Dấu vết

blogpost thumb

Lộp độp, mưa vỗ trống trên mái nhà gỗ.  Thỉnh thoảng những cơn gió lại dội lên đu đưa rừng trúc như một mảng bè trầm xa vắng. Nàng choàng tỉnh khỏi cơn xuất thần mê đắm, trong cơn xuất thần nàng đã chạm tới những vì sao xa xăm ngoài vũ trụ. Nhưng cho dù các vì sao khác nhau như thế nào thì chúng vẫn giống nhau một cách nhàm chán. Và giờ đây nàng lại thấy những thanh âm của trần gian có một sức thu hút lạ kỳ.

Nàng vốn là một phù thủy đã nguyện tách xa mình khỏi nhân thế để tu luyện những bí giáo chỉ có thể dành cho kẻ âm thầm giữa vòng đời mê ảo này. Căn nhà nàng ở nằm trong một khu rừng trúc nơi cùng trời cuối đất, giữa thâm sơn cùng cốc, chẳng ai biết tới, vốn dĩ đã được tổ tiên của nàng dựng lên để cất giữ những pho sách không thể lưu truyền chốn nhân gian. Không biết bao năm tháng đã qua đi – khi chỉ có một mình đối diện với chính mình thì thời gian cũng chỉ là thứ vô nghĩa – có thể là hàng chục năm, hàng trăm năm, nhưng nàng vẫn giữ dáng vẻ của thời xuân sắc. Xưa kia, thuở bé, nàng cũng ở cùng cha mẹ và họ hàng tại khu rừng này, nhưng vì một lý do nào đó họ đã ra đi để rồi không bao giờ nàng thấy họ quay lại nữa.

Cơn mưa miên man thả xuống không gian quanh nàng một hơi mát dịu và một lần nữa lại đẩy nàng xuất thần. Thần khí của nàng phiêu bạt trong gió, nàng muốn để mặc chúng kéo trôi đi, cho đến điểm cuối cùng của cơn mưa. La đà qua những ngọn trúc, xuyên thấu qua những kẽ núi thâm sâu, lướt qua những dòng sông cuộn sóng, nàng men theo đó và dừng lại tại một ngôi làng.

Tiếng người nói xôn xao, dù rất nhỏ so với tiếng mưa rơi, vậy mà lại khiến nàng xáo động. Nàng chợt nhớ ra là đã rất lâu rồi nàng không cất tiếng nói. Các vì sao và vũ trụ đâu cần lắng nghe thứ âm thanh nhỏ nhoi của nàng đâu. Cơn chấn động khiến nàng khiếp hãi, nàng vội vã vụt quay trở lại thân xác của mình. Bên tai nàng không còn tiếng mưa rơi nữa, chỉ còn lại những tiếng người hỗn loạn mỗi lúc một vang hơn.

Bật dậy, nàng ở tung cửa, nhào ra ngoài mưa. Đất sũng nước mềm như nhung nhưng lạnh thấu gan bàn chân. Tóc nàng bết lại đổ xuống tà áo trắng nay đã trở nên trong suốt. Chiếc áo dính chặt lấy người nàng khiến nàng khó chịu, trong cơn hoang mang, nàng đã trút bỏ nó và vứt vơ vẩn dưới một gốc cây nào đó. Hơi đất vẫn tiếp tục lan trong từng mạch máu, những giọt mưa trút như thác lũ từ trên trời không đủ để tẩy rửa. Thậm chí, những cành trúc la đà cũng không ngừng mơn man da thịt của nàng. Trong khoảnh khắc nàng bỗng thấy mình chỉ là một kẻ trần thế hơn tất cả loài người kia. “A…. A…A…” Nàng thét lên một tràng dài rồi quỵ xuống, nằm gục xuống đất, thổn thức mấy chữ:

–         Ta… ta…

“Ta phải rời khỏi đây. Vì sao ư? Vì đơn giản là ta thấy cần. Nhưng làm thế nào để có thể đi vào trốn nhân gian kia và không để lại bất cứ dấu vết gì? Ta đơn thuần chỉ muốn làm một kẻ lặng lẽ và quan sát… Thây kệ, ta sẽ đi, sẽ cố hết sức để giữ mục tiêu tối thượng của mình”

 

Image

Vậy là nàng rời khỏi căn nhà gỗ, rời khỏi rừng trúc để tìm đến với con người. Thật buồn cười, nàng hiểu hết các vì sao ngoài vũ trụ xa xăm, nhưng lại chẳng hiểu gì về con người cả. Nàng cứ nghĩ rằng chỉ cần biết về các vì sao là đủ, bởi con người chịu sự chi phối của chúng, nhưng hình như nàng đã lầm, nàng không hiểu tại sao con người có thể gây ra cho nàng một cơn cuộn trào mạnh mẽ đến vậy. Phải chăng có điều gì huyền bí?

Ngôi làng hôm nọ đã hiện ra trước mắt nàng. Đó là một ngôi làng nghèo đói xác xơ vì dịch bệnh. Trái tim nàng thắt lại khi thấy những con người lầm than đau khổ vươn tay ra xin ăn cầu cứu. Xin ăn thêm một bữa để làm gì khi ngày mai vẫn chắc chắn là mình sẽ chết. Họ níu kéo điều gì trên Trái Đất này nữa không biết. “Con người thật  là ngu xuẩn”, ý nghĩ ấy vừa vang lên trong đầu để xóa bỏ đi cơn đau của trái tim thì đập vào tâm trí của nàng là hình ảnh một người mẹ bệnh nặng nhưng vẫn níu váy nàng xin miếng bánh cho đứa con nhỏ. Hình ảnh ấy đẩy nàng vào quá khứ, cái cảm giác trong vòng tay của mẹ xa lắc xa lơ bỗng tràn về. Nàng chỉ khẽ lắc đầu, thở dài xa vắng.

Nàng ngồi xuống giữa chợ, nhắm mắt lại, ngửa cao đầu, vươn thẳng đôi cánh tay trắng nõn lên trời. Luồng năng lượng mạnh mẽ nhưng thanh khiết của vũ trụ tối cao tuôn chảy qua cơ thể nàng, cả người nàng phát ra một quầng hào quang trắng sáng và nàng chuyển nó xuống hai bàn tay. Nàng đi đến tất cả những người bệnh và chạm vào họ, ánh sáng ngấm qua da thịt và đẩy lùi màu đen sạm đi đâu không rõ.

Cứ thế, cứ thế, hết làng này đến làng khác, nơi thì nàng dậy cho họ cách trồng trọt cho hợp với mặt trăng và các vì sao, nơi thì nàng dậy họ nghề làm thuốc, nơi nàng giúp những kẻ khốn cùng chống lại đạo luật hà khắc, bất công. Nàng cố gắng để không có một chút gắn kết tình thân nào với những người ở đó, nàng những tưởng rằng nàng đang không để lại chút dấu vết gì.

Ai ngờ dấu vết ấy còn lan xa hơn cả bước đi của nàng. Dấu vết đã đến tai của một ông vua trẻ tuổi. Sự xuất hiện của nàng tạo ra một sự hỗn loạn trong triều đình, nàng khiến những người dân chống lại đạo luật mà ông ban bố, và dù biết rằng nàng không có ý xấu, nhưng sự sĩ diện của ngai vàng buộc ông phải bắt nàng.

Nàng được đưa đến trình diện đức vua. Ôi chao! Ông phải mất  một lúc lâu ngây ngất trở vẻ sâu thẳm của nàng, sâu thẳm đến nỗi làn nước trong trẻo nhất cũng không  khiến ông nhìn xuyên thấu được. Sự sâu thẳm ấy dường như thôi miên ông, khiến ông phải đuổi hết tả hữu để được ở lại với riêng mình nàng. Uy quyền của một vị vua đã bay đâu mất, ông tiến đến gần nàng, đôi mắt vẫn không rời đôi mắt, cởi trói cho nàng, dắt tay nàng ngồi xuống ngai vàng cạnh mình.

Thời gian lại một lần nữa trở nên vô nghĩa. Nàng cả thấy một điều gì đó đang cựa quậy tự nơi sâu nhất và tuôn trào lên trái tim nàng. Nàng quên mất cả vũ trụ, quên mất những vì sao, quên mất những con người sống trong mông muội. Điều quan trọng nhất với nàng lúc này là được chạm lên nụ cười quyến rũ của đức vua. Và đôi tay đã làm theo điều bí ẩn đang cựa quậy đó, những ngón tay của nàng lần lượt rờ nhẹ trên khuôn mặt của đức vua, tựa như những lá trúc mơn man cơ thể của nàng trong đêm mưa gió.

Kích động! Nhà vua ào đến như luồng sóng mặt trời dữ dội. Nó đẩy lùi mọi cảm giác khác và nàng thực sự bị thuần phục, như những vì sao phải thần phục vầng thái dương. Những tiếng nói lao xao trong đầu nàng biến mất, chỉ còn tiếng thở của nhà vua hổn hển, ấm nóng hòa cùng tiếng trái tim nàng đập mạnh liên hồi. Chưa bao giờ nàng lại thích thú với sự vô nghĩa của giọng nói đến vậy, và sự im lặng này sẽ kéo dài trong bao lâu? Gối đầu lên đùi của đức vua, để đôi bàn tay ấy vờn nhẹ những lọn tóc trên má, cả vũ trụ này bỗng dưng không tồn tại.

–         Tại sao nàng lại chống tại ta? – Đức vua đã lên tiếng.

–         Ta không chống lại ngài – Nàng áp bàn tay đức vua vào trái tim mình – Ta chỉ không chịu được khi nhìn thấy những điều đau khổ. Ngài không thấy họ đáng thương sao?

–         Nhưng nếu ta không hà khắc thì họ sẽ chém giết lẫn nhau…

Nàng níu cổ đức vua, kéo người cúi đầu hôn một nụ hôn thoảng qua rồi nhìn sâu vào đôi mắt của ông.

–         Tại sao ngài lại hà khắc với chính ngài như vậy?

Đức vua sững sờ lảng tránh, thẳng lưng nhìn lên trời. Nàng vẫn dịu dàng vừa nói, vừa vuốt ve lòng bàn tay ngài

–         Ngài không phải đang hà khắc với người dân của ngài, ngài đang hà khắc với chính ngài. Đạo luật hà khắc ấy làm cho họ sợ thì ít, mà làm cho ngài sợ thì nhiều. Ngài sợ không thể kiểm soát được mình và mất đi uy thế của một vị chúa tể.

Đức vua nhắm mắt lại, thở hắt ra rồi hít vào thật sâu. Ông nâng cằm nàng và nói:

–         Nàng sẽ trở thành hoàng hậu của ta chứ?

Nàng bật cười khúc khích:

–         Ta đã trở thành hoàng hậu của ngài từ lâu rồi, chỉ ngài là không biết đó thôi. Ngài không cần phải bãi bỏ những điều luật hà khắc ấy đâu, ngài chỉ cần  mang đến cho họ một niềm tin vào tình yêu của Thượng Đế, mang đến cho họ đủ cơm ăn, áo mặc. Thế rồi họ sẽ giống ta, bị ngài thần phục hoàn toàn.

Đức vua cười lớn thích thú vì lời nói của nàng. Một hôn lễ không ồn ào, nàng không thích đông người, nhưng lãng mạn giữa một rừng hoa với con suối nhỏ, đã được tổ chức. Từ ấy đức vua và nàng cùng nhau cai trị đất nước trong thanh bình, dân chúng ca vui rộn rã.

Nhưng, từ khi nàng trở thành Hoàng hậu, những thầy tu khắc kỷ bị truất hết uy quyền. Vua vẫn cho họ bổng cao lộc hậu, song họ không thể chấp nhận được việc vị vua trẻ tuổi đã nằm ngoài sự kiểm soát của họ và tự ý quyết định quốc gia đại sự. Họ rêu rao khắp nơi bêu riếu Hoàng hậu, rằng nàng là một phù thủy  tà ma đã bỏ bùa đức vua. Người dân không tin các thày tu, họ chịu ơn của nàng. Các thày tu bực bội rời bỏ đất nước này để đến các đế quốc hùng mạnh hơn. Tại đây, họ bịa đặt  với các vị hoàng đế về phép màu đáng sợ của nàng, về tham vọng dùng pháp thuật ấy để thôn tính thiên hạ của đức vua. Các đế quốc liên minh với nhau, đem quân đến biên giới của đất nước gây áp chế.

–         Cuộc chiến này sẽ giết chết rất nhiều người… – Nàng đứng ở cửa sổ và nhìn xuống phía những người dân.

–         Nàng yên tâm, chúng ta sẽ chiến thắng, chúng ta có công lý ở trong tay…

Nàng quay lại nhìn đức vua mới một nụ cười buồn bã:

–         Chàng đang an ủi thiếp đấy ư? Nếu công lý có thể dành chiến thắng thì loài người đã chẳng lầm than đau khổ. Không! Công lý không phải thứ để thắng, nó là thứ để dành riêng cho bản thân mình…

–         Nhưng họ muốn hỏa thiêu nàng … – Đức vua xúc động, không ngăn được dòng nước mắt.

–         Thì có sao đâu, thiếp không thể dùng phép thuật để giúp chàng chiến thắng được, sẽ có quá nhiều người phải chết.

Đức vua ôm chầm lấy nàng:

–         Ta không cần chiến thắng, ta chỉ cần mãi mãi ở bên nàng. Hay ta và nàng cùng nhau bỏ trốn đến một nơi thật xa…

Nàng đặt tay lên môi đức vua để giữ chặt lời ông:

–         Điều này do thiếp gây ra. Ngay từ khi rời khỏi rừng trúc, thiếp đã tự nhủ với mình rằng sẽ đi qua cuộc sống loài người mà không để lại chút dấu vết gì, nhưng hình như ngài và những con người kia đã để lại quá nhiều dấu vết bên trong thiếp. Nếu chúng ta bỏ đi, họ sẽ không ngừng săn lùng chúng ta, họ sẽ tàn sát con dân của ngài. Ngài nỡ lòng ư?

