Từ tín ngưỡng thờ nữ thần đến tín ngưỡng thờ Mẫu

blogpost thumb

Tín ngưỡng thờ nữ thần không phải là một hiện tượng độc đáo trong đời sống tâm linh của người Việt, trái lại, rất phổ biến trên toàn thế giới. Tượng thờ nữ thần cổ xưa nhất được tìm thấy của người Cro-Magnon tại Hohle Fels có niên đại khoảng 35.000 năm với bộ ngực, bụng và âm hộ phóng đại. (1) Ở thời kỳ đồ đá, nữ thần giữ vai trò tối cao – đấng Sáng Thế, Nuôi Dưỡng và Hủy Diệt và luôn hùng mạnh hơn các nam thần. Sự phồn thịnh hay suy tàn của một xã hội cổ sơ được cho là nhờ vào sự ban phước của các nữ thần. (2) Ngay cả khi đã bị thay thế bởi hệ thống thần nam quyền, nữ thần vẫn đóng vai trò ban phước chủ chốt ngay trong các tôn giáo có xu hướng không coi trọng phụ nữ như Công giáo, Phật giáo…

Tượng nữ thần Venus ở Hohle Fels cho thấy tín ngưỡng thờ nữ thần tại khu vực Địa Trung Hải thời cổ đại.

Tại Việt Nam, tuy không tìm được những bằng chứng chứng minh vai trò to lớn của nữ thần như ở các nền văn hóa khác, nhưng các nữ thần vẫn đóng vai trò trọng yếu trong đời sống tâm linh và có những biểu hiện đa dạng hơn do những biến thể đặc thù của một vùng văn hóa giao hội giữa hai nền văn minh lớn là Trung Quốc và Ấn Độ, giữa chế độ nam quyền chưa toàn thiện và hệ thống mẫu hệ vẫn còn tàn dư.

Không có các tư liệu lịch sử miêu tả về tổ chức xã hội của người Việt trước khi trở thành một bộ phận thuộc địa của người Hán. Các sự kiện trước thời thuộc Hán mang tính huyền sử, xen giữa sự kiện được ghi chép qua loa trong chính sử Trung Quốc với những truyền thuyết dân gian không rõ niên đại xuất xứ. Những mảnh vụn về xã hội trước thuộc Hán thường được soi chiếu lại qua màng lọc của các Nho sĩ từ thế kỷ thứ 9 trở về sau, và được viết – phiên âm theo tiếng Hán, do đó rất nhiều chi tiết không thể xác nhận được. Ví dụ như: Cương vực của nước Văn Lang và nước Âu Lạc như thế nào, Hùng Vương là nam hay nữ, những cấp bậc vua quan thời trước Hán thuộc như thế nào… tất cả đều mơ hồ. Tuy nhiên, vẫn có những dấu vết cho thấy vị trí đặc biệt quan trọng của người phụ nữ trong xã hội ấy.

Trước tiên phải kể đến sự tích Lạc Long Quân và Âu Cơ. Tích truyện của Lạc Long Quân và Âu Cơ đều được ghi lại trong “Việt Điện U Linh” và “Lĩnh Nam chích quái”. Ở cả hai cuốn sách này đều ghi nhận chi tiết người con cả nằm trong số năm mươi người theo mẹ Âu Cơ lên núi (chứ không phải theo cha Lạc Long Quân xuống biển). Chi tiết này cho thấy người con theo mẹ có địa vị cao hơn và chủ chốt trong cộng đồng hơn. Tuy nhiên, cũng có thể lý giải rằng câu chuyện chỉ là một phần được kể lại của người Âu Việt cổ mà thôi.

Trong cuộc tranh giành của Sơn Tinh và Thủy Tinh để lấy Mỵ Nương (cách gọi chung để chỉ con gái vua Hùng) cũng cho thấy vị trí của Mỵ Nương trong cộng đồng cổ. Mỵ Nương không phải cô công chúa đem gả bán, mà là công chúa có quyền được tuyển chọn chồng dựa trên năng lực của mỗi người đàn ông tới cầu hôn.

Trong truyền thuyết về An Dương Vương và Mỵ Châu – Trọng Thủy, Mỵ Châu, khi thua trận, An Dương Vương chỉ mang theo Mỵ Châu để chạy trốn. Và khi Mỵ Châu qua đời, thân hình hóa thành tảng đá cụt đầu được thờ ở đền Cổ Loa, trở thành một vị nữ thần, thì cũng đủ để ta thấy vai trò của Mỵ Châu đối với các cư dân Âu Lạc.

Khi bước vào thời kỳ thuộc Hán, cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng và các nữ tướng khắp nơi từ Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc) tới toàn bộ khu vực miền Bắc Việt Nam (vai trò các nam tướng không đáng kể) vào khoảng năm 40-43 SCN là bằng chứng khẳng định vị thế thống lĩnh của các nữ chúa trong xã hội cổ sơ ấy, khi mà sự đô hộ của triều Hán vẫn chưa thiết lập vức chắc và chưa thoán đoạt quyền thống trị của phụ nữ tại vùng đất này. Tình trạng này vẫn còn kéo dài tới khởi nghĩa của Bà Triệu vào thế kỷ thứ 3 SCN dù cho chính quyền đô hộ đã vững chắc hơn. Vị trí của người phụ nữ được đề cao trong xã hội là những dấu vết còn lưu lại của thời kỳ mẫu hệ, khi mà phụ nữ có quyền uy tối cao hơn so với đàn ông. Xuất phát từ chính vị thế ấy, những vị nữ thần hẳn nhiên có một vị trí đặc biệt trong văn hóa Việt Nam. Nhưng sự đặc biệt ấy sẽ không phải chủ đề chính của bài viết này. Tôi quan tâm đến khía cạnh chuyển đổi các mô hình nữ thần ở Việt Nam và cách tín ngưỡng sùng bái nữ thần bị bóp méo, sai lệch trong dòng lịch sử cố cưỡng lại chế độ nam quyền của mình.

