Home Dịch thuật Dịch thơ Mạn hứng – Nguyễn Du

Mạn hứng – Nguyễn Du

Kỳ 1

Trăm năm thời thế mặc phong trần
Tha phương sông biển biết bao lần
Gác vàng chốn cũ đâu còn mộng
Hư danh đầu bạc vẫn vương thân
Ngày xuân nhiễm bệnh không thuốc chữa
Phù sinh nhập cuộc những lo toan
Ngàn dặm quê xa lòng nhung nhớ
Ngựa hèn xe xấu thẹn đông lân

Kỳ 2:

Lưu lạc nổi chìm ngọn cỏ bồng
Nam bắc giang hồ túi rỗng không
Văn chương kiết xác trăm năm ấy
Trời đất lênh đênh một kiếp xong
Mũ vàng vạn dặm chiều đã xế
Tóc bạc phơ đầu gió thổi tung
Kim cổ thương tâm lòng còn gợn
Non xanh nay vẫn nhuộm ráng hồng.

Hà Thủy Nguyên dịch

Bản Hán Việt:

Kỳ 1:

Bách niên thân thế uỷ phong trần,
Lữ thực giang tân hựu hải tân.
Cao hứng cửu vô hoàng các mộng,
Hư danh vị phóng bạch đầu nhân.
Tam xuân tích bệnh bần vô dược,
Táp tải phù sinh hoạn hữu thân.
Dao ức gia hương thiên lý ngoại,
Trạch xa đoạn mã quý đông lân

Kỳ 2:

Hành cước vô căn nhiệm chuyển bồng,
Giang nam giang bắc nhất nang không.
Bách niên cùng tử văn chương lý,
Lục xích phù sinh thiên địa trung.
Vạn lý hoàng quan tương mộ cảnh,
Nhất đầu bạch phát tản tây phong.
Vô cùng kim cổ thương tâm xứ,
Y cựu thanh sơn tịch chiếu hồng

Dịch mới Long thành cầm giả ca của Nguyễn Du

    Người chơi đàn chốn Long Thành, không rõ tên gọi là chi. Nghe nói thuở nhỏ, nàng học chơi đàn nguyệt (còn gọi là đàn Nguyễn) trong đội nữ nhạc hoàng cung vua Lê. Quân Tây Sơn ra Bắc, đội nhạc cũ người chết kẻ đi. Nàng lưu lạc các chợ, ôm đàn hát rong. Những khúc nàng chơi đều là khúc “Cung phụng” hầu vua, người ngoài chưa từng được biết, cho nên tài nghệ của nàng nổi tiếng bậc nhất một

Thính vũ – Nguyễn Trãi

Tịch mịch trai phòng tối Thâu đêm nghe tiếng mưa Não nề xịch gối khách Đếm canh tàn giọt rơi. Trúc khua ngoài song vắng Chuông lẩn vào mộng suông Ngâm nga hồn chẳng ngủ Đứt nối đến tinh sương. Bản Hán Việt: Tịch mịch u trai lý, Chung tiêu thính vũ thanh. Tiêu tao kinh khách chẩm! Điểm trích sổ tàn canh. Cách trúc xao song mật, Hoà chung nhập mộng thanh. Ngâm dư hồn bất mị, Đoạn tục đáo thiên minh. *Tranh minh

Vãn hứng – Nguyễn Trãi

Cuối ngõ náu mình nỗi quạnh hiu Khăn đen gậy trúc dạo bước chiều Xế tà thôn vắng cây ngưng bóng Cầu ngập đường hoang vắng tịch liêu Thời gian trôi mãi sông mờ mịt Anh hùng ôm hận lá liêu xiêu Về tựa lan can ngồi lẻ chiếc Trăng trong trời biếc một mảnh treo. Hà Thủy Nguyên dịch Bản Hán Việt: Cùng hạng u cư khổ tịch liêu, Ô cân trúc trượng vãn tiêu diêu. Hoang thôn nhật lạc, hà thê thụ. Dã

Nhân sinh vô thường trong Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của Nguyễn Du

Cứ tới tháng Bảy âm lịch, tâm trí tôi văng vẳng một giọng ca ngâm xa vắng trong tiếng đàn đáy u tịch: “Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt, Toát hơi may lạnh buốt xương khô, Não người thay buổi chiều thu, Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng…” Thực tại điêu tàn bám theo gió thu giăng khắp bốn cõi. Đôi khi, tôi hoang mang chẳng rõ bởi những trận gió thu đìu hiu chết chóc đã đi vào thơ Nguyễn Du

Một Nguyễn Trãi của người dân trong tiểu thuyết “Vạn Xuân”

Khi nhắc đến Nguyễn Trãi, những danh từ chúng ta thường gán cho ông thường có màu sắc tôn vinh, và khi tôn vinh thái quá lại làm mờ đi con người thực. Chúng ta biết đến Nguyễn Trãi như một “danh nhân văn hóa”, một “nhà nho tài tử”, nhưng “danh nhân văn hóa” hay “nhà nho tài tử” là ai? Không ai cả. Chúng ta sẽ bị áp đặt những hình mẫu được tạo ra bởi niềm tin và kỳ vọng của của