Đức vua im lặng xiết chặt nàng hơn nữa. Nàng vuốt nhẹ sống lưng của đức vua thủ thỉ:

–         Cứ để họ hỏa thiêu thiếp, nhưng chúng ta vẫn có thể ở bên nhau. Nếu ngài thực sự muốn mãi mãi bên thiếp, nàng hãy rời bỏ ngai vàng sau khi sắp xếp xong mọi chuyện, thiếp sẽ để lại cho chàng tấm bản đồ dẫn đến khu rừng trúc. Ở đó, chàng hãy học cách để có thể lên được những vì sao. Thân thể của thiếp có thể bị thiêu rụi, nhưng linh hồn thiếp tồn tại trên vũ trụ bao la kia. Nơi ấy, chúng ta sẽ vĩnh viễn ở bên nhau…

Ngọn lửa đỏ rực thiêu đốt thân thể của nàng trước mặt đức vua. Nàng chỉ mỉm cười nhìn ngài trong khi ngài vẫn phải nén nỗi đau để đeo chiếc mặt nạ của một ông vua hùng cường. Sự hả hê cũng như lòng thương tiếc không vượt qua nổi được ngọn lửa. Tất cả những điều ấy giờ đây cũng trở nên vô nghĩa với nàng. Thần khí của nàng đã rời khỏi cơ thể, tan biến vào một cơn gió thổi qua làm khô ngấn lệ trong khóe mắt của đức vua rồi vươn cao tới những vì sao.

Một cơn mưa rào ập tới, đức vua vẫn đứng đó trong cơn mưa nhìn nước dập tắt ngọn lửa đã cướp đi người yêu dấu của ngài. Ngài thần người nhìn đống tro tàn còn lại đang bị nước cuốn trôi và tất cả đều tan loãng vào lòng đất.

Hà Thủy Nguyên

“MÊ HỒN CA” CỦA ĐINH HÙNG: CÕI CHIÊM BAO CỦA THỨC TỈNH TINH THẦN

blogpost thumb

Hà Thủy Nguyên

Lần đầu tiên đọc thơ Đinh Hùng, khi ấy tôi vẫn còn ngồi trên ghế trường trung học, đó là bài thơ “Khi mới nhớn”. Bài thơ nằm trong một tuyển tập ở thư viện Hà Nội. Tôi đọc bài thơ với sự khoái chí khi tưởng tượng đến cậu học trò trốn học bởi nhận thức được những sự ngớ ngẩn của trường lớp và muốn giữ mãi sự mơ mộng nguyên thủy của bản thân. Thời ấy, tôi tâm đắc mấy câu này:

“Ta ném bút dẫm lên sầu một buổi

Xa vở bài, mở rộng sách ham mê

Đã từng phen trèo cổng, bỏ trường về

Xếp đạo đức dưới bàn chân ngạo mạn”

Tôi thích mê Đinh Hùng đi được và quyết định là sẽ tìm bằng được thơ của ông. Nhưng thời ấy, các cô giáo dậy văn của tôi không ai biết Đinh Hùng, thư viện không có sách của ông, và ngay cả cuốn sách điểm mặt gần như toàn bộ các nhà thơ xuất sắc thời 30 – 45 là “Thi nhân Việt Nam” cũng không nhắc đến ông. Chỉ đến khi vào đại học, tôi mới được đọc thêm một bài khác của Đinh Hùng là “Bài ca man rợ”, và lúc ấy, tôi mới nhận diện được phần nào con người thơ của Đinh Hùng, rồi được nghe nói đến tập thơ “Mê hồn ca” của ông như một huyền thoại. Cũng xin nói thêm, một sinh viên ngành nhân văn ở Việt Nam trước 2010 mà muốn tìm tư liệu để đọc không phải việc dễ nếu không có mối quan hệ đủ tốt với các thày và các nhà nghiên cứu. Sẽ không có chuyện lên Thi Viện “search” tên Đinh Hùng là có gần như đầy đủ các tác phẩm của ông. Tôi đã đi tìm tập thơ ấy trong nhiều năm, và chỉ đến khi vào Sài Gòn làm việc (năm 2008), tôi mới thực sự được đọc toàn bộ tập thơ “Mê hồn ca” nhờ những hàng sách cũ ở thành phố này. Nhiều năm sau khi đọc “Mê hồn ca”, tôi không đọc được thơ của người khác. Tôi đã bị ám ảnh bởi thực tại kỳ vĩ trong thơ Đinh Hùng, một thế giới thơ hiếm hoi trong nền văn chương Việt Nam vốn chỉ thích những thứ be bé, xinh xinh…

Đinh Hùng sinh năm 1920, thuộc thế hệ nhà thơ trẻ bắt đầu trưởng thành vào cuối Phong trào Thơ Mới. Ông sáng tác nhiều bài thơ thời ấy, dù còn non tay. Sau này, những bài thơ thời non trẻ ấy được đưa vào tập “Đường vào tình sử” (1961). Kể ra thì, ngay cả các bài thơ non tay của Đinh Hùng cũng ăn đứt không ít các nhà thơ được tuyển vào “Thi nhân Việt Nam” (1942). Sau này, các học giả đều phê phán Hoài Thanh về việc không đưa Đinh Hùng vào “Thi nhân Việt Nam” với lời buộc tội rằng Hoài Thanh không chịu nổi các bài thơ siêu thực, tượng trưng mà chỉ thích các bài êm tai. Đinh Hùng không được nhắc đến trong “Thi nhân Việt Nam”, tôi cho rằng đó là điều hợp lý. Bởi thơ ông vượt ra khỏi phạm vi “Việt Nam”, và nếu có đưa ông vào tập sách ấy, quả thực cũng không biết xếp ông ở ghế nào trong bảng xếp hạng thời thượng đó. Hơn nữa, việc hiểu thơ Đinh Hùng không phải việc dễ, nó đòi hỏi người đọc phải tách biệt khỏi thế giới thực để bước vào một cõi giới khác. “Muốn đi vào thi giới của Mê Hồn ca và Đường Vào Tình Sử, trước hết, phải tách rời nó ra khỏi thực tại. Tách rời hẳn ra. Vì thi giới đó, không phải là một phản ánh thơ mộng của thực tại như ta lầm tưởng. Thi giới đó là một hư cấu, hoàn toàn độc lập với thực tại, nếu có tương quan thì tương quan đó chỉ là tác giả và người đọc, những nhân sự khởi đi từ trần lụy để tìm đến một vũ trụ khác.” (Đặng Tiến) (1)

Đinh Hùng là bạn thân của Vũ Hoàng Chương và Thạch Lam, nhưng người “tri ngộ” ông lại chính là Thế Lữ – vị chủ soái của phong trào Thơ Mới. Thế Lữ khi viết “Trại Bồ Tùng Linh” đã lấy bài thơ “Kỳ nữ” của Đinh Hùng để sử dụng trong truyện. Bài thơ hẳn đã là một sự chấn động với vị chủ soái, nếu không ông đã tự sáng tác một bài thơ thay vì mượn thơ của một nhà thơ trẻ tuổi chưa có nhiều danh tiếng. Sau khi đọc bài thơ này, Thế Lữ đã không làm thơ nữa. “Kỳ nữ” là những mảng siêu thực về hình ảnh của người con gái phi thường. Người con gái này là một nữ thần để Đinh Hùng phải quỳ gối:

“Khi sùng bái, ta quỳ nâng nếp áo

Nhưng cúi đầu trước vẻ ngọc trang nghiêm

Ta khẩn cầu từng sớm lại từng đêm

Chưa tội lỗi đã thấy tràn hối hận”

Nếu nhà phê bình nào cố gắng đi tìm “Kỳ nữ” này ngoài đời thật thì đó là một nhiệm vụ không tưởng. Người “kỳ nữ” của Đinh Hùng không có một chút nào là “thật”. “Thật” ở đây có nghĩa là hiện hữu. Đi tìm một dạng tồn tại không hiện hữu thì không thể sử dụng con mắt của các nhà nghiên cứu hay phê bình được. Nếu chỉ bằng con mắt soi xét những thứ hiện hữu, ta chỉ thấy những hấp dẫn câu chữ mà chúng ta thường quen gọi là “thủ pháp” và “tư tưởng”. Người ta đọc thơ không phải đi tìm những thứ ấy. Người ta đọc thơ bởi vì thơ đưa tinh thần của ta vào không gian tinh thần của thi sĩ và thông qua đó gợi mở cho ta điều mới mẻ. Trong trường hợp bài “Kỳ nữ”, Đinh Hùng đã đưa ta vào một không gian thần thoại mà ở đó tự nhiên và người con gái đồng nhất với nhau. Trong thần thoại, các nữ thần cổ xưa thường được mô tả với vẻ kì vĩ của trăng sao, của núi rừng. Nữ thần không mang hình hài con người mà mang hình hài của tự nhiên với “biển sắc rừng hương”, “ngàn hoa sớm”, “vầng đông”, “sao mọc”, “băng tuyết”… Trong khoảnh khắc đầu tiên mà thần nữ xuất hiện, không phải là “làn thu thủy nét xuân sơn” (2) mà là “trời ta mơ ước”. “Kỳ nữ” với Đinh Hùng cũng giống như nàng Galatae với chàng Pygmalion, là đại diện cho lý tưởng, cho cõi mơ, cho sự hoàn hảo mà người nghệ sĩ luôn tưởng đến. Nhưng “Kỳ nữ” chỉ là một mã để ta nhận diện thế giới Đinh Hùng mong muốn chạm đến. Trong thế giới ấy, tự nhiên đóng vai trò tuyệt bích dù cho có “dị kỳ”, có “yêu ma”. “Kỳ nữ” nằm trong phần II của “Mê hồn ca”, có tên là “Thần tượng” cùng với hai bài thơ khác là “Ác mộng” và “Hương trinh bạch”. Người con gái trong hai bài thơ này cũng giống như “Kỳ nữ”, đều là đại diện cho lý tưởng của nhà thơ, cho sự ngưỡng vọng và khao khát đối với tự nhiên, với cảm giác hung bạo của bản năng.

Trong bài viết “Thơ Đinh Hùng: Hai thế giới” của nhà phê bình văn học Nhị Linh (Cao Việt Dũng) (3), yếu tố “man rợ” của tự nhiên trong thơ Đinh Hùng bị gạt bỏ và người đọc được thuyết phục rằng mấu chốt của thơ Đinh Hùng chính là yếu tố “mị”. Nhị Linh đã liệt kê một loạt các bằng chứng để thuyết phục người đọc rằng thơ Đinh Hùng có màu sắc ma mị, trong đó có bằng chứng về lời nhận định của những người bạn thân với Đinh Hùng. Đây là một cách nhìn hết sức sai lầm. Sai lầm này đến từ việc nhà phê bình không hiểu về tự nhiên, cũng không hiểu về ma mị. Tự nhiên trong tâm thức thần thoại luôn được gắn với các linh hồn lớn mà chúng ta vẫn gọi là “thần”. Con người thời cổ không thể lý giải được tự nhiên nên họ kính sợ, gán cho các hiện tượng ấy những thần tính. Các thần tính này dựa trên một sự chắt lọc về nhân cách hoàn hảo mà một bộ tộc tôn sùng. Như vậy, một vị thần tự nhiên được kết hợp bởi sức mạnh bí hiểm của tự nhiên và nhân cách hoàn hảo đại diện cho bộ tộc, để rồi toàn bộ tộc chịu sự chi phối của vị thần. Con người trong nhiều nghìn năm lịch sử, vừa kính sợ lại vừa ghét bỏ và đồng thời cũng ước ao đạt tới thế giới của các vị thần. Nhưng nực cười ở chỗ, con người có thể kính sợ hoặc ghét bỏ ngoại trừ việc đạt đến. Và thế là họ chuyển sang kế hoạch hạ bệ các vị thần hết lần này đến lần khác, bằng nhiều cách khác nhau. Các vị thần lùi vào bóng đêm, trở thành những bóng ma lẩn khuất và vẫn gắn liền với tự nhiên nhưng ở quy mô nhỏ hơn. Trong văn hóa dân gian Á Đông, hồ ly tinh là một hình mẫu như vậy. Hồ ly tinh vốn là một vị thần cổ và dần dần bị biến thành yêu ma, quỷ quái trong các truyện truyền kỳ dưới con mắt của Nho giáo – một hệ tư tưởng bài trừ các vị thần. Người ta thích đọc các câu truyện Liêu Trai với các mối tình giữa người thường với hồ ly, hồn ma, tinh hoa, tinh bướm…v…v… bởi người ta bị kích thích do sự say đắm hoan lạc khi cảm giác sự chạm đến tự nhiên bí ẩn, kể cả trong tưởng tượng.  Đời sống của cộng đồng người với thứ “hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng” (4) không đáp ứng được lòng ham muốn không đáy của con người, bởi thứ con người thực sự đói khát là được trở về với xuất xứ của mình, với bản tính tự nhiên. Con người tôn sùng các vị thần tự nhiên hay mơ mộng được làm tình với hồ ly tinh thì cũng đều là một sự đói khát tự nhiên – phẩm chất đã mất đi trong dòng lịch sử. Đó là nỗi ám ảnh của Đinh Hùng, là cảm hứng chi phối chủ đạo trong “Mê hồn ca”. Gán thơ Đinh Hùng với yếu tố mị, Nhị Linh đã hạ thấp tầm cỡ của Đinh Hùng xuống một thứ tầm thường như những truyện ma thịnh hành từ quãng những năm 30s, 40s đến 60s của thế kỷ 20. Không nhà thơ nào sống một đời đắm đuối với thơ ca lại đi viết những bài thơ để biểu hiện sự ma mị chẳng khác nào “Liêu Trai chí dị”. Có lẽ, Nhị Linh đã quá thích thú với các tư liệu ngoài lề mà mình tìm được mà quên mất rằng điều quan trọng nhất để hiểu con người thơ của một nhà thơ là qua văn bản chứ không phải qua các mẩu chuyện đời. Những mẩu chuyện đời chỉ là một sự bổ trợ để lý giải các mã ngôn từ trong văn bản mang tính chất đời sống cá nhân của tác giả.

Cũng trong bài viết của mình, Nhị Linh phản đối việc sử dụng “Bài ca man rợ” như một chìa khóa quan trọng để giải mã tập thơ kỳ dị “Mê hồn ca”. “Bài ca man rợ” quả thực không phải là chìa khóa quan trọng, nhưng “Bài ca man rợ” đóng vai trò như một tuyên ngôn của Đinh Hùng. Bài thơ nằm trong phần “Nguyên thủy”, mở đầu tập “Mê hồn ca”. Sự sắp xếp này của Đinh Hùng chẳng phải rất rõ ràng sao? “Nguyên thủy” là một thời kỳ mà con người sống trong tâm thức thần thoại, khi vẫn còn rất gần với tự nhiên. Phần “Nguyên thủy” có 5 bài là “Bài ca man rợ”, “Những hướng sao rơi”, “Người gái thiên nhiên”, “Hoa sử”, “Trời ảo diệu”. Cả 5 bài thơ này dù được viết với các phong cách khác nhau nhưng tràn ngập các biểu tượng liên quan đến tự nhiên:

“Bóng ta đi trùm khắp lối hoang sơ

Và chân bước nghe chuyển rung đồi suối

Lá cỏ sắc vương đầy trên tóc rối

Ta khoác vai manh áo đẫm hương rừng

Rồi ta đi, khí núi bốc trên lưng

Mắt hung ác và hình dung cổ quái”

(“Bài ca man rợ”)

Khi miếu đường kia phá bỏ rồi

ta đi tìm những hướng sao rơi

lạc loài theo dấu chân cầm thú

từng vệt dương sa mọc khắc người

(“Những hướng sao rơi”)

chúng tôi gặp nhau bên dòng suối ngọt

làm đôi người cô độc thuở sơ khai:

nàng bâng khuâng đốt lửa những đêm dài

ta từng buổi bơ vơ tìm bộ lạc

nàng là Gái-Muôn-Đời không đổi khác:

bộ ngực tròn nuôi cuộc sống đương xuân

ta đến đây làm chủ hội phong trần

lấy hoa lá kết nên Tình Thái Cổ

rừng buổi đó vang tiếng cười man rợ

quả tơ duyên đỏ thắm sắc trên cành

chúng ta đi, lặng ngắm núi đồi xanh

bước trên cỏ để ngàn sau in dấu

(“Người gái thiên nhiên”)

xưa mạch đất dấu nghìn xuân vũ trụ

ta lãng du, chợt gặp cỏ hoa tình

mừng phong cảnh bốn mùa về hội ngộ

em gọi tên hồn non nước sơ sinh

(“Hoa sử”)

“Hỡi non thẳm! trước thời gian xao động

Đá bâng khuâng, màu thạch nhũ phai mờ

Mấy xuân thu ngươi đứng nhìn sao rụng?

Ta tìm trên tuyết dấu Người Xưa”

(“Trời ảo diệu”)

Người hoang dã, mong muốn trở về với cầm thú, sự xao động trước tự nhiên, nỗi nhớ “người xưa” hay người cùng bộ lạc từ thuở xa xôi… tất cả đều là một sự tiếc nhớ bản chất tự nhiên. Những điều ấy được phát biểu rõ nét trong “Bài ca man rợ”. “Bài ca man rợ” nói về một người “thiên nhiên” về với đô thị. Người thiên nhiên này mang dáng vẻ của rừng núi hoang sơ khiến “cả cõi đời kinh hãi”. Người rừng đứng trước đô thành với ánh mắt ngơ ngác:

“Ta ngẩn ngơ nhìn theo bóng ngựa xe

Nhìn theo mãi đến khi đời lánh cả

Và ta thấy hiện nguyên lòng sơn dã:

Cảnh sắc này bỗng nhuộm máu tà dương

Ta xót thương, ta căm giận, hung cuồng

Ta gầm thét, rung mấy trời thế sự”

Đó là sự “xót thương”, “căm giận”, “hung cuồng” khi chứng kiến đời sống đô thị giả dối, yếu đuối và nhàm chán với những “xiêm áo”, với “trán phẳng”. Trong cơn giận dữ ấy, người rừng – thi sĩ đã hét lên vừa như muốn kêu gọi đồng loại, vừa như muốn chối bỏ đồng loại:

“Ôi ngơ ngác một lũ người vong bản

Mất tinh thần từ những thuở xa xôi!

Ta về đây lạ hết các ngươi rồi

Lạ tình cảm, lạ đời chung, cách sống”

Và:

“Lạc thiên nhiên đến cả bọn đàn bà”

Sự tuyệt vọng đã khiến người rừng – thi sĩ ra tay tàn phá toàn bộ đô thành, để rồi quay trở lại với núi rừng dưới ánh hoàng hôn đỏ máu. Sự tàn phá này không phải sự phá hoại, đây là một sự tàn phá bằng tinh thần để chống lại các quy ước giả dối của con người. Đây là không khí thơ ta thấy được ở các nhà thơ thời kỳ Lãng mạn như Tennyson, Thoreau hay Wiliam Wordsworth. Những nhà thơ lãng mạn này chứng kiến cuộc Cách mạng Công nghiệp diễn ra ở Châu Âu với sự tàn phá cảnh quan và bản tính con người, cũng đã không ít lần giận dữ và họ chọn quay về với tự nhiên theo những cách rất khác nhau. Mặc dù các nhà phê bình thường so sánh thơ Đinh Hùng với thơ tượng trưng Pháp nhưng tôi lại thấy Đinh Hùng gần với các nhà thơ lãng mạn Anh – Mỹ hơn. Các nhà thơ lãng mạn Anh – Mỹ không đắm đuối theo ái tình mà có thiên hướng gần gũi với tự nhiên, với những điều huyền bí, bởi thế trong thơ lãng mạn Anh – Mỹ có rất nhiều yếu tố tượng trưng và siêu thực. Tôi không rõ Đinh Hùng có chịu ảnh hưởng của các tác giả ấy hay không, sự so sánh này đơn thuần là chỉ ra sự tương đồng. Bởi thế, giữa một nền thi ca mang màu sắc của lãng mạn Pháp, Đinh Hùng là một sự lạc điệu với không khí lãng mạn của Anh. Hoài Thanh không cảm được, nhiều người sau này không cảm được ông âu cũng là dễ hiểu. Cho đến nay, văn chương Anh – Mỹ vẫn là một thế giới xa vời với đại đa số người đọc Việt Nam, hay nói một cách khác, thơ Việt Nam vẫn chưa thoát được cái bóng của thơ Pháp, và bất cứ ai có một giọng điệu khác với loại thơ mẫu quốc ấy thì khó có thể được nhiều người yêu thích.

Bóng ma chiếm một phần trong tập thơ với hai phần “Chiêu niệm” và “Mê hồn” cùng với bài trường thi “Thần tụng”. Trong bài viết “Đinh Hùng, người kiến trúc chiêm bao”, nhà phê bình Đỗ Lai Thúy cho rằng biểu tượng mạnh mẽ nhất của Đinh Hùng là cái chết với “mặt trời máu”, với “nấm mồ”, “tử thần”, “hồn ma”… (5) Quả nhiên, trong hai phần “Chiêu niệm”, “Mê hồn” và cả bài trường thi “Thần tụng” cũng tràn ngập không khí của cõi chết. Nhưng cái chết trong thơ Đinh Hùng không phải sự tàn lụi và đau thương. Cái chết trong thơ Đinh Hùng rạo rực xuân tình, đầy sức sống:

“Cười lên em!

Khóc lên em!

Đâu trăng tình sử

Nép áo trần duyên?

Gót sen tố nữ

Xôn xao đêm huyền

Ta đi, lạc xứ thần tiên

Hồn trùng dương hiện bóng thuyền U Minh

 

Ta gởi bài thơ anh linh

Hỏi người trong mộ có rùng mình?

Nắm xương khô lạnh còn ân ái?

Bộ ngực bi thương vẫn rợn tình?”

(“Gửi người dưới mộ”)

Các nhà phê bình đều cho rằng cái chết của Liên, người yêu Đinh Hùng đã gây ra nỗi ám ảnh này với ông. Nhưng cái chết của người yêu chỉ là cái cớ bên ngoài, lựa chọn thói quen “đem phòng làm cổ mộ” hay “đọc thơ gọi hồn” lại đến từ sâu kín tinh thần của Đinh Hùng. Đâu phải người nào chứng kiến cái chết của người yêu cũng sẽ có những ám ảnh như ông. Thế nên, lấy cái chết của một cô gái hiện hữu để lý giải cho nỗi khao khát “kỳ nữ” hay “người gái thiên nhiên” của Đinh Hùng là sự khiên cưỡng, thậm chí để lý giải cho bóng ma trong thơ ông cũng là cái nhìn trần tục.

Chúng ta hãy quay trở lại với nỗi khao khát tự nhiên của ông. Con người khao khát tự nhiên bởi trong tự nhiên, phần tinh thần của con người được hiển diện. Đô thị, một thứ cộng đồng người tách xa tự nhiên, khiến phần tinh thần này bị suy thoái. Thoreau đã viết thế này trong những ngày một mình sống trong rừng: “Tôi đã tìm thấy trong bản thân tôi, và vẫn còn tìm, cái thiên hướng về một đời sống cao cả hơn, hay như cái tên của nó, đời sống tâm linh, như phần lớn người ta, và mặt khác, hướng về cái đời sống nguyên thủy và dã man, và tôi tôn kính cả hai. Tôi yêu cái hoang dã nguyên sơ không kém cái thiện”. (6) Trong bài thơ “Khi mới nhớn”, Đinh Hùng đã cho ta biết về một cậu bé từ bỏ sách vở để trò chuyện với cỏ cây. Đinh Hùng cũng giống như Thoreau, đã sớm tìm về với tự nhiên. “Trò chuyện” chỉ là một cách nói khác của sự giao hòa về mặt tinh thần. Khi lớn lên, ông trò chuyện với “bóng ma”. Người thường không nhìn thấy thậm chí không cảm thấy sự hiện diện của “bóng ma”. Nhưng một người có thể nói chuyện với cây cỏ trong suốt những giờ trốn học đương nhiên có thể thực hiện một cuộc ái ân với “bóng ma”, có thể gửi tới địa ngục những “bài thơ anh linh” để gọi hồn ma quay lại. Những bài thơ trong phần “Chiêu niệm” khiến cho ta hoang mang không rõ Đinh Hùng đã đưa bóng ma từ cõi ảo đến với cõi thực hay từ cõi thực xông vào cõi ảo để được gặp mặt bóng ma. Ranh giới rất khó để phân định và cũng không thể vội vã kết luận ngay rằng Đinh Hùng viết về bóng ma ở trạng thái nửa thực nửa ảo, bởi vì đôi lúc Đinh Hùng như thể đã từ bỏ cõi thực để đi vào cõi ảo:

“từ đây châu thổ không người

ta muốn xa chơi

những đường viễn xứ

ta khóc, ta cười

cho nguyệt cầu rơi

ta gọi hồn trời

trong hang cầm thú

than ôi, than ôi!

lòng ta man rợ

không còn xót thương

chết đi ta phá Thiên đường

kinh động trái tim Thần nữ”

(“Màu sương linh giác”)

“nghìn năm chưa thoát cơn mê hoảng

ta thác sinh vào ngọn hải đăng

hỏi bao hòn đảo vừa ly tán

trần tục là đâu? hỡi đất bằng!”

(“Thoát duyên trần cấu”)

Vậy là thói quen tinh thần khi đắm chìm với tự nhiên đã đưa Đinh Hùng đến với ám ảnh về cái chết, về bóng ma. Trong đời sống tôn giáo tâm linh, trải nghiệm cận tử là quan trọng nhất của các bậc thầy và đời sống sau khi chết chính là đời sống thực của linh hồn. Trải nghiệm cận tử đưa linh hồn con người thoát khỏi thể xác và khám phá thế giới cõi âm. Điều này được ghi lại trong các thư tịch của Tây Tạng, Ai Cập, Trung Quốc và một vài trường hợp cận tử được ghi lại bởi báo chí phương Tây. Trong trạng thái cận tử, con người tiếp xúc với thế giới âm, gặp gỡ những linh hồn. Thỉnh thoảng, trong trạng thái mơ màng, con người bị rơi vào trải nghiệm cận tử và thấy những linh hồn lạ hoặc những linh hồn người quen trong quá khứ. Krishnamurti, một bậc thầy tâm linh đương đại nổi tiếng được sự kính ngưỡng của cả giới tôn giáo và giới khoa học thế kỷ 20, cũng đã thường xuyên có trải nghiệm này. Trong những biến đổi mãnh liệt nhất về tâm linh, khi ở giữa ý thức và vô ý thức, ông nhìn thấy bóng ma người mẹ quá cố của mình cùng với nhiều linh hồn của các bậc chứng ngộ khác.(7) Ở trường hợp Đinh Hùng, nhà thơ luôn tìm đến trải nghiệm cận tử trong thời trai trẻ của mình, không phải bằng thiền hay các biện pháp tâm linh, mà là ma túy. Bởi thế, trong thơ ông cũng như thơ của người bạn thân Vũ Hoàng Chương của ông, mỗi khi có trải nghiệm cận tử lại thoảng màu sương khói, mây mù:

“Từng đêm tôi nguyện, tôi cầu

Đấy màu hương khói là màu mắt xưa”

(“Gửi người dưới mộ”)

này Biển Giác: mây trời nghiêng nét mặt

cây Từ Bi hiện đóa Ác Hoa đầu

(“Tìm bóng tử thần”)

ta hằng nghe rõ

tiếng buồn trong sương

hằng thấy trên tường

hình ma bóng nhớ

chỗ em ngồi cũ

lên màu khói hương

(“Màu sương linh giác”)

qua xứ ma sầu, ta mất trí

thiêu đi tập sách vẽ hoa nguyền

trời ơi! trời ơi! làn tử khí

lạc lõng hương thầm đoá Bạch Liên

(“Cầu hồn”)

Và chính Đinh Hùng cũng thừa nhận đó là một trạng thái mộng mị, tức là cõi ảo dưới con mắt người thường, có điều trong cõi ảo ấy, tất cả đều rất thật, rất đắm say, tới mức muốn vứt bỏ cả xác trần:

“đôi ta vào hội oan hồn

âm dương tái hợp –

ồ! đây là cuộc tân hôn dị kỳ

nguyệt hoa mặc áo huyền vi

màu nghê thường đó – trời ơi! xiêm y biến hình

tôi van lơn bầy nhạc nữ đồng trinh

đừng cao giọng hát – hồn các em lạc tinh anh bốn trời!

đừng cho thể chất phục hồi

đừng cho tôi khóc, tôi cười vì điên!”

(“Cầu hồn”)

Người tình đã khuất của Đinh Hùng chỉ đóng vai trò như một bóng ma hiện về trong trải nghiệm cận tử của ông. Nếu ta cho rằng cái chết của người con gái ấy đã ám ảnh toàn bộ “Mê hồn ca” thì ta sẽ giải thích như thế nào về những biểu tượng thơ không vướng chút màu sắc ái tình hiện hữu trong thơ Đinh Hùng? Một sự tưởng tượng biến thể từ nỗi nhớ nhung ư? Nếu chỉ đơn giản vậy, Đinh Hùng đâu cần phải làm một chuyến hành trình vào cõi chết để tìm người yêu như chàng Orpheus? Orpheus vào được cõi chết và thuyết phục được thần Hades bởi vì anh ta có một nửa dòng máu thần thánh, tức là một nửa thuộc về cõi âm, thuộc về thế giới kỳ vĩ của tự nhiên. Chi tiết Orpheus xuống âm phủ chỉ là một yếu tố bẩm sinh mà vị bán thần này sở hữu.

Đến phần “Mê hồn”, những bóng ma không còn phảng phất hình bóng của người con gái đã khuất ấy nữa. Những bóng ma ấy đến từ quá khứ nghìn xưa, từ một dĩ vãng xa xôi nào đó. Giống như nhiều nghệ sĩ phương Đông khác, Đinh Hùng có vẻ tin vào thuyết luân hồi. Giống với Huy Cận trong “Lửa thiêng”, ông cảm nhận sâu sắc được cái gọi là “thiên cổ sầu” (8). Nhưng “Thiên cổ sầu” trong thơ Đinh Hùng lại có một màu sắc mãnh liệt hơn với sự dấn thân trải nghiệm táo bạo. Phản ánh trải nghiệm ấy thoang thoảng trong bài thơ “Sông núi giao thần” với tư cách của một người ngoài cuộc chứng kiến:

“hưng vong Vạn Lý thành sầu

trăng ơi! đừng bỏ mái lầu nhân gian

ta chờ thiên địa giao hoan

nhập thần cây cỏ muôn vàn kiếp sau”

rồi dấn sâu hơn trong “Lạc hồn ca” nhưng vẫn chưa dứt duyên nợ với cõi trần:

“hãy thoát thân đi, đuổi bắt hình

hồn ơi, đừng lạc xứ U Minh

ai tìm ta đó trong đêm loạn

có gặp thơ về, nhạc hiển linh?

ta gọi thiên tai, cười mệnh số

đây lời hoan lạc viết nên kinh

đời anh hoa trước nghe thần mộng

còn giữ nguyên trang sách diễm tình”

và cuối cùng hoàn toàn đắm đuối trong bài thơ “Mê hồn ca”. “Mê hồn ca” là bài thơ được lấy tên để đặt cho cả tập thơ. Bởi vậy, có thể xem như “Mê hồn ca” là đích đến của một giai đoạn thơ, của một cuộc thử nghiệm cảm giác cận tử ở Đinh Hùng. Càng đi sâu vào cõi ảo, cõi huyền diệu hay cõi giới tinh thần, thi sĩ càng gặp những bóng ma cổ xưa với những khung cảnh cổ xưa:

“ta lạc hồn giữa lâu đài kỳ dị

suốt muôn đời không hiểu dẫy hành lang

dưới hiên tây từng thế kỷ điêu tàn

gạch ngói cũ nghe hoa thềm rụng cánh

ngày tê tái đợi luân hồi về cạnh

giữa ân tình đứng lặng tượng giai nhân

dáng thiên thu khêu gợi một đêm Tần

lạc âm cung ngẩn ngơ hồn lệ quỷ

ta nằm trong di tích cuộc tang thương

khóc thâu đêm cho thấy lại thiên đường

thuở hưng phục – ôi! cõi lòng hoang phế!

hồn hỡi hồn! xưa chết chìm dưới bể

hãy vùng lên, cười một tiếng bi ai

máu ta say không chảy thoát hình hài

hằng kinh động chốn ăn nằm vĩnh viễn”

Những bóng ma hay những ảo ảnh cổ xưa ấy chính là quá khứ xa xôi từ tiền kiếp. Tiền kiếp hiện lên sống động, tràn ngập cảm xúc bi tráng:

“chiều mù sương lẫn trong tiền kiếp lạ

mỗi năm tàn ước vọng một bông hoa

Diệu Hương em!

trăng xuân rụng, nguyệt thu già

đây thể chất lạc loài đi nức nở

ôi hư vô! đừng gọi lòng ta nữa

ta phá tan hư ảnh, lại điên cuồng

mộng hoàng vương đâu? hỡi mộng hoàng vương!

đêm phản trắc đầy chiêm bao lưu huyết

ta đang nghe Thành Lạc Hồn kiến thiết”

Nhưng Đinh Hùng không chấp nhận là một kẻ chứng kiến tiền kiếp. Ông lao vào tiền kiếp bằng chính phần tinh thần trong kiếp sống của ông, để một lần nữa được sống lại quãng đời huy hoàng ấy, để gợi nhắc lại phần hồn rực rỡ đã mất đi bởi cõi đời chật hẹp của những năm đầu thế kỷ 20. Và lần này ông lại “chiêu hồn”, nhưng không phải chiêu hồn người con gái đã khuất mà là đánh thức con người kỳ vĩ trong bản thân ông và có lẽ cả những “phế vương” tình cờ đọc thơ ông:

“buổi chiều đến, sầu lên Kim Tự Tháp

bóng ta đi hoài cảm góc trời này

từ cố đô, hồn lạc xứ về đây

bao hài cốt nổi trôi bờ biển khác

thủy triều xuống, hiện lên toà Vân Các

chúng ta cùng sống lại – Phế Vương ôi!”

Lời “chiêu hồn” hay sự đánh thức những linh hồn kỳ vĩ này được nhắc lại trong bài thơ “Thần tụng”. Những người không hiểu, đọc bài “Thần tụng” hẳn sẽ thấy vừa rợn rợn vừa điên rồ. Nhưng nếu nhận thức được trải nghiệm tiền kiếp của Đinh Hùng, người đọc sẽ không còn thấy sợ nữa mà chỉ thấy bi thương cho một “phế vương” đơn độc giữa thời đại của những con người “vong bản”:

“hồn nhốt trí phù sinh vào hũ

hồn khép tay thế sự trong vò

gào to một tiếng: ô hô!

của ai này những cơ đồ không tên!

hồn hỡi hồn!

có hồn đây đảo điên vũ trụ

có hồn đây nghiêng ngửa giang san

vắng hồn lạnh lẽo nhân gian

say đâu nước biển, suối ngàn mà say”

Đương nhiên, lời đánh thức các linh hồn kỳ vĩ này khó lọt tai người thường, nhất là ở những năm đầu của thế kỷ 20 tại Việt Nam. Từ sau Cách mạng tư sản Pháp 1789, thế giới chứng kiến sự đi xuống của giới quý tộc hoàng gia cả ở phương Đông và phương Tây, thay vào đó là các cuộc Cách mạng công nghiệp, Cách mạng nhân quyền, Cách mạng của người vô sản. Trong một xã hội bình đẳng kiểu cào bằng với sự phổ cập hóa của mọi giá trị, những linh hồn kỳ vĩ với sự xuất chúng mà Đinh Hùng gọi là “Phế vương” (trong “Mê hồn ca”), hay “tài hoa”, “mấy lòng vương giả bơ vơ”, “tinh anh”, “đãng tử”… (trong “Thần tụng”) trở thành những linh hồn tội lỗi, những kẻ thất thế, thành người rừng “man rợ”… Và nhà thơ trở thành một kẻ hoang tưởng, cần phải bị lãng quên, bị phê phán, bị vứt bỏ. Nhưng những linh hồn kỳ vĩ ấy lại chính là trọn vẹn của linh hồn, một ẩn dụ tượng trưng cho những nét đẹp ban sơ nhất của tinh thần, cho sự nguyên vẹn tròn đầy của siêu thức. Như đã nói ở trên, Đinh Hùng viết thơ với tâm thức thần thoại, nên ông cho rằng sự toàn thiện của linh hồn gắn với hình ảnh vị vua. Ở thời bộ lạc, vị vua hay tộc trưởng đóng vai trò như người liên lạc với thế giới các vị thần. Trong thần thoại Hy Lạp, vua của một thành bang thường có dòng máu thần thánh, họ là những vị bán thần vượt trội hơn người trần đoản mệnh. Quan điểm của Nho giáo cũng cho rằng vua là “thiên tử, gánh vác sứ mệnh của các vị thần để cai trị con dân. Ở Ấn Độ có bộ môn Raja Yoga chuyên luyện tập tâm thức, trong đó “Raja” có nghĩa là “hoàng gia”, với ngụ ý rằng: người sống bằng ý thức linh hồn chính là vị vua của chính mình. Bởi thế, biểu tượng vị vua xuất hiện nhiều lần trong thơ Đinh Hùng chính là thể hiện cho phần tinh thần mà những con người “vong bản” đã vứt bỏ trong cuộc sinh tồn.

Tập thơ “Mê hồn ca” ra đời vào năm 1954, trước hiệp định Geneva. Lúc này, chẳng mấy ai còn quan tâm đến thơ ca nữa và cũng chẳng mấy ai có nhu cầu trải nghiệm tinh thần nữa. Thế giới lúc này vẫn đang trong cơn tao loạn triền miên và tiếp tục chuỗi tan vỡ kéo dài từ cuối thế kỷ 18. Những cảm nhận về thời đại dù không được nói rõ nhưng luôn hiện diện trong tập thơ của ông:

“ngủ một giấc đời nhuộm màu kim cổ

ta mỉm cười nên thế sự suy vong

mau vùng lên giữ lại Thái Dương hồng

trời lâm nạn, thôi! hành tinh tan vỡ!

hồn lệ sầu rơi!

đâu những vùng trời

không làm thương nhớ?

ta dẫn lối về đây đoàn ca vũ

tự bốn mùa địa ngục vắng âm thanh

chúng ta khóc như một bầy thú dữ

lòng dã man nghe trái đất tan tành”

(“Mê hồn ca”)

chiều Thăng Long sầu xuống bâng khuâng, cửa Đế Thánh bỏ ngỏ, hằng gợi khí đời lạnh sương bay

hồn Do Thái gió lên bát ngát, niềm tâm ý đi xa, luống ngại lúc trời thanh sao mọc

nhân thế bỏ hoài nhân thế; ồ! bao phen dâu bể ngậm ngùi giấc mộng Châu Dương, ai đến đó xin bày riêng Ngự Uyển, còn khi liễu ủ đào phai

hồng nhan để mặc hồng nhan; ôi! những trận cuồng phong tan tác cành hoa Thục Nữ, ta về đây thử đốt hết A Phòng, này lúc thành say lửa bốc

(“Thần tụng”)

“ta say ánh lửa tinh cầu

dựng lên địa chấn, loạn mầu huyền không

trận cười tan hợp núi sông

cơn mê kỳ thú lạ lùng cỏ hoa

hý trường đổi lớp phong ba

mượn tay nguỵ tạo xoá nhoà biển dâu”

(Sông núi giao thần”)

Qua những câu thơ ấy, không phải Đinh Hùng không hiểu về thời thế, không phải không biết về các biến chuyển của thời đại. Nhưng ông không xuôi theo thời đại ấy, ông không viết các bài thơ Cách mạng, không lao vào các cuộc thử nghiệm thủ pháp thơ ca, ông dường như coi thơ là một sứ mệnh, một phương thức để giao tiếp với thế giới bên kia, một phép màu để đánh thức những con người “vong bản” quay trở về với trạng thái toàn thiện ban sơ của mình, một “thị phạm ma thuật” để đánh thức những giá trị tinh thần kỳ vĩ hồi sinh trong thế giới con người.

Tôi không đọc Đinh Hùng bằng con mắt của nhà phê bình hay nghiên cứu văn chương, e rằng ông không kỳ vọng điều ấy ở độc giả. Tôi đọc Đinh Hùng qua những trải nghiệm tinh thần của mình và tôi nhận thấy những sự tương đồng trong các ám ảnh của tôi và con người thơ của ông trong “Mê hồn ca”. Bởi thế, tôi không có nhu cầu mổ xẻ các thủ pháp nghệ thuật trong thơ ông, bởi điều ấy là không cần thiết nếu ta thực sự vứt bỏ cõi thực để bước vào thế giới thơ hư ảo của ông. Vì vậy, nếu tôi viết về thơ Đinh Hùng bằng những nguyên tắc của phê bình hay nghiên cứu thì tôi đã phản bội lại chính mình, tôi đẩy bản thân mình vào tình trạng “vong bản”. Một khi bạn đã chấp nhận “vong bản” một lần, bạn sẽ trượt dài trong chuỗi “vong bản” của đời mình. Thế nên, tôi đã quyết định viết về Đinh Hùng theo cái nhìn của cá nhân tôi, dù rằng nó có thể khiến người khác nhìn về tôi như một kẻ hoang tưởng. Nhưng, một khi đã bước vào cõi hư ảo, dù theo cách này hay cách khác, tức là đã từng trải nghiệm đời sống linh hồn, thì khó có thể nhìn vạn sự bằng nhãn quan của thế giới hữu hình.

“Mê hồn ca” trên hệ thống tuyển chọn sách Hang Cáo: https://www.hangcao.info/san-pham/me-hon-ca/

Chú thích:

(1) Đặng Tiến viết “Thi giới Đinh Hùng” sau khi Đinh Hùng qua đời. Ông không chỉ viết về “Mê hồn ca” mà viết về rất nhiều bài thơ khác của Đinh Hùng. Nhị Linh cho rằng Đặng Tiến là “người được chọn” để viết về Đinh Hùng bởi vì ông không gói gọn thi giới của Đinh Hùng trong “Mê hồn ca”. Nhưng “Mê hồn ca” lại là những bài thơ tinh túy nhất của Đinh Hùng, nên theo tôi, nếu không thể giải mã kỹ lưỡng “Mê hồn ca” thì cũng không thể hiểu được những bài thơ khác của ông. https://bookhunterclub.com/thi-gioi-dinh-hung/

(2) Trích “Đoạn trường tân thanh” của Nguyễn Du.

(3) Bài viết “Thơ Đinh Hùng: hai thế giới” của Nhị Linh khẳng định rằng thơ Đinh Hùng “quyến rũ theo lối mị” và bàn nhiều về nỗi sợ của người khác đối với thơ Đinh Hùng. Bài viết có rất nhiều tư liệu hay nhưng việc sử dụng chúng để giải mã thơ Đinh Hùng không giúp chúng ta cảm và hiểu thơ ông tốt hơn. https://nhilinhblog.blogspot.com/2015/03/tho-dinh-hung-hai-the-gioi.html

(4) Trích bài thơ “Nhớ rừng” của Thế Lữ.

(5) Bài viết “Đinh Hùng người kiến trúc chiêm bao” của Đỗ Lai Thúy trong tập tiểu luận “Mắt thơ – Phê bình phong cách Thơ Mới” tập trung vào giải mã các biểu tượng thơ của Đinh Hùng mà lý giải thơ ông như những nhà thơ khác thuộc trường phái tượng trưng.

(6) Trích “Walden – Một mình sống trong rừng” của Henry David Thoreau. Bản dịch của Tiết Hùng Thái.

(7) “Krishnamurti tinh yếu” do Nguyễn Ước biên soạn.

(8) Cụm từ “thiên cổ sầu” được sử dụng trong bài “Ê chề” của Huy Cận: “Một chiếc linh hồn ngọc/Mang mang thiên cổ sầu”.

Tự do học thuật và tự do trí tuệ

blogpost thumb

Cơ chế dân chủ là một cơ chế mở, không chỉ đảm bảo quyền lợi của người dân mà còn tạo ra cơ hội để những người tài năng dễ dàng hơn trong việc thể hiện và đóng góp cho xã hội. Tuy nhiên, đó chỉ là lý thuyết. Cơ chế dân chủ với tình trạng dân trí thấp và trong đó, những quyền hạn về tự do học thuật và tự do trí tuệ bị ngăn cản thì đó chỉ là dân chủ giả hiệu. Quyền tự do ngôn luận, tự do biểu hiện sẽ trở nên vô nghĩa khi người dân không được tiếp cận tri thức và những chuyên gia không được đưa ra tiếng nói khách quan mang tính khoa học để góp ý cho các vấn đề của xã hội. Cho đến nay, vấn đề Tự do học thuật (Academic Freedom) và Tự do trí tuệ (Intellectual Freedom) chỉ mới được đưa ra ở dạng khái niệm và chưa được quan tâm đúng mức trên toàn thế giới.

Tự do học thuật (Academic Freedom) là một khái niệm gây nhiều hiểu lầm ở Việt Nam. Chúng ta thường dễ đánh đồng quyền tự do này với tự do biểu hiện. Từ điển Britannica cho biết: “Tự do học thuật là quyền của giảng viên và học viên được tự do giảng dạy, nghiên cứu và đeo đuổi kiến thức mà không  có sự can thiệp bất hợp lý hoặc các hạn chế từ luật, quy định về thể chế, hay áp lực từ công chúng. Các yếu tố cơ bản của nó bao gồm  quyền tự do của giảng viên để tìm hiểu bất cứ chủ đề nào liên quan đến tri thức, trình bày các phát hiện của mình cho sinh viên và đồng nghiệp, công bố các dữ liệu và kết luận của họ mà không bị kiểm soát hay kiểm duyệt, giảng dạy theo cách mà họ cho là phù hợp với nghiệp vụ. Đối với sinh viên, các yếu tố cơ bản gồm: quyền tự do chọn học các môn học, đưa ra kết luận và thể hiện ý kiến của mình”. (1)

Như vậy quyền Tự do học thuật có phạm vi trong trường học và gắn liền mật thiết đến hệ thống giáo dục, đặc biệt là ở cấp bậc đại học. Qủa vậy, nền tảng của Tự do học thuật được xây dựng từ các trường đại học của Châu Âu thời Trung cổ. Từ thời này, các trường đại học với sự bảo trợ của hoàng gia đã tự lập nên một hệ thống tự trị với quyền tự quyết trong việc thành lập khoa. Cho đến thế kỷ 18, nhà thờ Công giáo La Mã và ở một số khu vực, những người theo đạo Tin Lành đã tìm cách kiểm duyệt các trường đại học. Các trường đại học mất dần vị thế tự trị và các giáo sư phải chịu sự quản lý của chính phủ. Mâu thuẫn này kéo dài cho đến nay. Mặc dù vậy một điều thú vị khi bạn theo dõi các phiên họp hay điều trần liên quan đến Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc, Tự do học thuật vẫn không hề được đề cập đến.

Một khái niệm khác rất dễ nhầm lẫn với Tự do học thuật là Tự do trí tuệ (Intellectual Freedom). Tự do trí tuệ bao gồm quyền tự do nắm giữ, tiếp nhận và phổ biến các ý tưởng mà không hề bị hạn chế. Nói một cách khác, quyền tự do trí tuệ bảo vệ quyền của một cá nhân trong việc tiếp cận thông tin, khám phá, xem xét và thể hiện ý tưởng. Như vậy, tự do trí tuệ chính là nền tảng cho tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin và quyền riêng tư.

Tự do trí tuệ bao gồm quyền tự do nắm giữ, tiếp nhận và phổ biến các ý tưởng mà không bị hạn chế. Được xem như một thành tố không thể tách rời của một xã hội dân chủ, quyền tự do trí tuệ bảo vệ quyền của một cá nhân trong việc tiếp cận, khám phá, xem xét, và thể hiện ý tưởng và thông tin làm cơ sở cho một công dân tự quản và thông tin đầy đủ. Tự do trí tuệ bao gồm nền tảng cho tự do ngôn luận, nói tiếng và báo chí và liên quan đến quyền tự do thông tin và sự riêng tư. (2) Trong thời đại Internet hiện nay, Tự do trí tuệ đã được mở rộng hơn và sự kiểm duyệt bị hạn chế dần, thế nhưng tự do trí tuệ vẫn gặp phải các rào cản do sự can thiệp ngầm của các tập đoàn hoặc của các quốc gia. Chính công nghệ mang đến Tự do trí tuệ nhưng cũng trở thành công cụ để hạn chế tự do trí tuệ bằng các thuật toán ngầm hoặc bằng các điều luật phức tạp trên Internet.

Nếu tự do học thuật chỉ gói gọn trong phạm vi của các trường đại học thì tự do trí tuệ có phạm vi rộng lớn hơn, những cũng vì thế mà ít người quan tâm hơn. Nếu có, họ chỉ quan tâm đến các quyền biểu hiện mà không quan tâm đến các quyền tiếp cận. Một điều hiển nhiên, nếu bạn không có quyền tiếp cận thông tin thì sự biểu hiện của bạn là vô giá trị.

Mặc dù nhiều người cho rằng quyền tự do học thuật và quyền tự do trí tuệ chỉ có thể có được trong một xã hội dân chủ, nhưng đây là cái nhìn thần thánh hóa cơ chế dân chủ. Một xã hội dù là độc tài hay quân chủ, vẫn có thể duy trì tự do học thuật và tự do trí tuệ, nếu họ muốn chính thể của họ được vận hành bởi những người có tài năng. Ngược lại, một xã hội đảm bảo quyền dân chủ của đám đông, để đám đông can thiệp vào công trình nghiên cứu hay sáng tạo của tầng lớp trí thức, có thể sẽ khiến xã hội rơi dần vào mông muội, và sớm muộn lại trở thành một xã hội toàn trị của đám đông. Như vậy, vấn đề quyền tự do học thuật và quyền tự do trí tuệ không nên chỉ được xem xét như một vấn đề nhân quyền, mà nên được xem xét như một phần của chiến lược phát triển nhân tài cho quốc gia.

Ở Việt Nam, tự do học thuật và tự do trí tuệ dường như là những khái niệm xa xỉ. Các nhà đấu tranh và vận động xã hội dù chính thống hay không chính thống đều cho rằng quyền lợi của những người dân nghèo, những người phụ nữ yếu thế quan trọng hơn quyền lợi của những người đeo đuổi con đường học tập, nghiên cứu và sáng tạo. Chính quyền cùng với quy định cứng nhắc về kiểm duyệt nội dung đã sinh ra một hệ thống trường học và thư viện không đảm bảo quyền tiếp cận thông tin đầy đủ cho cả giảng viên và học viên, đồng thời cũng luôn mong muốn định hướng và gò ép họ theo một số hướng nghiên cứu cụ thể. Tất cả dẫn đến tình trạng xập xệ của giới tri thức – những người đóng vai trò cung cấp nền tảng tri thức cho xã hội. Kết quả là, các chính sách sai lầm, các phát ngôn vô tội vạ, các biện pháp xử lý khó khăn tệ hại…v….v.. liên tiếp nối đuôi nhau do thiếu nền tảng tri thức cần thiết. Tình trạng này có lẽ sẽ càng xấu đi trong những năm sắp tới, bởi sự thiếu nền tảng tri thức lại dẫn đến sự xuống cấp trầm trọng của dân trí. Và cứ thế, Việt Nam sẽ gặp khó khăn nhiều hơn trên con đường dân chủ hóa cũng như bất cứ con đường xây dựng thể chế nào đó khác.

Có lẽ đã đến lúc, chính quyền, các trí thức, các nhà đấu tranh và vận động xã hội cần đặt lại vấn đề tự do học thuật và tự do trí tuệ một cách nghiêm túc. Bởi vì, dù dưới bất cứ thể chế nào, sự coi thường vai trò của nền tảng tri thức thường đưa xã hội đến với mông muội, lạc hậu và sụp đổ.

Hà Thủy Nguyên

(1) https://www.britannica.com/topic/academic-freedom

(2) https://www.ala.org/advocacy/intfreedom/censorship/faq

TỰ DO VÀ BÌNH ĐẲNG TRONG TIẾP CẬN TRI THỨC – VẤN ĐỀ CHỦ CHỐT ĐỂ CẢI THIỆN NỀN HỌC THUẬT

blogpost thumb

Tự do trí tuệ và Tự do học thuật là những yếu tố căn bản trong việc xây dựng một chiến lược nhân tài của quốc gia, nhưng nếu tri thức không được tiếp cận một cách tự do và bình đẳng thì những khái niệm vừa được nêu ra chỉ là những ngôn từ sáo rỗng. Trong cả tự do trí tuệ hay tự do học thuật đều bao hàm ba kiểu quyền lợi: quyền tiếp cận, quyền lựa chọn và quyền biểu đạt. Trong đó, quyền tiếp cận đóng vai trò nền tảng hơn để xây dựng một hệ thống tri thức và học thuật tự do. (Đọc thêm về Tự do học thuật và Tự do trí tuệ: https://bookhunterclub.com/tu-hoc-thuat-va-tu-tri-tue/ )

Các vấn đề của quyền tiếp cận tri thức có đôi nét khá giống với quyền tiếp cận thông tin nhưng có nhiều điểm rất khác. Sự khác nhau này mấu chốt nằm ở sự khác biệt giữa “tri thức” và “thông tin”. Thông tin là một tập hợp dữ liệu liên quan đến một thực tiễn nào đó. Thực tiễn này vì nhiều lý do có thể bị giấu kín hoặc cần được tiết lộ, tùy thuộc và quan điểm của các bên sở hữu thông tin và người dân. Nhưng tri thức thì khác, tri thức là những tập hợp kiến thức được các tác giả sáng tạo hoặc nghiên cứu nên. Vậy nên, người có quyền quyết định về tình trạng công bố tri thức chỉ có thể là chính tác giả. Việc đánh đồng “tri thức” với “thông tin” đã tạo ra một tình trạng tranh cãi nhập nhằng liên quan đến việc tri thức thuộc sở hữu của nhân loại và người dân được tự do tiếp cận hay tri thức thuộc sở hữu của một người hay nhóm người. Trong khi đó, tri thức không phải thông tin và không phải đương đầu với tình trạng gây ảnh hưởng đến các vấn đề an ninh. Ví dụ như một cuốn sách nghiên cứu về lịch sử quân sự của Mỹ sẽ không gây nguy hiểm đến an ninh quốc gia bằng việc công bố thông tin của một cơ sở quân đội Mỹ bí mật. Điều này có nghĩa là, tri thức không nên bị giới hạn trong việc tiếp cận mà cần được khuyến khích và phổ biến.