Mô hình quyền uy: Những vị nữ thần định đoạt số phận dân tộc

Tuy nữ thần không đóng vai trò như Đấng Sáng Thế trong văn hóa của người Việt Nam, nhưng một hình tượng nữ thần được người Việt Nam thờ như người mẹ sáng tạo ra người dân Việt lại rất phổ biến, đó là Âu Cơ. Âu Cơ là con gái của Đế Lai (hậu duệ Thần Nông thị Viêm Đế) và là vợ của Lạc Long Quân (cũng một hậu duệ khác của Viêm Đế). Âu Cơ đã thụ thai từ Lạc Long Quân và đẻ ra bọc trăm trứng, từ trăm trứng nở ra trăm người con. Ghi chép cổ nhất với các chi tiết này chính là “Lĩnh Nam chích quái” tương truyền được biên soạn vào thời nhà Trần, sau này thành tư liệu tham chiếu cho “Đại Việt sử ký toàn thư” của Ngô Sỹ Liên thời Lê. (3)

Một phiên bản cổ xưa hơn của câu chuyện Âu Cơ đẻ trăm trứng trăm con là “Lục Độ Tập Kinh”. “Lục Độ tập kinh” hay còn gọi là “Lục Độ vô cực kinh” là cuốn truyện giảng giải các giáo lý Phật giáo do thiền sư Khương Tăng Hội dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Hán ở thời Đông Ngô dưới sự cai trị của Tôn Quyền, tức khoảng thế kỷ thứ 3 SCN. Cuốn kinh này  có nhắc đến tích “trăm trứng trăm con” như sau:

Xưa có mẹ góa, làm thuê cho một nhà giàu, trông coi vườn ruộng. Người chủ có việc, cho ăn quá giờ. Đến lúc định ăn, sa môn tới xin. Lòng nghĩ: “Người này dứt dục bỏ tà, nết hạnh thanh chân. Cứu người đói bốn biển không bằng cúng một chút cho bậc chân hiền giới hạnh thanh tịnh”. Bèn đem phần ăn để hết vào và một cành hoa sen để lên bát mà dâng. Đạo nhân hiện thần thông, phóng ra ánh sáng. Người mẹ vui vẻ khen: “Đây đúng là bậc thần thánh sao? Nguyện tôi sau này sinh được một trăm người con như vậy”.

Mẹ goá chết, hồn đi, muốn làm con nối dõi người phạm chí, nên hồn tụ lại chỗ tiểu tiện của phạm chí. Con nai liếm tiểu tiện, liền cảm thụ thai. Mãn ngày, sinh một bé gái. Phạm chí nuôi nấng, lúc hơn mười tuổi, mặt mày sáng rỡ, dáng vẻ yêu kiều, ở nhà giữ lửa. Cô chơi với nai, không ngờ lửa tắt. Cha về giận dữ, sai đi xin lửa. Cô đến xóm người, mỗi bước mọc một hoa sen. Người chủ có lửa nói: “Cô đi ba vòng nhà ta, ta sẽ lấy lửa cho cô. Cô đi theo lời, hoa mọc trên đất quanh nhà ba vòng. Hành giả nghỉ chân, không ai không lấy làm lạ. Phút chốc tiếng đồn đến tai quốc vương. Vua sai thầy tướng xem tướng sang hèn. Thầy nói: “Ắt có con nối giòng thánh truyền ngôi vô cùng. Vua sai hiền thần đủ lễ rước về. Mặt hoa đẹp đẽ, cung nhân không ai bằng.

Mang thai đủ ngày, sinh ra một trăm cái trứng, hoàng hậu cung phi cho đến tì thiếp không ai là không ghét. Bèn chặt cây chuối khắc hình tượng quỉ, đợi khi sinh, lấy tóc phủ lên mặt, bôi nước bùn dơ lên cây chuối rồi đem trình vua. Bọn yêu che sáng, vua lầm tin theo.

Lũ tà lấy hũ đựng trứng, bịt kín miệng lại, quăng xuống giòng sông. Trời Đế Thích xuống lấy ấn đóng miệng lại, chư thiên theo giữ, xuôi dòng dừng lại như trụ cắm đất. Vua nước hạ lưu đang ở trên đài, xa thấy giữa dòng có hũ trôi xuống, ánh sáng rực rỡ, như có oai trời. Bèn vớt lên xem, thấy dấu ấn Đế Thích, mở có trăm trứng, ra lệnh trăm người đàn bà ấp nuôi ấm nóng. Đủ ngày thành hình, nở ra trăm người con trai, sinh ra đã có trí thượng thánh, không dạy mà vẫn tự biết, nhan sắc hơn đời, tướng tốt hiếm có, tài cán thế lực hơn người trăm lần, tiếng nói vang như sư tử rống.

Vua liền sắm đủ một trăm voi trắng, yên cương bảy báu, để cho con thánh nối dòng, khiến đi chinh phạt lân quốc. Bốn phương hàng phục, đều đến xưng thần. Lại đi đánh nước mình sinh ra. