tri thức mà họ chỉ có nghĩa vụ tuân thủ các chỉ dẫn, thể hiện sự tôn trọng với các tác giả và dịch giả được ca tụng trên truyền thông bất kể đúng sai và chìa túi tiền để mua sách. Đây là tình trạng chung của thị trường sách kiểu cũ trước khi Internet hình thành, khi những độc giả bị chia rẽ bởi mặt địa lý và vòng kết nối của bản thân không thể chia sẻ các trải nghiệm đọc và các đánh giá của mình. Tiếng nói của độc giả nếu không được gắn nhãn mác là các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà nghiên cứu… sẽ không được người khác lắng nghe và không có giá trị tham khảo.

Internet đã thay đổi thế giới bằng cách nỗ lực xoá nhà các khoảng cách địa lý và mở rộng vòng kết nối giữa người với người, vô tình đã thay đổi cơ cấu của thị trường, khiến cho tiếng nói của người tiêu dùng trở nên có giá trị hơn, quyết định đáng kể đến lượng tiêu thụ sản phẩm. Thị trường sách cũng nằm trong số ấy, khi những phản hồi có chất lượng từ cộng đồng độc giả lại được lắng nghe hơn các nhà phê bình và nhà báo. Tại sao tiếng nói có chất lượng của một độc giả có gu đọc sách lại có uy tín đến vậy? Bởi vì một độc giả không bị gắn các nhãn mác đã kể trên không bị ràng buộc bởi các quyền lợi và trách nhiệm, do đó tiếng nói của họ là độc lập, không vụ lợi và chân thật với chính mình ở mức độ nào đó. Đây là những tố chất mà các độc giả khó tìm kiếm được ở các nhà phê bình và nhà báo có danh tiếngKhông ít lần chính bản thân tôi khi đọc điểm sách của các nhà phê bình và nhà báo đã băn khoăn về tính khả tín của các bài giới thiệu này, rằng họ có thực sự đọc sách, có thực sự công tâm không vụ lợi trong đánh giá, có chân thực khi chia sẻ các nhận định của mình…

Amazon và Goodreads có thể nói là hai cộng đồng phổ biến nhất cho phép độc giả bình phẩm sách. Các độc giả sau khi mua sách hoặc đọc các tác phẩm được đăng tải online có thể đưa ra nhận xét về chất lượng nội dung và chất lượng in ấn, bên cạnh đó có thể xếp hạng nội dung theo cảm nhận của mình. Một người mua sách thay vì tham khảo bài giới thiệu trên báo chí có thể xem các xếp hạng và bình phẩm từ những người lạ không quen biết. Lượng độc giả người Việt tham gia binh phẩm trên cả hai kênh này đều rất ít do các rào cản về ngôn ngữ và thói quen sử dụng. Tương tự như Amazon và Goodreads, tại Việt Nam, kênh bán sách Tiki cũng cho phép độc giả bình phẩm. Tuy nhiên, các độc giả của Tiki dường như không thực hiện được quyền lực của mình một cách hiệu quả. Nguyên nhân có thể đến từ việc chất lượng độc giả Việt Nam chưa đủ cao để đánh giá chi tiết một cuốn sách, hoặc tình trạng phản hồi giả nhằm mục đích hạ bệ hay quảng bá cho sách vẫn chưa bị hạn chế. Quyền lực của độc giả Việt Nam hiện nay không thực sự nằm ở các kênh bán hàng mà nằm ở các cộng đồng đọc sách trên facebook.

Rất dễ dàng để tạo một group hoặc fanpage trên facebook để một cộng đồng độc giả nho nhỏ thoải mái tương tác và trình bày ý kiến, thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm đọc. Các cộng đồng này đều có quy tắc làm việc riêng và cộng đồng nào có ý thức trong tuân thủ “luật giang hồ” do nhóm đặt ra đều sẽ thu hút các cá nhân độc lập tham gia. Một độc giả không bị ràng buộc trong sự gắn kết với một nhóm cụ thể mà có thể cùng lúc tham gia nhiều nhóm khác nhau và đối chiếu các nhận định trước khi đưa ra kết luận cuối cùng của mình về một cuốn sách. Các cộng đồng online thảo luận về sách này đã không ít lần chứng minh quyền lực của mình bằng việc bóc mẽ những vụ đạo văn, những bản dịch sai, những nội dung kém chất lượng… Đáng kể phải nói đến sự việc đinh đám của fanpage Ngôn tinh Ném đá Confession đã lật tẩy sự việc đạo văn nghiêm trọng chưa từng thấy trong cuốn tiểu thuyết dã sử “Thành Kỳ Ý” vào năm 2016. Trong thời điểm sự việc bị phanh phui, các nhà báo và nhà phê bình đã hết lời khen ngợi cuốn sách và kỳ vọng một hướng đi mới cho tiểu thuyết dã sử. Khi fanpage Ngôn tinh Ném đá Confession mới đăng tải một vài đoạn đạo văn, rất nhiều người vẫn cho rằng đó là một cuộc công kích cá nhân vào cô nhà văn trẻ đam mê đề tài lịch sử. Nhưng chỉ sau đó không lâu, khi cộng đồng đọc sách Book Hunter bắt đầu đăng tải một bài viết dài tổng hợp tất cả các điểm đạo văn mà page Ngôn tình Ném đá Confession đã chỉ ra. Ngay sau đó, một cuộc vận động hơn 1000 chữ ký đã được phát động bởi Book Hunter và page Ngôn tình Ném đá Confession để yêu cầu Cục xuất bản thu hồi cuốn sách. Mặc dù Cục xuất bản làm lơ trước yêu cầu này nhưng cuốn sách rơi vào tình trạng ế ẩm và đơn vị phát hành phải bán hạ giá 80% trong các hội sách. Trước đó, năm 2014, facebooker Thiên Lương, một độc giả độc lập đã thực hiện một cuộc bắt lỗi các lỗi dịch của dịch giả Dương Tường khi ông dịch cuốn “Lolita”. Sự việc đã trở thành một cuộc tranh luận báo chí kéo dài và thúc đẩy sóng truyền thông liên quan đến chất lượng của dịch giả. Sau đó, Thiên Lương công bố bản dịch của mình dù không được phát hành chính thức và nhanh chóng được cộng đồng độc giả chuyền tay nhau với lời đánh giá về độ chính xác của bản dịch. Đôi khi cộng đồng độc giả còn thách thức cả thẩm đinh của các nhà phê bình nếu cho rằng sự phê bình ấy là không xác đáng. Năm 2017, khi nhà nghiên cứu trẻ Nguyễn Phúc Anh đưa ra lời phê binh nặng nề đối với cuốn sách “Nguồn gốc và sự phát triển của trống đồng Đông Sơn” của Tạ Đức thì ngay lập tức đã bị cộng đồng sách Book Hunter phản đối cách phê bình thiếu cơ sở, thiếu bằng chứng của Nguyễn Phúc Anh. Những phản ứng của cộng đồng độc giả cho thấy các độc giả đang bắt đầu học cách thực hiện quyền của mình, và có thể tạo thành một sức ép để thúc ép các tác giả và dịch giả buộc phải làm việc một cách có trách nhiệm hơn.