Thế nhưng, thực tế là, tiếp cận tri thức vẫn rất khó khăn dù Internet đã góp phần không nhỏ trong việc phổ biến kiến thức. Phần lớn tri thức thế giới đều nằm trong kho tư liệu của các trường đại học, các viện nghiên cứu… mà không có cơ chế mở cho phép một người bình thường được phép tiếp cận. Bạn bắt buộc phải trở thành sinh viên hoặc viện sĩ mới tiếp cận được các kho tư liệu này. Nếu không, bạn sẽ chỉ được tiếp cận sách và tài liệu ở dạng thứ cấp, tức là qua các bản tóm lược của những tác giả có đủ vị thế để tiếp cận, và đương nhiên, bạn không có cơ hội để kiểm chứng bởi vì việc tiếp cận các kho tư liệu không hề dễ dàng. Việc các trường đại học hay các viện nghiên cứu giữ kín tri thức săn tìm được cho nội bộ là một hành vi độc quyền, bởi thông qua đó họ có thể tạo dựng được thế lực trí thức hoạt động cho họ. Điều này cũng tương tự với tình trạng Thư viện của Tòa thánh Vatican, khi mà Vatican không dễ dàng cấp phép cho một người được đặt chân vào thư viện và cũng không cho phép được sao chép kiến thức có trong thư viện ấy. Chỉ rất ít trường đại học và viện nghiên cứu công khai các kho tư liệu và sách nghiên cứu với yêu cầu trả phí. Việc trả phí này không phải là điều bất hợp lý, bởi vì tự do không đồng nghĩa với miễn phí. Tự do tiếp cận tri thức là quyền được có cơ hội tiếp cận, còn các mức phí là để trả một phần cho việc duy trì hệ thống hoặc cho các tác giả, dịch giả (nếu họ còn sống). Đây cũng là điều hợp lý. Nhưng độc quyền tri thức cho một nhóm người trong hệ thống nào đó tạo ra bất bình đẳng và tạo ra tình trạng phe cánh trong giới trí thức và học thuật.

Một câu hỏi đặt ra, đó là, nếu một công trình nghiên cứu hoặc sáng tạo của trường đại học hoặc viện nghiên cứu là một tri thức hữu ích, vậy thì người bình thường có quyền được tiếp cận hay không. Điều này còn tùy thuộc vào việc công trình ấy có được tài trợ bằng tiền thuế của người dân hay không. Nếu công trình nghiên cứu hoặc sáng tạo thuộc trường đại học, viện nghiên cứu hay thậm chí là của các tập đoàn, các nhóm start-up đều dựa trên các nguồn tài trợ có xuất xứ từ chính phủ thì việc công bố chúng là điều hiển nhiên. Bởi vì, những tập thể ấy đã được người dân trả công để thực hiện công trình. Ngược lại, nếu công trình được thực hiện không dựa trên các nguồn quỹ đến từ chính phủ, tức từ thuế của dân thì những công trình ấy thuộc về sở hữu của nhà đầu tư và nhà đầu tư hoàn toàn có quyền quyết định công bố chúng hay không.

Tại Việt Nam, tình trạng tự do tiếp cận tri thức gặp rất nhiều cản trở. Cản trở lớn nhất đến từ việc tri thức không hề được coi trọng. Các trường đại học, ngân quỹ không được đầu tư chính đáng cho việc xây dựng các thư viện với khối lượng sách đa dạng và cần thiết cho các chuyên ngành. Các thư viện công có số lượng đầu sách ít, đa phần là sách phục vụ tuyên truyền thể chế và sách giải trí, không nhiều sách tri thức. Những kho tri thức chỉ phục vụ cho một số ít các nhà nghiên cứu được cấp phép. Với tình trạng như vậy, không chỉ một người bình thường mà ngay cả sinh viên và các nhà nghiên cứu cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm tư liệu. Đó là còn chưa kể đến sự chênh lệch rõ rệt trong vị thế của các nhà nghiên cứu, trí thức thuộc hệ thống của chính quyền và của các nhà nghiên cứu, trí thức độc lập.

Đôi khi, việc tự do tiếp cận tri thức lại phụ thuộc vào vấn đề kiểm duyệt của một quốc gia. Nếu một dạng tri thức bị kiểm duyệt, đặc biệt là trong các nhà nước độc tài như thời kỳ Cách mạng văn hóa ở Trung Quốc, hay xa xưa hơn là Châu Âu dưới đêm trường Trung Cổ với quyền lực của giáo hội, thì một người sẽ mang tội nặng nếu muốn tiếp cận. Ở Việt Nam hiện nay, tuy không bị phạt tội nặng cho việc tiếp cận tri thức cấm nhưng cũng không dễ dàng gì để đọc một cuốn sách đã bị cấm phát hành. Tình trạng cấm đoán một số dạng tri thức càng khiến cho tình trạng độc quyền tri thức được củng cố và tai hại hơn, còn tạo ra các công trình nghiên cứu hoặc sáng tạo khiếm khuyết. Liên quan đến tình trạng kiểm duyệt tri thức, tôi sẽ có một bài viết khác.

Do đó, nếu muốn thay đổi thực trạng tồi tệ của nền học thuật Việt Nam hiện nay, không thể đầu tư vô tội vạ vào các công trình nghiên cứu mà cần thiết là giải quyết tận gốc: Tạo cơ hội tiếp cận tri thức một cách tự do và bình đẳng. Việc tạo cơ hội này đương nhiên sẽ đe dọa vị thế của một số trí thức được bảo trợ bởi chính quyền, nhưng bù lại là cơ hội để xuất hiện thêm nhiều trí thức có tài năng và có niềm đam mê hơn.

Hà Thủy Nguyên

KHI VĂN HÓA ĐỌC THIẾU NỀN TẢNG HỌC THUẬT VÀ PHÁP LUẬT

blogpost thumb

Có lẽ chưa bao giờ văn hóa đọc lại nở rộ như ngày nay, đặc biệt là sự hỗ trợ từ chính quyền và các kênh báo đài chính thống. Không khí tấp nập nhộn nhịp trong các hội trợ sách, các hội thảo sách, các cuộc chạy đường trường cổ vũ phong trào đọc dường như làm sống dậy cái không khí Đông Kinh nghĩa thục: “Buổi diễn thuyết người đông như hội/Kỳ bình văn khách đến như mưa”. Chứng kiến cảnh “trăm hoa đua nở” của các đơn vị xuất bản, các cộng đồng đọc sách, các cá nhân cổ vũ đọc sách…v…v… chúng ta dễ lầm tưởng rằng một tương lai tươi sáng cho công cuộc nâng cao dân trí đang diễn ra. Tuy nhiên, nếu nhìn cận cảnh văn hóa đọc ở Việt Nam sẽ thấy một nguy cơ của tình trạng nhiễm độc “tinh thần” đang là vấn đề nan giải.

Một điểm dễ thấy ở thị trường sách Việt Nam đó là sự vượt trội về doanh số của các đầu sách dạy làm giàu, dạy kỹ năng sống, tiểu thuyết tình yêu…v…v… so với các đầu sách khác. Những cuốn sách này thường khá dễ đọc, giải quyết các nhu cầu trước mắt của người đọc, và thường được những độc giả thiếu nền tảng kiến thức ưa thích. Ở phương Tây hay Trung Quốc, những cuốn sách dạng này cũng được số đông độc giả ưa thích nhưng chúng không có vị trí thống soái như ở Việt Nam. Dù cho chúng có thể là “best seller” nhưng người dân vẫn ý thức được rằng vẫn có những cuốn sách tầm cỡ cao hơn thế, có tính học thuật hơn và sách hàn lâm vẫn giữ một vị trí thống soái dù số lượng bán ra không bằng. Nhưng ở Việt Nam, sách hàn lâm cứ như thể là một thế giới vô cùng biệt lập đối với độc giả đại chúng.

Đặc biệt là các sách dạy làm giàu, dạy kỹ năng sống luôn xuất hiện ở các giá sách của các quán café sách như một phần của phong trào nâng cao văn hóa đọc. Đây cũng là các cuốn sách ưa thích trong các chương trình đào tạo nhân viên của các tập đoàn, các công ty bán hàng đa cấp…v…v… Đến nay, sự đúng – sai của các cuốn sách này vẫn gây nhiều tranh cãi trên thế giới và ở Việt Nam, tuy nhiên, nếu đưa số sách này vào làm một phần chiến lược của phong trào nâng cao dân trí thì chẳng khác nào vứt vào tay người dân những “cái cần” chẳng biết có “câu được cá” hay không? Và nếu các cuốn sách này không thực sự giúp được người dân cải thiện cuộc sống mà chỉ được sử dụng để khích lệ ham muốn kiếm lợi thì đó không phải là nâng cao dân trí mà là làm giảm đi khả năng làm việc có chuyên môn để thay bằng các phương pháp làm giàu nhanh chóng.  Trong khi ấy, các cuốn sách có tính chuyên môn sâu hay tính hàn lâm vẫn thiếu vắng trên thị trường sách và được in với số lượng rất ít.

Tiểu thuyết tình yêu hay còn có tên gọi mới là tiểu thuyết ngôn tình không chỉ xuất hiên nhan nhản ở các nhà sách, các trang bán sách online mà còn cả ở Thư viện Quốc gia, nơi vốn dĩ là tập hợp của những cuốn sách có tính hàn lâm hoặc hữu dụng. Nếu ai đã từng một lần tới phòng đọc của Thư viện Quốc gia Hà Nội hẳn sẽ ngạc nhiên khi thấy tiểu thuyết ngôn tình chiếm một vị trí lớn trong thư viện: không chỉ có ngôn tình Trung Quốc mà còn có đủ cả ngôn tình Anh, Pháp và Việt Nam. Trong khi ấy, thư viện lại thiếu vắng các tác phẩm văn học kinh điển của thế giới mà các dịch giả từ đầu thế kỷ 20 đến nay vẫn tiếp tục dầy công chuyển ngữ. Thậm chí, nhiều tác phẩm văn học kinh điển của Việt Nam cũng không thể tìm thấy tại Thư viện Quốc gia Hà Nội. Những bạn trẻ đến thư viện có thể thoải mái ngồi đọc tiểu thuyết ngôn tình bên cạnh những nhà nghiên cứu đọc các cuốn sách dầy cộp. Đây có lẽ là một cảnh khá hi hữu tại một Thư viện công có tầm cỡ quốc gia với nền tảng lưu trữ học thuật hơn 100 năm. Cùng lúc ấy, các tác giả trẻ viết tiểu thuyết tình yêu mang tính thị trường và các tác giả sáng tác văn chương mang tính nghệ thuật cũng rất khó để phân định được ranh giới dẫn đến một tình trạng loạn chuẩn trong nền văn học, và người đọc có thể hoàn toàn sẽ bị dẫn hướng bởi truyền thông. Ví dụ như các độc giả trẻ sẽ không thể phân biệt được sự chênh lệch về chất lượng giữa một cuốn tiểu thuyết ngôn tình sử dụng yếu tố lịch sử (như trường hợp “Thành kỳ ý” của Lê Ngọc Linh hay “Đại Nam dị truyện” của Phan Cuồng) với một cuốn tiểu thuyết lịch sử công phu (như “Hồ Qúy Ly” của Nguyễn Xuân Khánh hay “Vạn xuân” của Yveline Féray).

Tình trạng “vàng” không được coi trọng bằng “thau” này đã khiến cho nền văn hóa đọc của Việt Nam ở thời sung sức của giai đoạn đầu nhiễm những tạp chất khó có thể tẩy rửa khỏi thói quen đọc sách của thế hệ trẻ. Đây là hệ quả của sự thiếu nền tảng học thuật và pháp lý trong chiến lược của phong trào nâng cao văn hóa đọc. Trong “ĐỀ ÁN Phát triển Văn hóa Đọc trong cộng đồng Giai đoạn 2011 – 2020, tầm nhìn 2030” của Thủ tướng chính phủ được thảo ra từ năm 2010, việc xây dựng nền tảng học thuật và pháp lý làm chỗ dựa cho xuất bản gần như không được đề cập đến mà hầu như chỉ nhấn mạnh vào công tác tuyên truyền nhằm gia tăng lượng độc giả. Trên thực tế, nếu không thể xuất bản ra những cuốn sách có chất lượng cao, đảm bảo tính chính xác của kiến thức, đạt các chuẩn của tiếng Việt và không có các sai phạm về bản quyền thì nền văn hóa đọc ấy sẽ chỉ gây hại cho độc giả mà thôi. Vấn đề chính yếu của văn hóa đọc hiện nay không phải là tình trạng giảm sút của số lượng độc giả mà tình trạng lỏng lẻo trong quản lý chất lượng sách.

Ngăn ngừa đạo văn có lẽ là vấn đề pháp lý quan trọng nhất của một nền văn hóa đọc. Tuy nhiên, cho đến nay, khung pháp lý xử lý đạo văn vẫn còn lỏng lẻo, không có cơ quan giải quyết các khúc mắc về đạo văn một cách chuyên nghiệp, cũng không có mức phạt nghiêm khắc thực sự để ngăn ngừa đạo văn. Hầu như trong các vụ đạo văn bị phanh phui trên truyền thông, những tác phẩm đạo văn không hề bị thu hồi và tác giả cũng không phải chịu một mức phạt nào, thậm chí nhiều trường hợp còn không xin lỗi một cách công khai. Qúy cuối năm 2015 cho đến quý I năm 2016, độc giả được chứng kiến hai vụ đạo văn đình đám: Một là sự việc nhà thơ Phan Huyền Thư đạo thơ của Phan Ngọc Thường Đoan. Hai là sự việc Lê Ngọc Linh trong tiểu thuyết ngôn tình có yếu tố lịch sử “Thành Kỳ Ý” đã đạo rất nhiều đoạn văn từ cuốn sách “Tứ thư bình giải” cùng nhiều bài báo từ các trang online của báo Dân Trí, Vietnamtourism…v…v… Cả hai trường hợp đạo văn này, sách đều không bị tịch thu và không bị nhận mức phạt nặng, cùng lắm chỉ là bị ép xin lỗi hoặc như nhà thơ Phan Huyền Thư chỉ cần trả lại giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội là đủ. Như trường hợp “Thành Kỳ Ý”, mức độ sai phạm trầm trọng hơn khi tác giả của cuốn sách này kêu gọi độc giả ủng hộ cô ta số tiền lên đến hơn 200 triệu đồng trước khi cô ta ra mắt sách. Số tiền này không hề được hoàn trả cho người ủng hộ khi cuốn sách được chứng minh là đạo văn, và cũng không có khoản phạt tài chính nào với sai phạm này. Cho đến nay, Lê Ngọc Linh vẫn không hề bị xử phạt dù cho đã có hơn 1000 chữ ký từ các độc giả vận động trên mạng và gửi thư khiếu nại đến Cục xuất bản. Hai ví dụ trên thật sự đã cho ta thấy sự quản lý lỏng lẻo của các đơn vị quản lý văn hóa. Đây chỉ là hai vụ scandal nổi tiếng trong số rất nhiều những sự vụ khác ít đình đám hơn và rất nhiều những vụ chưa được phanh phui vì chưa có ai phát hiện. Sẽ ra sao nếu Việt Nam có một nền văn hóa đọc mà ai ai cũng có thể đạo văn mà không phải chịu trách nhiệm gì? Đó là một nền văn hóa đọc không bảo vệ sự sáng tạo mà chỉ dung túng cho thói quen viết lách thiếu trách nhiệm và trình độ.

Không chỉ là một nền văn hóa đọc thiếu sự khuyến khích sáng tạo mà nền văn hóa đọc Việt Nam còn thiếu sự chính xác và tinh thần khoa học. Tình trạng nội dung sách không đảm bảo chất lượng ngôn ngữ hay khoa học là khá phổ biến. Gần như năm nào người đọc cũng được chứng kiến các sự việc sách dịch không chính xác ( như “Lolita” do Dương Tường dịch, “Sapiens, lược sử về loài người” do Nguyễn Thủy Chung và Võ Minh Tuấn dịch, “Căn tính và bạo lực – Huyễn tưởng về số mệnh” do Trần Tiễn Cao Đăng và Lê Tuấn Huy dịch…). Những cuốn sách này hoặc là thiếu chính xác trong chuyển ngữ, hoặc là diễn giải không đúng với văn phạm tiếng Việt. Bên cạnh đó còn phải kể đến không ít các cuốn sách nghiên cứu, khảo cứu, hướng dẫn… thiếu tính chính xác trong việc sử dụng kiến thức. Tôi sẽ không đề cập đến ví dụ về tình trạng sách nghiên cứu, khảo cứu sử dụng sai kiến thức bởi vì sẽ rất dài dòng để giải thích. Thay vào đó, tôi sẽ sử dụng một cuốn giáo trình tiếng Anh làm ví dụ. Đây là cuốn giáo trình tiếng Anh do trung tâm Elight phát hành, cấp phép bởi NXB Thanh Niên, có tên “Tiếng Anh cơ bản”. Một giáo viên dậy tiếng Anh rất nổi tiếng người Mỹ có tên là Dan Hauer đã chỉ ra rất nhiều lỗi sai ngữ pháp và từ vựng nghiêm trọng ở cuốn giáo trình này cùng với hơn 300 chi tiết đạo văn từ các giáo trình tiếng Anh khác. Cuốn sách được bán với giá 299 ngàn, một mức giá khá cao. Video nhanh chóng được lan truyền trên mạng với hơn 660 ngàn lượt xem và đến nay cũng chưa có dấu hiệu của đơn vị quản lý văn hóa và giáo dục xử lý các lỗi sai về kiến thức cũng như đạo văn trong cuốn sách này. Việc cung cấp sai kiến thức là một lỗi nghiêm trọng không kém gì đạo văn bởi những cuốn sách ấy phát tán các nhận thức sai lệch cho độc giả. Một nền văn hóa đọc mà trong đó độc giả dễ dàng bị nhồi nhét những nhận thức sai lệch thì đó là một nền văn hóa không lành mạnh. Sở dĩ có tình trạng như vậy là do thiếu một đội ngũ có trình độ học thuật cao tham gia các khâu thẩm định chất lượng nội dung và một nền xuất bản thiếu các tiêu chuẩn khoa học.

Mặc dù vậy, ở góc khuất của nền văn hóa đọc nhốn nháo ngày nay vẫn có những cộng đồng đọc sách nghiêm túc những mong tuyển chọn các cuốn sách hay giới thiệu cho bạn đọc, vẫn có những tác giả và dịch giả miệt mài ngày đêm âm thầm cống hiến cho tri thức, vẫn có những độc giả khôn ngoan biết tìm đến các nguồn sách có chất lượng cao. Tất cả những yếu tố này tạo nên một ốc đảo tri thức nằm giữa biển sách ngổn ngang của thị trường. Tuy rằng biệt lập nhưng họ vẫn luôn cố gắng để duy trì ngọn lửa tri thức. Và dù cho xã hội không có một khung pháp lý hay một khung học thuật để quản lý chất lượng sách trên thị trường thị họ cũng tự xác lập cho mình những chuẩn mực riêng trong ốc đảo tri thức ấy.

Hà Thủy Nguyên

Bài đăng trên Tạp chí Văn hóa Nghệ An số ra ngày 10 tháng 4 năm 2018

LỢI DỤNG ĐẠO MẪU TÀN PHÁ CÁC DI TÍCH?

blogpost thumb

Dịp nghỉ lễ 30/4, chúng tôi (những thành viên của Book Hunter) không đi du lịch phương xa mà lang thang trên những con phố Hà Nội – nơi tưởng chừng như rất quen thuộc nhưng vẫn đầy bất ngờ với những ai muốn tìm hiểu về quá khứ của nó.

Chúng tôi xuất phát từ Joma Cafe trên phố Lý Quốc Sư rồi đi một loạt các ngôi đền và nhà cổ ở phía Đông Bắc của phố cổ Hà Nội, kéo dài từ Hàng Trống, Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm. Rồi đến buổi chiều lại qua khu Tây Bắc của phố cổ, quanh các phố Hòe Nhai, Hàng Than, Quán Thánh, Phan Huy Ích rồi nghỉ chân và buôn chuyện ở hồ Tây.

Những ngôi đền cổ ẩn mình sau các khu hàng quán ngồn ngộn, cố chống chọi với cơn bão thời gian có thể làm thay đổi mọi thứ. Có những ngôi đền và nhà cổ vẫn còn giữ được vẻ đẹp vốn có (dù đã trải qua các cuộc phục dựng), nhưng có những ngôi đền đã bị biến đổi mà có lẽ những người dân thường đến lễ tại đó cũng chẳng hề hay biết.

Phố cổ Hà Nội là một khu buôn bán, dân tứ xứ từ xưa đã thường xuyên qua lại, định cư và sinh sống. Mỗi lớp dân ấy lại mang theo một vị thần bảo trợ cho họ tới khu phố cổ này.

Chủ yếu, khu phố cổ là nơi sinh sống của những người Hoa kiều có gốc từ Phúc Kiến, Quảng Đông; và những phường nghề của người Việt di dân từ nhiều tỉnh quanh đồng bằng Bắc bộ. Bởi vậy, các đền thờ là dấu vết còn lưu lại của lớp dân cư đã sống tại khu vực này trước đây, hoặc có khi họ vẫn còn vài người rớt lại nhưng phải chịu một cảnh sống khó khăn và bực bội vì họ đã mất đi vị thế làm chủ ở khu này.

Thế nhưng, nhiều ngôi đền đã bị thay đổi cơ cấu thần và xóa đi các dấu vết lịch sử của nó để thay vào là các ban thờ mẫu lòe loẹt.

Ở phố Nguyễn Văn Siêu có đền Cổ Lương. Tấm bia trong đền ghi rõ: “Thôn Cổ Lương tiếp giáp mé sông Nhị Hà, dân cư là người làng Khúc Thủy, đền thờ hai vị chính thần là Phổ Tế và Nam Hải. Công lao sự nghiệp của thần trong tự điển có ghi chép rõ ràng. Nhưng ngôi đền lúc mới xây dựng thì lợp cỏ gianh đơn sơ. Hơn trăm năm dân cư ca mừng tụ họp ở đây mà đền thần vẫn còn như cũ… Khi đó vị lý trưởng họ Đào tên là Đằng mới tiếp nối ý cha để đứng ra hưng công xây lại đình mới, lợp ngói.”

Nhưng nếu ai vào đền Cổ Lương ngày nay sẽ chỉ thấy một màu u ám với ban thờ Mẫu Liễu Hạnh chễm chệ trong ngôi đền bê tông. Hai vị chính thần Phổ Tế và Nam Hải thì chẳng ai nhớ tới công lao nữa bởi vì công lao của họ, tôi cũng không tìm được thông tin về họ. Nhưng tấm bia ghi chép về hai vị thần này là do tiến sĩ Vũ Nhị (hiệu Đông Hầu, đốc học Hà Nội) soạn thảo, chữ Hán do Nguyễn Mặc Khanh viết dưới thời Tự Đức, vì vậy, có thể thấy hai vị này hẳn phải có công đức lớn thì mới có được sự trân trọng như vậy.

Khi sắp xếp lịch trình cuộc đi, tôi có đọc thông tin về đền Yên Thành ở phố Phan Huy Ích, ngay đoạn giao với Quán Thánh. Đây là ngôi đền thờ Lý Chiêu Hoàng, vị nữ vương cuối cùng của triều Lý. Khi đã nhường ngôi cho Trần Cảnh, bà lui về ở ẩn, có công giúp dân làng Yên Thành và một số vùng khác ở Gia Lâm an cư lạc nghiệp, bởi vậy nên được tôn thờ. Đến thời Lê, bà vẫn được truy phong.

Tại đền thờ, người dân có đặt pho tượng Lý Chiêu Hoàng ngồi trên long ngai với chế tác tinh xảo cùng với 8 bức tượng các vị vua thời Lý. Điều này được ghi chép lại trong tạp chí Thế giới Di Sản.

Thế nhưng thực tế, khi chúng tôi đến ngôi đền này thì không còn thấy dấu vết gì của Lý Chiêu Hoàng và 8 vị vua nhà Lý mà thay vào đó là ban thờ mẫu hoành tráng sơn son thiếp vàng lòe loẹt và đám đồng cốt đang nhảy đồng tưng tưng. Chen chân vào đám đồng cốt đó để tìm pho tượng Lý Chiêu Hoàng hay tượng các vua Lý đều không có, mà chỉ có tượng các ông hoàng bà chúa trong hệ thống thờ tứ phủ.

Trước đó không lâu, khi đến thăm đền Cẩu Nhi đã được sửa sang lại ở hòn đảo nhỏ trên hồ Trúc Bạch, tôi cũng chỉ thấy có ban thờ mẫu Thoải và Tứ phủ, không còn ghi chép lại sự tích.

Trong khi đó, ghi chép của Dương Bá Cung trong “Tây Hồ chí” còn kể rõ: “Thần Cẩu Nhi là con Cẩu Mẫu, triều Lý miếu thờ ở bãi Châu Chữ (bến Châu) phía Tây Bắc hồ, thời Hậu Lê gọi là chùa Trúc Bạch. Trên có Miếu Chó thần Cổ Nhi dựng từ triều Lý. Nay hãy còn” và Núi Khán: “Hai ngọn liền nhau, ở phía Nam hồ, góc Tây nội thành. Trên có miếu Cẩu Mẫu (mẹ chó thần) của triều Lý.

Trước khi nhà Lý dời đô ra Thăng Long, ở chùa Thiện Tâm trên núi Ba Tiêu – châu Bắc Giang có một con chó trắng mang thai vượt sông trên núi Khán sinh một con. Người người lấy làm lạ.

Đến năm Canh Tuất có việc dời đô, Cẩu Mẫu và Cẩu Nhi đều hoá. Vua nghe chuyện, bảo đó là Phúc Thần, bèn cho dựng miếu thờ Cẩu Mẫu, Cẩu Nhi ở dưới hồ thuộc địa phận làng Trúc Yên”.

Trong cuốn “Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX” của Nguyễn Văn Uẩn viết: “Lên đến gần đường đê Yên Phụ, ta thấy còn mấy di tích lịch sử nữa: Ở bên phải, trên một gò nhỏ giữa hồ Trúc Bạch có đền Cẩu Nhi, đền này có từ thời Lý Thái Tổ (thế kỷ XI), khởi thủy ở cạnh núi Nùng trong Hoàng Thành, khi xây lại thành sau này mới chuyển bài vị thờ thần ra đây. Về sau, những người đến lễ bái chỉ biết là đền thờ “Thủy Trung Tiên” (bà tiên dưới nước).”

Nực cười là, từ cái tên “Thủy trung tiên”, các tín đồ đạo Mẫu đã đặt vào ban thờ vị Mẫu Thoải, mẫu cai quản nước, để lấp liếm một cách hợp lý cho tình trạng tàn phá di tích này dưới danh nghĩa phục dựng và cải tạo.

Đó là còn chưa kể một cuộc xâm chiếm trong hầu hết các đền, chùa, đình của đạo Mẫu. Chỗ nào cũng thấy đặt một ban thờ đạo Mẫu. Rồi chỗ nào cũng có thể thành chỗ nhảy đồng ầm ĩ hô thần gọi quỷ (mà thần thì ít, quỷ là chính).

Và còn rất nhiều địa điểm khác, không chỉ ở Hà Nội mà còn ở khắp cả nước.