Đúng vậy, đó là một cơ hội để thị trường sách trở nên sôi động hơn và có nhiều tiếng nói đa chiều hơn, tránh được tình trạng thị trường bị thao túng bởi một hoặc vào thế lực nào đó, tuy nhiên vấn đề nằm ở chỗ các độc giả chưa hoàn toàn ý thức được những quyền lợi và trách nhiệm của mình đối với cộng đồng. Các độc giả Việt Nam đa phần đều không được trang bị một nền tảng kiến thức tốt cùng với các kỹ năng phân tích, kỹ năng tranh biện và thảo luận. Bởi vậy, rất ít trong số các cộng đồng độc giả có thể đưa ra tiếng nói phản biện hoặc quan điểm riêng hay viết các bài phân tích sách có chất lượng. Một số cộng đồng sách trở thành nơi PR sách cho các đơn vị phát hành sách mà không hề có chuẩn mực trong thẩm định chất lượng bài giới thiệu. Hoặc đôi khi, cộng đồng độc giả lại trở thành fan cuồng cho một nhà phê bình hoặc một nhà báo nào đó và rất dễ dàng bị lái hướng.

Trên thực tế, thị trường đọc sách Việt Nam đang ở giữa một giai đoạn chuyển đổi giữa mô hình bị định hướng sang mô hình tự định hướng. Do đó, song song tồn tại cả tình trạng độc giả đọc sách theo sóng truyền thông và độc giả tự xây dựng gu đọc riêng cho mình. Cuộc giằng co này có thể sẽ kéo dài bởi người dân Việt Nam vẫn có thói quen trọng vọng các nhân vật nổi tiếng với bằng cấp và thành tích mà chưa luyện được thói quen phân định đúng sai; nhưng sự phát triển của mạng xã hội dường như không thể cưỡng lại nổi và các cộng đồng độc giả vẫn cứ gia tăng về chất lượng cũng như số lượng. Tôi cho rằng, trong tương lai, sự lớn mạnh của các cộng đồng độc giả là không thể cưỡng lại được và điều đó đòi hỏi ở các đơn vị quản lý xuất bản, các đơn vị báo chí, các tác giả, dịch giả, nhà phê bình, nhà báo phải làm việc nghiêm túc hơn, chỉn chu hơn, tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc học thuật và pháp luật. Đó là sự phát triển tất yếu của thời đại thông tin khi con người dễ dàng hơn để kết nối và lên tiếng.

Hà Thủy Nguyên

Bài đã đăng trên tạp chí Văn hóa Nghệ An số tháng 7/2018

Gửi các mẹ: Đọc sách có quan trọng đến thế?

blogpost thumb

Sáng nay lên mạng, một bức thư thống thiết của một bà mẹ gửi tới đứa con lười đọc sách của mình hiện lên Newsfeed của tôi.

Ngay khi click vào đọc, tôi đã biết được bức thư này có thể lâm li bi đát đến cỡ nào. Bởi vì, cứ thỉnh thoảng phong trào cổ vũ văn hóa đọc lại rộ lên những trò thú vị mà có lẽ chỉ Việt Nam mới có.

Nào thì chụp ảnh khoe tủ sách, nào thì chạy việt dã để nâng cao văn hóa đọc (chả hiểu liên quan ở đâu), nào thì người nổi tiếng chụp selfie cùng sách, nào thì thử thách đọc 10-20 cuốn sách một ngày…v…v…

Và đến giờ là một bức tâm thư (không rõ thật lòng hay không) của một bà mẹ mong muốn con mình hãy cầm cuốn sách lên và đọc.

Lợi ích và tác hại của sách đến đâu, khó có thể nói rõ hết được.

Ngày xưa, người Trung Quốc có cái tích kể về anh chàng thư sinh mọt sách, nhờ đọc sách mà thấy từ sách hiện ra cả nhà cửa, kho báu và gái đẹp.

Câu chuyện ấy đại diện cho giấc mơ của một lớp người từ xưa đến nay chỉ nhìn thấy khía cạnh thực dụng và vật chất của sách.

Trước hết, tôi phải “rào trước” rằng tôi không phải là một người ghét sách.

Từ nhỏ, tôi loanh quanh với thế giới sách vở, cũng chẳng dám nhận là thiên kinh vạn quyển hay bác học thâm sâu, nhưng cũng tự hào rằng mình nghe ai đó khoe sách thở vài câu là biết họ ở tầm cỡ nào của công phu đọc sách.

Thế nên, cứ mỗi khi đến cái mùa khoe sách, cùng lúc với cái mùa hội chợ sách giảm giá, tôi lại được phen vừa buồn cười vừa khó chịu, rồi cuối cùng chỉ biết thở dài với tất cả các chiêu trò truyền thông được đẩy lên.

Tôi không dám chắc bức thư của bà mẹ kia là một thao tác truyền thông hay là những lời thật lòng, nhưng tôi dám chắc đó là một phần của thứ trào lưu cổ vũ văn hóa đọc cực đoan trong nhiều năm gần đây.

Sách rất hữu dụng, sách ẩn chứa kho tàng tri thức của nhân loại, đúng vậy, nhưng sách không phải chìa khóa vạn năng trong cuộc sống, cũng không phải chìa khóa duy nhất cho cuộc sống.

Nếu đứa con của bà mẹ ấy lười đọc sách, hẳn nhiên bà mẹ ấy sẽ đổ lỗi cho giáo dục, cho môi trường Internet tệ hại, cho tính lười biếng của đứa con.

Bà mẹ ấy không chịu tìm hiểu và quan sát xem ẩn sâu trong tiềm thức của đứa bé, điều gì dẫn đến việc nó lười đọc sách. Nguyên nhân có thể đến từ rất nhiều. Hoặc là do nó quá mệt mỏi với chương trình học của nhà trường nên lúc về nó chỉ muốn được thư giãn, muốn thoát khỏi chữ nghĩa.

Hoặc là do nó thấy mẹ nó cuồng sách quá nên nó có phản ứng ngược để chứng minh bản thân rằng mình phải có một đời sống khác.

Hoặc là đơn giản hơn, tủ sách của bà mẹ sở hữu không có loại sách mà đứa bé cảm thấy phù hợp.

“Nếu ai đó hỏi mình rằng mình có thích sách không? Mình chắc chắn trả lời là KHÔNG. Mình thích sự hiểu biết”.

Tóm lại, có hàng trăm hàng ngàn lý do sâu xa hơn dẫn đến việc một đứa trẻ lười đọc sách. Những lời tâm thư ấy liệu có lọt vào tai đứa trẻ hay không? Hay nó chỉ cười khẩy một cái: “Lại trò truyền thông của mẹ” hay “Lại giọng điệu của mẹ”.

Sách, về bản chất, là một công cụ để lưu trữ thông tin. Thông tin đó có thể bao gồm kiến thức, các chiêm nghiệm, các cảm xúc. Thông tin đó có thể có hại hoặc có ích, thậm chí là vô dụng, tùy với từng người.

Nếu các thông tin đó không được lưu trữ trong sách mà được lưu trữ trên website, video, hay game… thì có vấn đề gì không nếu đứa trẻ không lựa chọn sách như một công cụ?

Mỗi công cụ đều tạo ra các kiểu tư duy khác nhau để tiếp nhận và xử lý thông tin. Tức là nếu bạn tiếp nhận qua website, video hay game sẽ có một lối tư duy khác với đọc qua sách (đặc biệt là sách giấy).

Nếu một đứa trẻ không thích đọc sách không có nghĩa rằng đời nó thế là vứt đi. Nó hoàn toàn có thể đạt được sự hiểu biết qua các công cụ khác.

Sách là một công cụ lưu trữ vĩ đại của nhân loại, nhưng không phải cái gì được lưu trong đó cũng là tinh hoa.

Cái thứ bà mẹ kia muốn nhồi vào đầu con mình qua sách, chẳng rõ là có giá trị hay toàn rác rưởi. Nếu là rác rưởi thì thật bất hạnh cho đứa trẻ. Nếu là tinh hoa thì cũng phải tùy căn cơ của đứa trẻ, đâu phải người nào cũng ăn được nhân sâm dù nhân sâm là thuốc quý.

Tôi luôn cho rằng người lớn không nên ép buộc con cái. Người lớn cũng có đầy đủ các kiểu ngu xuẩn và chúng ta chẳng có tư cách gì để dậy dỗ thế hệ đi sau.

Người lớn chỉ có thể chia sẻ các kinh nghiệm của bản thân và để con thế hệ sau tự quyết định. Những cuốn sách hay đều ghi chép lại kinh nghiệm của những người đi trước, chúng không dạy dỗ người khác phải làm gì.

Chúng ta đọc chúng cũng giống như những đứa trẻ tiếp nhận các kinh nghiệm của người đi trước vậy, chúng ta và những đứa trẻ đều có lựa chọn của riêng mình.

Vì thế, hãy để cho con trẻ cái quyền được sống theo cách của mình và hãy hiểu rõ hơn về lựa chọn của con cái.

Nếu đứa trẻ lựa chọn không đọc sách mà xem video, hãy hướng dẫn cho nó xem những video có giá trị.

Nếu nó lựa chọn chơi game, hãy giúp nó chọn những game lành mạnh thay vì cấm nó chơi game. Và nếu ông bố bà mẹ nào không đủ năng lực để giúp con lựa chọn thì đó là lúc nên học hỏi thêm cho bản thân mình.

Ừ, thế còn phong trào nâng cao văn hóa đọc thì sao, nó có giúp cho người ta đọc sách tốt hơn không?

Nó có thể kích thích lượng mua sách tăng lên, nhưng nó không giúp người ta mở mang trí não hơn.

Không phải tôi không muốn ngày càng có nhiều người đọc sách có chất lượng, mà là việc này không cưỡng ép bằng truyền thông được.

Để giải quyết việc nâng cao văn hóa đọc thì dễ thôi, chừng nào các NXB có trách nhiệm hơn trong việc chọn bản thảo, chừng nào các tác giả có trách nhiệm với chữ nghĩa của mình, thì lúc ấy chất lượng độc giả cũng được nâng cao.

Còn nếu không thì thà mù chữ còn hơn đọc sách nhảm!

Hà Thủy Nguyên

Soi trọc phú (3) Đã dốt còn ghét chữ

blogpost thumb

Chẳng biết từ bao giờ, các trọc phú lại nuôi một lòng chán ghét với chữ nghĩa, có lẽ là từ… ngàn xưa rồi. Bởi vì có chữ nghĩa vào đầu, hay nói cách khác là có kiến thức, thì các trọc phú sẽ cảm thấy khó kiếm tiền hơn. Làm sao có thể xây những tòa cao ốc vô tội vạ nếu biết lấn biển, san núi, chặt rừng… có thể gây ra hậu quả gì… Làm sao có thể ngang nhiên bán thực phẩm bẩn nếu biết hết những hậu quả thực phẩm bẩn có thể gây ra với người tiêu dùng… Làm sao có thể dễ dàng làm việc xấu nếu biết rằng đó là xấu.

Dốt nát là điều kiện căn bản để để các trọc phú đeo đuổi giấc mộng làm giàu không giới hạn của mình. Họ chỉ cần duy trì tình trạng dốt nát và đắp lên đó các mỹ từ như “làm giàu cho đất nước”, “giúp cải thiện vật chất xã hội”… hay “vượt khó”… đại loại thế. Sự dốt nát giúp họ không tự đặt câu hỏi với bản thân, và sẵn sàng cãi cày cãi cối với mọi góp ý về cách làm bẩn thỉu của mình. Để duy trì sự dốt nát, họ đương nhiên phải chối bỏ mọi thứ được gọi là … “kiến thức” hay “tri thức”, chối bỏ tới mức khinh miệt đám người có chữ nghĩa.

Đợt rồi, Book Hunter bọn tôi đang tất tả chuẩn bị để phát hành 1 cuốn sách có tên là “Sự chiến thắng của đô thị” (tác giả Edward Gleaser). Cuốn sách này bàn nhiều về các mô hình quy hoạch đô thị hiện đại và các vấn đề của chúng. Sách được viết dễ hiểu chứ không quá học thuật. Tôi cho rằng với trình độ không được cao lắm của các đại gia bất động sản chắc cũng đọc được cuốn này. Thế là, chúng tôi gọi điện cho một chú em. Cậu này còn trẻ nhưng đã sớm thành đại gia ngành xây dựng, chi nhánh toàn quốc, tiền tiêu như nước, lại suốt ngày mồm năm miệng mười: “Anh chị cần em giúp đỡ gì thì cứ gọi em, em giúp”. Mỗi lần cậu ấy mời vợ chồng tôi đi ăn uống nhậu nhẹt, ít thì 1-2 triệu, nhiều thì cả chục triệu. Việc in sách không được dư dả lắm, lại được ông em sẵn sàng hứa hẹn giúp đỡ, sẵn sàng vứt cả triệu vào bàn nhậu mà không tiếc, nên vợ chồng tôi liền ngỏ lời xin hỗ trợ funding. Tiền in quyển sách rất cần thiết cho dân xây dựng ấy, cộng lại chắc bằng 2 bữa tiệc, đã thế sau khi sách in xong chúng tôi sẽ đưa tên tập đoàn non trẻ của cậu ấy vào trong sách như một nhà hảo tâm yêu tri thức. Đó cũng là một cách truyền thông chẳng mất mấy tiền, lại sang trọng. Nhưng không, khi cậu ấy chỉ trả lời rằng bây giờ giới xây dựng với bất động sản có ai đọc sách đâu. Rồi đòi hướng dẫn chúng tôi về cách kinh doanh. Tôi cho rằng loại trọc phú từ trẻ đến già theo cái lối này… phổ biến lắm. Mời chúng tôi nhậu nhẹt không tiếc, nhưng in sách ấy hả, tăng thêm kiến thức ấy hả… quên đi!

Nhà chồng tôi còn có một ông đại gia Thanh Hóa. Ông này thời Việt Nam mới vào WTO, nhờ biết trọ trẹ mấy câu tiếng Anh, nên thường đứng giữa thu mua máy cắt kính và bán cho Eurowindow. Lâu dần, thành nhà giàu, giàu rồi thường thích tụ tập đám em họ để giúp các em làm giàu như ông ấy. Các em họ phải chúc tụng rượu mỗi khi tiệc tùng. Đương nhiên, nhà tôi không hành xử theo cái lối ấy, tiệc tùng chẳng bao giờ chúc rượu ai. Ông anh họ tức lắm, liền cả buổi ngồi chửi bọn đọc sách là vô dụng, chả biết làm gì, chả biết kiếm tiền.

Một lần khác tôi được mời ghé qua Vinpearl Nam Hội An. Đó thực sự là một thảm họa quy hoạch của Vingroup. Giống như nhiều đại gia bất động sản khác, ông Phạm Nhật Vượng cũng cứ đển Vinpearl Nam Hội An lấn biển Cửa Đại, làm hỏng hết cảnh quan. Vinpearl Nam Hội An là một công trình tổ hợp resort, khu vui chơi, khu làng văn hóa Việt… Khoan hẵng bàn đến kiến trúc xấu tệ hại của khu resort và khu vui chơi, tôi chỉ xin được nói về khu làng văn hóa Việt. Đó là một sự lố bịch. Người ta đưa tất cả các mô hình nhà cả các dân tộc và vùng miền ra giữa bãi biển đã bị bê tông hóa, rồi nói đó là… giữ gìn bản sắc dân tộc. Người ta dẹp làng chài ven vùng biển miền Trung này với những nét đặc thù để thay bằng một loạt các mô hình không có sức sống của văn hóa Việt. Những người thiết kế khu làng văn hóa này (cho phép được giấu tên), theo như tôi được biết thì chẳng ai có chuyên môn gì về nghiên cứu văn hóa cũng như kiến trúc cả. Sau khi tôi phàn nàn về cách “yêu Việt Nam” của Vin thì có người nói với tôi là không sao cả, khách vẫn tới ầm ầm ấy mà, chẳng ai quan tâm đâu.

Mô hình dựng thành Cổ Loa ở Vinpearl Nam Hội An (trông giống cái gì nhỉ)

(2 hình ảnh chụp tại Vinpearl Nam Hội An. Hình 1 là mô phỏng thành Cổ Loa, hình 2 là ảnh chụp khu mô phỏng nhà của các dân tộc thiểu số Việt Nam)

Những loại trọc phú như tôi vừa kể trên nhan nhản khắp các vùng miền của Việt Nam, từ thành phố lớn đến thành phố nhỏ. Họ đưa người ở quê lên, vào làm trong công ty hoặc tập đoàn của họ, và lan truyền sự dốt nát ấy tới các nhân viên của họ. Họ tự nhủ với nhau, kiến thức chẳng bằng kinh nghiệm thương trường của họ. Nên chỉ có kinh nghiệm làm giàu là có thể giàu được, biết nhiều có để làm gì đâu. Đương nhiên rồi, vì những người có hiểu biết đâu dễ bán thân cho trọc phú để tiếp tay tàn phá từng mảnh đất, từng nét văn hóa. Mà để có thể yên tâm kiếm tiền từ trọc phú, các nhân viên này dần dần cũng phải duy trì tình trạng dốt nát của mình, họ phải “cai chữ” một cách vừa tự nguyện vừa không tự nguyện. Có như thế, mới an phận trước mọi sự ngu dốt của ông chủ.

Nhóm Book Hunter của tôi có một bạn, có bằng cao học, tiếng Anh và tiếng Pháp đủ cả. Chưa kiếm được việc làm thích hợp nên cũng đăng ký đi dậy tiếng Anh cho một trung tâm luyện IELTS cũng đông học viên lắm. Đọc giáo trình xong, thấy giáo trình sai nhiều quá, trong lúc dậy có nhắc các học viên về lỗi sai của giáo trình rồi cũng góp ý cho giám đốc. Thế là liền bị đuổi việc. Thế đấy, trọc phú ấy mà, chẳng ai thích bị chỉ trích là ngu đâu, dù dốt nát rõ rệt ra rồi. Nếu họ thừa nhận bản thân dốt nát thì chả hóa ra Việt Nam thành đế chế của lũ dốt hay sao? Như thế thì còn vênh vang được với ai nữa.

Theo tôi thấy rằng đế chế của các trọc phú dốt nát này không thể tồn tại được lâu, nếu chính quyền Việt Nam thắt chặt bằng các quy định chặt chẽ về chuyên môn sâu. Tuy nhiên, một thực tế cản trở đó là, Việt Nam chẳng có nhiều chuyên gia đến thế để đưa ra một quy định chặt chẽ để kiểm soát các trọc phú. Và cứ cho là nếu có đủ chuyên gia, thì liệu các trọc phú có dễ dàng để chuyên gia đưa ra quy định hay không? Tôi e là khó!

Thế nên, những người như chúng tôi, chỉ có thể tự cứu mình khỏi trọc phú bằng cách, không dùng hàng của họ, không đi làm cho họ và không trở thành họ. Được như vậy cũng đủ tốt lắm rồi!

Hà Thủy Nguyên

SOI TRỌC PHÚ (2): Hệ sinh thái giàu bẩn

blogpost thumb

Ở bài (1) của chùm bài “Soi trọc phú” với tên “Họ là ai và vì sao là họ”, tôi đã có nhắc đến việc hệ thống trọc phú giờ đây đã trở thành một hệ sinh thái. Hệ sinh thái tức là sao? Tức là mỗi cá thể trong hệ thống ấy vừa triệt hạ nhau, vừa nương tựa vào nhau mà sống theo mối quan hệ cộng sinh. Bất cứ một thành phần cá biệt nào muốn gia nhập vào hệ sinh thái tiền bẩn này, mà không chịu “tiến hóa” để “bẩn” như toàn bộ hệ thống, thì ắt là sẽ bị triệt tiêu, hoặc may ra thì phát triển một cách còi cọc.

Đương nhiên, tôi không có đủ thống kê số liệu về sự đào thải với những thứ “thiếu bẩn” mà hệ sinh thái trọc phú đang thực hiện, thế nên, tôi sẽ chỉ những câu chuyện mà tôi biết.

Tôi là một người gắn bó với sách (chứ chả dám nhận là yêu sách, tình yêu nó ảo lắm), thế nên những ngóc ngách của thị trường sách, tôi cũng có “duyên” được biết đến. Và tôi đã viết hẳn một chùm bài về“Thị trường sách Việt Nam, hiện chùm bài vẫn đang dang dở, nhưng cũng đủ để các độc giả biết ít nhiều về thực trạng của thị trường này. Ở đây, tôi sẽ tóm gọn lại mấy ý liên quan đến thị trường sách:

Mọi đơn vị xuất bản sách (dù là nhà nước hay tư nhân) phải dìm chi phí của tác giả và dịch giả xuống thấp nhất có thể và tăng chi phí phát hành. Mọi cuốn sách bán ra phải giảm giá kịch sàn để thu hút độc giả hám rẻ xông vào mua. Mọi cơ sở phân phối hay còn gọi là phát hành sách đều đua nhau ép giá đơn vị xuất bản để lấy chiết khấu rẻ nhất, rồi sắp xếp sách lộn xộn không có hệ thống sao cho thượng vàng với hạ cám phải đồng hạng với nhau (đương nhiên, sách nào có chiết khấu tốt cho nhà phân phối thì sẽ được để ở vị trí tiện lợi, còn không ấy hả, quên đi nhé!). Thế là, tác giả và dịch giả viết lách qua loa để lấy số lượng bù chất lượng. Truyền thông sách ấy hả? Hiếm hoi lắm mới có phê bình công tâm nhé, còn lại là công nghệ PR. Còn chưa kể đến biết bao chiêu trò sách in lậu, sách trốn thuế, ăn cắp bản quyền, ăn chặn tiền tác giả và dịch giả… Có thế mới giàu được ạ!

Nếu bạn cố gắng xuất bản một cuốn sách có chất lượng nội dung tốt, kỹ lưỡng, chi trả phần nhiều chi phí cho nội dung thay vì cho phân phối, bạn sẽ gặp khó khăn đủ điều: Nào thì chẳng cơ sở phân phối nào nhận sách của bạn. Nào thì một lượng lớn khách mua hám rẻ (chỉ chờ khuyến mại) sẽ quay lưng với bạn. Nào thì một dàn nick clone (mà mình khá chắc là do bên xuất bản hoặc phát hành sách nào đó không vừa lòng với cách đi hợp lý này) sẽ phá thối, nói xấu, chê bai sản phẩm mà bạn tung ra thị trường. Và nếu không may nữa, bạn không có mối quan hệ tốt với truyền thông, không có một kênh thông tin riêng, không có một cộng đồng (dù nhỏ thôi) để lên tiếng bảo vệ mình, thì bạn chắc chắn sẽ bị dìm đến không ngóc đầu lên được. Và nếu bạn chẳng giàu nhanh như những kẻ buôn sách kia, hẳn bạn sẽ bị coi là… không biết kinh doanh. Thôi đành!

Ở một thị trường khác mà tôi biết ít hơn, nhưng cũng gọi là có góp mặt, đó là nông nghiệp sạch. Để làm nông nghiệp sạch ở một quốc gia có mật độ ô nhiễm cao như Việt Nam, thật sự là một khó khăn. Nhưng để sạch được, chi phí cho sản xuất sẽ cao ngất ngưởng và đương nhiên, doanh nghiệp làm nông sẽ lãi rất thấp. Trong khi ấy, nông nghiệp bẩn vẫn thuốc trừ sâu, hóa chất nguy hại, và còn chưa kể đến môi trường thiếu tiêu chuẩn an toàn… thì dễ rồi, toàn tập đoàn lớn với tài sản vô biên cả! Sản phẩm của họ giá rẻ vượt trội để choán chỗ và thay thế cho sản phẩm sạch trên mọi kệ hàng từ tạp hóa đến siêu thị, từ hàng cóc ven đường cho đến nhà hàng sang chảnh. Làm nông nghiệp sạch thì khó đủ điều. Lãi đã ít, phân phối khó, lại không bảo quản được lâu, và cứ thế thì giàu được khó lắm. Biết bao người làm nông nghiệp sạch đã phá sản, bao nhiêu người chán nản, và biết bao nhiêu người giảm bớt độ “sạch” đi để tăng độ “bẩn” cho dễ sinh tồn.

Các cụ có câu “phi thương bất phú”, nhưng “thương” bây giờ chưa đủ”, phải “trọc” thì mới “phú” được. Chẳng biết từ bao giờ, khái niệm “thương” là phải gắn với việc làm ăn bẩn thỉu: làm sản xuất thì phải ăn bớt nguyên liệu, độn xấu vào tốt; làm dịch vụ thì phải ăn chặn, ép giá, trốn thuế; làm khai thác thì phải đào bất chấp hậu quả; buôn tiền thì phải biết mua chuộc truyền thông và dư luận để tăng hạ giá trị theo ý thích… “Thương” từ ý nghĩa tích lũy và trao đổi tài sản, đã dần dần trở thành lừa lọc và dối trá để trục lợi cho bản thân.

Đến đây, chắc nhiều người cười tôi là ngây thơ, vì họ tin rằng phải giả dối thì mới kiếm được nhiều tiền. Những người này quả đã bị lòng tham che mắt. Tôi sẽ kể một câu chuyện khác, về một thời đại khác mới gần đây thôi.

Chả là hồi năm 2016, tôi có dịp nói chuyện với gia tộc họ Phó buôn thuốc bắc nổi tiếng một thời ở phố Lãn Ông. Tôi được nghe câu chuyện “làm giàu” của nhà họ Phó ở những năm đầu thế kỷ 20.

Cụ Phó Đức Tiến, cụ tổ thứ mười của gia tộc này, vì gia cảnh khốn khó, phải lên phố Phúc Kiến (tức phố Lãn Ông) buôn bán thuốc Bắc. Năm 23 tuổi ông đã tậu được nhà ở phố Phúc Kiến, năm 35 tuổi thì đã rất giàu có, theo như gia phả ghi lại thì bấy giờ cụ đã “nghiễm nhiên thành một ông vua trong nghề buôn thuốc Bắc ở Hà Nội”. Tại sao cụ lại giàu nhanh như vậy? Không phải bởi vì cụ tham của ăn bớt, mà vì chữ tín. Khi cụ còn đang khốn khó, có một lần, một tiệm thuốc của Hongkong gửi nhầm đơn hàng cho cụ, thay vì gửi lô thuốc tam thất thì lại gửi một lô rất lớn linh chi và nhân sâm. Lô thuốc quý ấy có giá trị rất cao, giá mà cụ cứ giữ lại thì cũng giàu nứt đố rồi, thừa tiền để vương giả. Nhưng thay vì đó, cụ liên lạc với bên Hongkong vào yêu cầu họ nhận lại lô hàng. Bên Hongkong rất cảm động, nên cho cụ phân phối độc quyền rất nhiều thuốc quý ở Việt Nam. Đó là lý do cụ Phó Đức Tiến ở tuổi thanh niên đã có thể trở thành “ông vua thuốc Bắc” ở kinh thành. Người con kế thừa việc kinh doanh của cụ là cụ Phó Gia Tường đã ngày một phát triển sản nghiệp trong Nam ngoài Bắc, còn hỗ trợ tiền để in sách, sửa sang đền Ngọc Sơn, xây dựng đình Thủy Tạ để văn nhân trí thức tới ngâm vịnh và bàn bạc việc giang sơn… Con cái của cụ, cụ cũng dậy dỗ cốt sao giữ lấy cái đức, chứ không lấy lẽ thịnh suy sang hèn mà bận tâm. Tiếc rằng, thế sự bãi biển nương dâu, thời hoàng kim của họ Phó đã qua sau Cải cách ruộng đất. Phố Phúc Kiến ngày nay không còn là xưởng thuốc của nhà họ Phó, và gần như người họ Phó không còn giữ được nghề thuốc, nhưng họ vẫn hiền lành như xưa, cam phận sống trong ngõ hẻm phố cổ và giữ vẻ phong lưu còn sót lại của dân Hà thành.

Mỗi lần nghĩ về gia tộc họ Phó, lòng tôi luôn xen rất nhiều tiếc nuối. Đã từng có thời nước ta có những người nhà giàu như thế. Sự suy tàn của họ tính đến nay còn chưa được 100 năm, mà sao đã thấy xa như truyền thuyết. Thế mới hiểu được cái ngậm ngùi trong hai câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan:

“Lối xưa xe cũ hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”

Chữ tín trong thương trường giờ đây vẫn là một cái gì đó xa lạ, có khi nực cười. Và thương nhân biết giữ chữ tín, cũng có thói quen văn nhã khác hẳn đám trọc phú chỉ chăm lo cho cái mẽ mà vẫn lòi đuôi trọc phú.

Quay lại với hệ sinh thái trọc phú ngày nay, tôi có thể tạm kê ra mấy tầng trọc phú như sau:

–  Bề thế nhất hẳn phải là các đại gia bất động sản, khai thác mỏ, khu công nghiệp. Họ chiếm đất, xây công trình, đào xới tài nguyên thiên nhiên nhiều tới mức gây ô nhiễm môi trường, phá hoại cân bằng sinh thái tự nhiên, phá hoại cảnh quan, hủy hoại văn hóa địa phương… Mà họ khôn lắm nhé, chiếm đất là phải chiếm nơi có phong thủy đắc địa, đồ dùng trong nhà không phải kim loại quý hiếm thì cũng gỗ quý nguyên khối, ăn thịt là phải động vật hiếm còn tươi sống bắt trong rừng ra… Đừng hỏi tại sao đất trống đồi trọc, lũ lụt triền miên, bụi bẩn tung trời… Nếu xét về độ tàn phá, thì nhóm trọc phú này là tội lớn nhất. Đó là còn chưa kể đến các tội như cướp đất của dân, bóc lột nhân công giá rẻ khá là phổ biến, nhưng mà thôi, dân Việt ta kể cũng hiền, đã quen với cảnh “cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan” thì giờ có thêm lũ cướp trọc phú này cũng có sao đâu. Các đại gia trọc phú này là các anh lớn, các titan cai quản thượng tầng của giới trọc phú. Bởi không có họ thì lấy đâu ra  nguyên nhiên liệu, ra nhà ở, khu du lịch vui chơi giải trí nhảm …v…v… để nuôi các trọc phú khác.

–  Thứ nữa là đến đám buôn tiền. Buôn tiền kể ra thì cũng không có gì xấu. Tiền ngoài chức năng để giao dịch ra thì giờ đây cũng là một loại sản phẩm, và nó có thời giá. Người buôn tiền dựa vào sự khác biệt trong thời giá này mà hoặc là giàu to hoặc là phá sản. Buôn tiền, suy cho cùng cũng chẳng khác nào buôn các thứ khác. Người giỏi tính toán xác suất sẽ đo được thời gian, còn không thì chỉ biết cầu trời cầu Phật phù hộ. Nhưng đời nào người ta an phận thế. Người ta phải tự tạo ra thời giá bằng tin đồn, bằng scandal, bằng công nghệ PR… ôi thôi đủ cả chiêu trò. Đương nhiên, tất cả các thủ thuật ấy vẫn có thể tạm chấp nhận được. Nhưng mà khi buôn tiền trở thành một nghề để sống thì vô tình nó trở thành một dung môi cho đám người lười biếng, ăn không ngồi rồi lao vào kiếm tiền nhanh mà chẳng cần nghề ngỗng gì. Kiếm tiền nhanh thì tiêu nhanh, mà tiêu nhanh thì thường tiêu ngu, tiêu ngu lại chỉ béo lũ sản xuất bẩn mà thôi.

–  Các đại gia sản xuất bẩn nhiều nhan nhản vô kể, ở đủ mọi ngành nghề, bao trọn mọi khía cạnh của đời sống chúng ta đang có. Họ nhiều tới mức mà ta có cảm tưởng như thiếu họ thì ta không thể nào mà sống nổi. Cái sự bẩn của họ thì tôi đã nói ở trên rồi, thiết nghĩ không cần nói ở đây thêm nữa.

–  Các ngành dịch vụ thì tốt xấu lẫn lộn lắm, nhưng mà xấu nhiều hơn tốt. Thường các ngành dịch vụ tốt thì thuần túy là phục vụ khách hàng thôi, còn những ngành đòi hỏi phải thêm tí… nội dung như truyền thông, nhà hàng – khách sạn, … thì thế nào cũng có trò bẩn bựa. Bẩn bựa thường đến từ việc nhân sự quá ngu dốt nhưng lại được nắm vị trí then chốt như quản lý nội dung, quản lý kỹ thuật, hay thiết kế, hay đầu bếp… chẳng hạn. Thế là dịch vụ chẳng đâu vào đâu. Nhưng mà chả sao, yêu cầu của dân Việt căn bản là thấp; xem truyền hình hay báo chí thì cứ ồn ào, nhảm nhí là được, còn nhà cửa thì cứ có điều hòa và chăn gối sạch sẽ là Okie,… chả cần biết thế nào là hay là đẹp! Giá rẻ, có khuyến mãi nữa thì nhất rồi! Bẩn của những ngành kiểu này, buồn thay, lại đến từ sự ngu dốt. Mà khách hàng dùng mãi dịch vụ kém kém rồi, dùng thứ tối ưu hơn, đẹp đẽ hơn, hay ho hơn, chắc gì đã dùng nổi.

–  Hệ thống tuyên truyền tính trọc phú là một yếu tố rất quan trọng trong hệ sinh thái này. Hệ thống này muôn hình muôn vẻ và biến chuyển không ngừng, mục đích là để lôi kéo nhiều người tham gia vào hệ sinh thái trọc phú hơn. Trước đây, hệ thống này chỉ có tính chất truyền miệng. Tức là mấy ông bà trọc phú trong lúc cỗ bàn, vỗ bụng vểnh râu (ông) hay ưỡn ẹo khua môi múa mép (bà) để khuyên bảo người này người kia là phải nhơ bẩn như họ. Rồi họ gia ơn cho người ở quê, đưa người cùng quê lên làm việc cho mình, đào tạo đồng hương trở thành con zombie mang lại tài sản cho họ. Những người quê mới lên tỉnh, dần dần tạp nhiễm các thói xấu ấy, rồi ước mơ được như ông chủ, dần dần, họ chưa giàu nhưng đã ô trọc mất rồi. Sau này có thêm các sách dạy làm giàu, rồi các cộng đồng doanh nhân có niềm tin bất diệt rằng họ là những kẻ cứu rỗi xã hội khỏi cơn đói nghèo, rồi truyền thông… Tinh tế hơn, họ dùng hàng hiệu đắt tiền (mà chả cần biết giá trị thực của sản phẩm) để cố phân biệt mình với những người không hàng hiệu, cố tự huyễn rằng mình đã bước chân vào một đẳng cấp khác – giới nhà giàu. Đây chỉ là những cái vỏ để che đậy sự yếu hèn, mặc cảm bên trong. Và hơn bất cứ ai khác, một khi đã bước chân vào giới trọc phú, người ta sẽ quý trọng cái vỏ hơn là chính bản thân mình. Đám tuyên truyền chuyên nghiệp cho hệ thống này cũng biết cách lắm, cứ đánh vào tâm lý thích chứng minh đẳng cấp bằng cái vỏ này, mà tâng giá, mà moi cho đến nơi đến chốn túi tiền của đám trọc phú đồng hạng.

–  Hệ thống tham nhũng cả ở cõi dương và cõi âm: Đương nhiên, để làm tiền bẩn đến thế, không thể phủ nhận sự tiếp tay của các quan chức tham nhũng. Họ nhận tiền của trọc phú, mắt nhắm mắt mở cho qua mọi chiêu trò bẩn thỉu, thậm chí còn là công cụ để triệt hạ các đối thủ. Tương tự như vậy, các thần Phật được thờ cúng ở chùa chiền, đền đài giờ đây cũng chẳng khác nào quan tham nhũng. Nghe nói ở đâu cầu thiêng lắm, được lộc lắm, là các trọc phú cho đến đám học đòi đều lao đến xin phúc, xin lộc. Chả biết thần Phật có thật sự gánh hết tham – sân – si ấy hay không chứ nơi linh thiêng bây giờ thực sự đã trở thành ngành dịch vụ buôn may bán rủi. Cao cấp hơn, có vài trọc phú cũng tu thiền tu Phật, thở vài hơi ra là nói giọng cao đạo giảng giải. Mượn ý của Osho, nói gọn lại là, ngày xưa họ nói về tiền thì giờ họ nói về thiền, có khác gì nhau đâu. Tất thảy đều là những lời tự xoa dịu, với niềm hi vọng rằng thiền và Phật hay những thứ tương tự có thể giúp họ rửa sạch tội lỗi đã giúp họ có được tiền tài kia. Thậm chí, tu tập như thế, giúp họ có năng lượng tốt, và năng lượng tốt sẽ kêu gọi nhiều tiền về hơn cho họ!

Thôi, nhưng mà dù sao cũng cảm ơn các trọc phú. Nhờ có họ, tôi có cái để so sánh, để nhận ra rằng ở đời còn có nhiều việc phải làm. Nếu không, cái kẻ lười biếng và thiếu ý chí như tôi lại mang tiếng “Ăn no rồi lại nằm khoèo/Nghe giục trống chèo vác bụng đi xem”.

Hà Thủy Nguyên

Soi trọc phú (1): Họ là ai và tại sao lại là họ?

blogpost thumb

Lưu ý khi đọc chùm bài “Soi trọc phú”:

–  Người nhà giàu không nhất thiết là trọc phú và trọc phú không nhất thiết phải rất nhiều tiền

–  Giàu có là tốt nhưng trọc phú thì lố bịch

–  Trọc phú không đáng ngại bằng Tính trọc phú lây lan rộng trong xã hội qua các môi trường doanh nghiệp, truyền thông, ẩm thực, du lịch…

Thử định nghĩa lại trọc phú

Từ điển Hán Việt của Nguyễn Quốc Hùng định nghĩa “trọc phú” là nhà giàu nhưng lòng dạ bẩn thỉu. Đây là cách định nghĩa rất sát với từ “trọc phú” trong tiếng Hán ( 濁富). “Trọc” có nghĩa là bẩn thỉu, “Phú” có nghĩa gốc là dồi dào và thêm một nghĩa nữa là giàu có. Như vậy, định nghĩa của ông Nguyễn Quốc Hùng là chính xác, nhưng không đủ rõ nghĩa. Bởi vì, thế nào là “lòng dạ bẩn thỉu”?

Sự bẩn thỉu hay xấu xa trong tâm ở mỗi thời đại lại có cách hiểu khác nhau. Sự sạch sẽ, trong sáng thì chỉ có một kiểu thôi nhưng sự xấu xa thì muôn cách thể hiện, biến đổi không ngừng. Ở đây, tôi sẽ không bàn về cách hiểu của người xưa, bởi vì tôi không sống ở thời đại đó, không biết rõ các cách thức xấu xa của các bậc tiền bối trong làng trọc phú. Tôi chỉ bàn về trọc phú ngày nay, ở thời đại tôi đang sống mà thôi.

Từ “trọc” được sử dụng rất hay, bởi trọc phú thì bẩn toàn diện, bẩn từ trong ra ngoài, bẩn từ lòng dạ đến thói quen, cho dù có khoác lên những chiếc áo hạng sang và chải chuốt bóng bẩy.

Về căn bản, một trọc phú không kiếm tiền bằng tài năng và sự nghiêm túc trong nghề nghiệp đâu, mà bằng lối làm ăn chộp giật, trục lợi, bất chấp thủ đoạn. Mặc dù không đủ tay nghề nhưng để kiếm tiền nhanh, họ cứ thế nhận việc mà không quan tâm đến các hậu quả có thể xảy ra; hoặc sẽ trí trá tìm cách cướp công của người khác để nhận về mình. Kiếm được một mớ tiền rồi, lòng thấy sung sướng, rồi đâm ra kiêu ngạo, tự nghĩ mình là tài giỏi hơn người. Họ tự gạt mình rằng trước kia mình kiếm tiền được là nhờ họ giỏi giang về nghề, tự cho tay nghề của mình là nhất, rồi khinh miệt những người có tài nhưng chưa (hoặc không) có nhiều tiền như họ.

Bởi vì của cải họ kiếm được là bất chính nên họ cần phải tìm mọi cái mã để đắp lên mình, để tự che đậy quá khứ làm ăn bẩn thỉu của mình. Vậy là họ học làm sang. Buồn cười thay, sẽ có một hệ thống những trọc phú khác cũng chộp giật và trục lợi như vậy, cung cấp những cái vỏ để từng phần tử trọc phú khác khoác lên người. Những cái vỏ ấy thôi thì đủ loại: hàng hiệu, dịch vụ sang chảnh, thờ bái quỷ thần, tu thiền học đạo nửa vời… Và bởi vì họ đã quen cái thói “chộp giật”, nên những cái vỏ mà họ chọn cũng rởm lắm. Những cái vỏ ấy cũng được tạo ra bởi các… trọc phú như họ. Thế nên, không chỉ ăn chơi, tiêu dùng là dịch vụ mà ngay cả thần thánh, tu thiền học đạo, hoạt động tri thức, với họ cũng chỉ là dịch vụ, và được vận hành theo đúng cái lối của trọc phú. Tóm lại, một hệ sinh thái trọc phú được tạo ra để cung cấp vỏ cho trọc phú.

Tại sao tôi lại viết về họ?

Tôi biết các trọc phú lười đọc lắm, chưa chắc họ đã đọc bài của tôi. Nhưng thôi, để phù hợp với nhận thức của họ, tôi sẽ gạch đầu dòng cho tiện:

Thứ nhất, bởi vì họ chiếm đa số trong xã hội Việt Nam hiện nay (có thể là cả trên thế giới), nên họ là những kẻ nhân rộng virus “trọc phú” qua cách thức kinh doanh, cách đào tạo nhân viên, cách truyền thông. Đó là còn chưa kể lây lan qua con cháu, anh em họ hàng, bạn bè, đồng hương… blah blah blah…

Thứ hai, họ là những kẻ tàn phá môi trường tự nhiên, văn hóa và đạo đức xã hội nhất nhưng vẫn vênh vang rằng mình tạo ra của cải vật chất cho xã hội.

Thứ ba, lý do cá nhân thôi, tôi rất khó ở mỗi khi phải tiếp xúc với các trọc phú và các trọc phú cũng rất ngứa mắt với sự kênh kiệu và vô lễ của tôi.

Thứ tư, tôi thực sự lo ngại vì hệ sinh thái trọc phú đang ngày càng lan rộng với một niềm tin chắc chắn được lan truyền trên truyền thông đại chúng rằng cần phải giàu có, cần phải đẳng cấp theo cái cách rất… trọc phú.

Tóm lại, tôi viết bài này và cả các bài khác trong chùm bài SOI TRỌC PHÚ, không phải để các bạn khinh rẻ các trọc phú hay những ai có tính trọc phú, mà mong sao ai đó bị nhiễm virus trọc phú rồi thì cố chữa trị, để cuộc sống của chúng ta bớt dối trá và phù phiếm hơn.

Hà Thủy Nguyên

 

NHÀ XUẤT BẢN CỦA GS CHU HẢO VÀ MỘT Ý TƯỞNG TRUYỀN BÁ TRI THỨC...

blogpost thumb

Ngay khi thông tin về việc Giáo sư Chu Hảo bị kỷ luật vì những cuốn sách có tư tưởng chính trị do NXB Tri Thức ấn hành thì lập tức một đợt sóng truyền thông rầm rộ trên Internet và người ta đua nhau đi ôm sách NXB Tri Thức về nhà. Họ khoe nhau những tủ sách ngập sách NXB Tri Thức, những bức ảnh chụp bác Chu Hảo. Có lẽ các siêu sao Việt Nam chẳng ai có bộ sưu tập ảnh nhiều góc độ như bác Chu Hảo đâu. Âu cũng là một chuyện thú vị! Điều ấy cho thấy xã hội ta đã “tự diễn biến” từ lâu rồi, và theo quy luật lượng chất thì có lẽ sắp có thay đổi về “chất” đến nơi. 😊

Người ta ca ngợi bác Chu Hảo nhiều cũng như tiếc nuối NXB Tri Thức, chen lẫn sự lo lắng về một tương lai không có sách “nghiêm túc” và “tiến bộ” để đọc nữa. Nhưng sau tất cả, tôi nghĩ, đó không phải điều bác Chu Hảo mong đợi.

Khi giáo sư Chu Hảo rủ Book Hunter về tổ chức sự kiện tại NXB Tri Thức, giáo sư đã tâm sự với tôi về ý tưởng của NXB. NXB được lấy ý tưởng từ tinh thần “khai dân trí” của cụ Phan Châu Trinh, và không chỉ có vậy, còn của cả hội Khai Trí Tiến Đức. Nếu so sánh về cách thức hoạt động của NXB Tri Thức thì tôi thấy rằng, bên trong, NXB tạo nên một hội Khai Trí Tiến Đức kiểu mới, và bên ngoài thì thực hiện “khai dân trí” theo cách cụ Phan. Có thể nhiều độc giả chưa hẳn đã đọc và hiểu hết các ý tưởng từ sách của NXB Tri Thức, nhưng tinh thần tri thức mà các đầu sách của NXB truyền tải thì vẫn ảnh hưởng một cách đáng kể. Nói một cách thị trường hơn, NXB Tri Thức đã tự định hình một phân khúc trong trị trường sách Việt Nam. Và hơn cả thế, điều đáng quý của NXB Tri Thức, đó là từ lâu, nơi đây trở thành một nơi tập trung những người ham mê tri thức, cùng làm việc để duy trì và truyền bá tri thức, và tôi tự hào là một người trong số ấy. Bởi vì để gìn giữ tinh thần tri thức không phải đơn giản là một công việc mà là một cuộc chiến, cuộc chiến chống lại một xã hội đang ngày càng coi rẻ tri thức, cuộc chiến để lấy lại vị thế cho những gì đã từng bị vùi dập bởi một thời mông muội. Đó chính là tinh thần của Khai Trí Tiến Đức và Phan Chu Trinh, cũng là tinh thần của nhiều thế hệ trí thức, và của rất nhiều trí thức độc lập đang nỗ lực hiện thực hóa trong xã hội.

Tôi quen nhiều nhóm trí thức độc lập có cùng phương châm hoạt động với NXB Tri Thức, nhưng NXB Tri Thức là một ví dụ điển hình cho sự thành công, dù rằng NXB cũng… nghèo lắm. À không, nói theo một cách khác, NXB Tri Thức giàu lắm, cái gì cũng có… trừ tiền. Những cuốn sách bị cấm tái bản không phải tất cả những gì quý báu nhất của NXB Tri Thức mà chỉ là… một phần nhỏ trong gia tài quý báu ấy. Thậm chí đó cũng không phải là giá trị cốt lõi mà NXB Tri Thức muốn truyền tải mà chỉ là một phần nhỏ trong các  hệ thống tư tưởng mà NXB Tri Thức muốn giới thiệu với bạn đọc. Thế nên, tại sao phải lo lắng cho số phận của NXB Tri Thức hay cho số phận của việc truyền bá tri thức?

Bởi vì sau tất cả, NXB Tri Thức vẫn sẽ tiếp tục in các cuốn sách có chất lượng cao về học thuật để làm cơ sở nền tảng cho Việt Nam. Mà nếu chẳng may NXB Tri Thức bị đóng cửa thì các trí thức vẫn còn đó, họ sẽ vẫn tiếp tục viết sách, dịch sách, truyền bá tri thức theo cách này hay cách khác, và biết đâu lại chẳng lan rộng tới mức chẳng ban bệ nào trong chính quyền có thể kiểm soát được. Như thế, thứ quan trọng mà NXB Tri Thức để lại cho sau này chính là tinh thần tri thức chứ không phải những cuốn sách.

Tôi cũng chẳng biết làm gì để thể hiện sự ủng hộ của mình với NXB Tri Thức lúc này, bởi vì tôi không quen hô hào hay kêu gọi cho NXB Tri Thức, cũng không thể đổ xô chạy đến để ôm sách của NXB Tri Thức về tích trữ bởi vì trước nay Book Hunter vẫn làm thế. Tôi chỉ có thể tự hứa với bản thân là sẽ tiếp tục duy trì tinh thần trí thức ấy cho dù NXB Tri Thức trong tương lai có còn hoạt động nữa hay không. Và tôi tin, vẫn có rất nhiều trí thức trước giờ vẫn luôn  nung nấu tinh thần ấy.

Hà Thủy Nguyên

– Giáo sư có thể chia sẻ bí quyết để có được hạnh phúc trong cuộc sống?
– Để cuộc sống thanh thản, tôi thường có 3 điều nhớ và 3 điều quên. Nhớ mình là người bình thường và mình có thể sai, không phải lúc nào mình cũng đúng. Mình luôn là mình, không sống bon chen với người khác.
Điều đầu tiên phải quên là quên tuổi tác. Tôi năm nay đã 70 tuổi nhưng cố quên là mình đã già. Thỉnh thoảng tôi vẫn đi lại nhanh nhẹn như thanh niên. Các cụ dạy rằng: “70 tuổi vẫn chưa già, 60 tuổi vẫn còn là trung niên”, tôi nghĩ mình vẫn đang ở độ tuổi trung niên. Điều thứ hai là quên bệnh tật, vì tôi quan niệm có quên bệnh tật mới sống vui vẻ được. Thứ ba là quên thù hận. Nếu có xích mích thù oán gì thì càng gỡ ra bao nhiêu, càng tốt bấy nhiêu.
Tôi nghĩ ai hay nghĩ xấu về người khác thì rất bất hạnh. Tôi là người nghiêm túc về giờ giấc, nhưng nếu ai đã hẹn với tôi mà đến trễ thì tôi nghĩ đơn giản rằng họ bận đột xuất nên lỡ hẹn với mình. Nghĩ vậy tôi thấy lòng mình thanh thản hơn.
Xin chúc các bạn có sự an lạc trong tinh thần để cảm thấy mình hạnh phúc!
(Trích GS Chu Hảo
trả lời phỏng vấn VnExpress, 8.1.2011)