Tình trạng xâm lấn này của đạo Mẫu trên thực tế chẳng khác nào các tập đoàn tham lam muốn phá hoại các di tích cũ để chiếm đất, chiếm khả năng thu hút đám đông.

Có phải thông qua con đường cải tạo và phục dựng, người ta lợi dụng hệ thống đạo Mẫu để ngang nhiên chiếm đất ở nhiều địa điểm tâm linh?.

Cứ đà này, nếu không có sự kiểm soát, Việt Nam sẽ hoàn toàn ở dưới sự chỉ huy độc tôn của “Mẫu giáo”. Thứ “Mẫu giáo” này sẵn sàng gạt bỏ hết lịch sử và các lớp văn hóa trước đó để tiếp tục tận thu tiền của dân chúng mê muội vào tay đồng cốt.

Thực trạng tàn phá di tích này đến nay vẫn chưa được quan tâm bởi vì nó đi ngầm rất lâu. Hơn nữa, đụng chạm đến mấy thế lực tâm linh ở vùng đất vẫn còn nhiều mê tín dị đoan này, đa phần đều e ngại.

Tôi mong rằng, các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa; các nhà báo; hoặc các độc giả quan tâm đến vấn đề bảo vệ di sản sẽ đưa ra ý kiến về việc này. Bởi vì, tự do tôn giáo và tín ngưỡng không đồng nghĩa với việc cho phép tôn giáo và tín ngưỡng ấy tàn phá văn hóa.

Hà Thủy Nguyên

Yêu nước là yêu gì?

blogpost thumb

Tình yêu nước bao giờ cũng là một khái niệm khó định nghĩa. Tại sao? Bởi “nước” và “yêu” cũng là một khái niệm khó định nghĩa. Yêu nước là yêu ai? Yêu những con người cùng nòi giống, cùng tiếng nói với mình? Yêu những người cùng mình sinh sống trên một mảnh đất nào đó? Hay là yêu một quốc gia mà từ nhỏ ta đã được dạy là phải yêu, phải hi sinh cho nó – yêu một thứ mà ta không được lựa chọn như một thứ định mệnh lớn áp đặt lên chính ta?

Năm cấp 2, giống như bao nhiêu học sinh khác, tôi phải làm một bài văn nghị luận về tình yêu nước. Bài văn nghị luận ấy đã mang cho tôi một điểm 10 môn Văn từ cô giáo khó tính nhất trường. Lúc ấy, tôi đã đinh ninh rằng tôi thật sự rất yêu nước, yêu đến mức có thể hiến dâng mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước – nơi mình đang sinh sống. Trong bài văn nghị luận thuở trẻ con ấy, tôi đã viết rằng yêu nước là yêu mảnh đất nơi mình sinh sống, yêu tiếng nói, yêu con người, yêu lịch sử hào hùng và vẻ vang; trong tình yêu ấy có cả sự tự hào dòng máu Việt Nam. Những lập luận ấy không có gì mới mẻ, mà có phần tự huyễn. Càng lớn lên, tình yêu nước mờ nhạt dần bởi vì hóa ra tình yêu đó được hình thành không phải vì tôi tự hào về nòi giống của mình mà chỉ tự hào  về điểm 10 Văn ngày ấy. Cái cảm giác khi nói về một điều gì đó bất kể mình có thật lòng hay không, được người khác thừa nhận, mang lại một sự khoái cảm tinh thần nhiều đến mức tự thôi miên bản thân đồng nhất với điều đó.

Tình yêu nước mờ nhạt ấy cũng làm tôi nhớ đến nhiều mối tình trong quá khứ. Những anh chàng đã đi qua thời trẻ trung của tôi đều rất ngọt ngào và rất dễ dàng để thốt lên “Anh yêu em”. Và rồi tình yêu ấy cũng nhạt dần theo thời gian. Bất cứ tình yêu nào người ta dễ dàng phát biểu thì đều xen lẫn hoặc chút ít giả dối hoặc quá nhiều tự kỷ ám thị. Thời gian sẽ khiến những giả dối dần lộ diện và những ám thị hết hiệu lực, chúng ta sẽ dần tỉnh và nghĩ rằng tình yêu đích thực của mình là dành cho thứ khác. Cứ thế, cứ thế, ta rơi vào hết tình yêu này đến tình yêu khác: yêu người tình, yêu gia đình, yêu đất nước, yêu nhân loại, yêu trái đất, yêu vũ trụ… Sao mà người ta có thể dễ dàng nói ra lời yêu đến thế?! Có hàng ngàn, hàng vạn, vô cùng tận các cách thức để biểu hiện tình yêu, sao cứ phải phát thành lời chữ “yêu”? Chẳng phải vì một thói quen ngôn ngữ đã ăn mòn trong tâm trí ta đến mức ta không còn có thế biểu hiện theo một cách nào đó khác? Hay bởi vì ta chỉ là một cỗ máy lặp đi lặp lại những định dạng ngôn từ trừu tượng để tự thôi miên bản thân vào một kịch bản lâm li.

Tình yêu dành cho đất nước, cũng giống như mấy loại yêu khác, đòi hỏi nhiều điều hơn là sự phát biểu. Chúng ta không thể chọn được đất nước nơi mà ta sinh ra, và trong nhà trường hay trong xã hội, chúng ta được tuyên truyền về trách nhiệm của mình đối với đất nước như một thứ định mệnh mà ta bất khả cưỡng. Nhưng đất nước là gì? Tất cả dường như quá mờ ảo. Cái thứ tình yêu nước mờ ảo ấy giống như cô dâu thời phong kiến bước về nhà chồng mà còn chưa biết mặt chồng, cô ấy sẽ mã hóa sự cam chịu của mình bằng tình yêu chồng chứ khó có thể yêu anh ta thật lòng được. Khi không thể xác định được “đất nước” mình cần yêu là gì, người ta chỉ có thể tự thôi miên mình vào một thứ căn cước (Identity) để định danh bản thân, dùng lòng tự hào để tự trói buộc và hành xử theo lối “Ta về ta tắm ao ta/Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”. Bởi thế, tình yêu nước loại này mù quáng và tự đóng khung trong một mê cung chật hẹp của thứ chủ nghĩa dân tộc cực đoan mà mỗi khi chúng ta lạc trong đó, chúng ta sẽ không thể nào biến đất nước nơi ta đang sống thành một nơi tốt đẹp hơn được.

Tôi sẽ  không định nghĩa tình yêu nước là gì, tôi không muốn xây thêm bất cứ bức tường ngôn ngữ nào để giam bản thân tôi và  độc giả vào cái mê cung cũ kỹ ấy nữa. Tôi sẽ kể về một số cách người ta yêu nước, những cách không đơn thuần chỉ là phát biểu.

Hãy nhìn về lịch sử nước ta, triều đại Lý – Trần rực rỡ, một triều đại điển hình cho sự tự cường của quốc gia. Ông tổ của các vị vua Lý và vua Trần đều di cư từ Phúc Kiến (Trung Quốc) xuống miền Bắc Việt Nam; thế nhưng trong chính hai triều đại này, sự tự cường của quốc gia lại mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Hết lần này đến lần khác, triều đình Lý – Trần ngăn chặn thành công những đợt xâm lược từ phương Bắc. Tại sao? Bời vì họ không bị lệ thuộc vào căn tính sâu xa từ thời tổ tông của mình. Họ gắn bó với mảnh đất mà họ đang sinh sống, từng ngày họ nỗ lực để xây dựng và cải thiện sao cho mảnh đất này tốt đẹp hơn. Họ yêu  những thành quả mà họ đã tạo ra và cố hết sức để bảo vệ thành quả ấy. Họ là những người dám dũng cảm để khẳng định: “Nam quốc sơn hà nam đế cư” (Lý Thường Kiệt) bởi vì cái “Nam quốc” ấy có ghi dấu mồ hôi và xương máu của mỗi người trong số họ. Hoàng tộc Lý – Trần từ lâu đã vứt bỏ căn tính phương Bắc của mình để đại diện cho tinh thần Đại Việt, hợp tác với những người dân bản địa trên mảnh đất này, cùng đấu tranh và xây dựng. Tôi cho rằng, có nhiều người yêu đất nước này (dù là thuộc nòi giống khác hay nòi giống bản địa) bởi vì họ đã dày công để kiến tạo nên các giá trị tốt đẹp của đất nước. Hàng ngày, họ trăn trở vì những điều tệ hại vẫn còn đầy rẫy và không quản ngại mọi khó khăn, cản trở để chấm dứt sự tệ hại. Có thể đúc rút sự trăn trở ấy trong hai câu: “Tiên thiên hạ chi ưu chi ưu/ Hậu thiên hạ chi lạc chi lạc” (Nghĩa là “Lo trước cái lo của thiên hạ/ Vui sau cái vui của thiên hạ). Những người  này, họ ít phát ngôn lắm, họ chỉ phát ngôn khi phát ngôn của họ thực sự có thể thay đổi tình trạng hiện tại; còn lại, họ sẽ âm thầm làm việc chẳng bận lòng đến công danh.

Tôi có quen một cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam, hiện ông đang làm công việc gỡ bom mìn giải quyết hậu quả của cuộc chiến tranh Mỹ – Việt, ông cũng yêu Việt Nam lắm, yêu tới mức dành phần lớn thời gian ở nước ta và bất cứ người Việt nào cần giúp đỡ, ông đều không hề từ chối. Nhiều người cho rằng lòng tốt của ông với Việt Nam là do ông quá áy náy về tội lỗi của nước Mỹ nhưng chỉ khi trò chuyện và tiếp xúc, tôi mới thấy rằng tình yêu ấy không xuất phát từ mặc cảm. Ông chia sẻ rằng khi ở với người Việt Nam, ông thấy có sự kết nối về mặt tinh thần, gần gũi và thân tình. Mỗi khi ông ở Việt Nam, ông thấy như ở nhà. Tôi cho rằng cũng không ít người yêu nước vì cảm thấy sự kết nối với con người sống tại đó. Sự kết nối này rất khó để mô tả, chỉ có thể là cảm giác. Và cũng không thể khiên cưỡng, chỉ có thể xuất phát một cách tự nhiên do một nhịp đập vô thanh nào đó của trái tim. Trái tim có thể biến bất cứ một người thuộc bất kỳ nòi  giống hay quốc tịch nào đó khác trở thành người Việt Nam giống như những người bản địa.

Hai cách yêu mà tôi vừa kể trên, một lý trí – một tình cảm, nhưng không tình yêu nào mù mờ trong hư ảo. Họ đều cố gắng để hiểu rõ đối tượng mà mình muốn yêu và họ muốn yêu một cách hiệu quả, yêu sao cho đất nước trở nên tốt đẹp hơn. Họ không yêu chỉ để mà yêu, chỉ để phát biểu. Họ không yêu nước để được một sự thừa nhận rằng họ là “nhà yêu nước”. Họ không biến tình yêu nước thành một thứ giải tỏa cho những mặc cảm tinh thần cuộn trào dưới vỏ bọc của chủ nghĩa dân tộc. Thật nực cười khi ai đó cả một đời chẳng hề đau đáu đến sự dựng xây đất nước thành một nơi tốt đẹp hơn lại hô to rằng “tôi yêu nước” trong một cơn kích động! Chẳng gì nực cười hơn khi người ta có thể nhân danh tình yêu nước để tàn phá và giết người (Chẳng phải lịch sử của thế kỷ 20 ở nước ta đã chìm đắm trong cơn mê muội ấy hay sao?)! Tình yêu nước trong vô thức trở thành một thứ cân bằng tâm lý tự nhiên cho các hành vi trái với lương tri, nó xoa dịu các vết đau do tội lỗi và cho những người vô thức ấy một cái huy hiệu được gọi là “nhà yêu nước”.

Việt Nam ta vốn dĩ không phải một quốc gia thống nhất mà là một quốc gia đa sắc tộc và văn hóa. Những lý luận sai lầm trong nghiên cứu văn hóa và dân tộc học đã dẫn đến tình trạng cố gắng xóa bỏ sự đa nguyên ấy để hướng tới một khối đại đoàn kết dân tộc giả tạm, dần dần, trói buộc người dân vào thứ chủ nghĩa dân tộc lệch lạc chứ không phải tình yêu nước. Bởi thế, người dân mất đi  nhận thức rằng mọi sự lao động của mình đều đang để kiến tạo một quốc gia phồn thịnh và rồi họ không còn biết đâu là thành quả của mình nữa, lấy đâu động lực để giữ gìn và bảo vệ? Sự cực đoan của chủ nghĩa dân tộc che mờ con tim đến mức người với người chẳng thể kết nối hay cảm nhận thấy nhau, lấy gì để yêu nhau, để hỗ trợ nhau?

Vậy thì những người dường như có vẻ thờ ơ với đất nước thì sao? Họ không yêu nước ư? Hay họ tỉnh táo? Chỉ đơn giản vì họ không cảm thấy kết nối nào với những con người ngoài kia hoặc vì sự kiến tạo của họ đang hướng tới mục đích khác, và họ trung thực với điều ấy. Họ có đáng để lên án hay không nếu những hoạt động của họ không hề tổn hại đến đất nước nơi mà họ đang sống? Sự thờ ơ ấy có thể đến từ nhiều nguyên nhân. Tệ hại thì là do lòng tham ích kỷ và lòng tham bao giờ cũng tàn phá mọi thứ mà nó chạm đến. Khá hơn một chút là do nghĩ rằng sức của mình chẳng thay đổi được gì. Xa hơn thế là do  họ có mục đích khác để hướng tới mà mục đích ấy còn cao xa hơn các vấn đề đất nước và dân tộc, hơn những thứ tầm thường của cuộc sống. Thế thì, ai yêu nước cứ yêu nước, ai thờ ơ cứ thờ ơ. Yêu nước cũng được, thờ ơ cũng được chỉ cần đừng làm điều gì tệ hại trái với lương tri, miễn là lương tri còn ít nhiều tồn tại.

Hà Thủy Nguyên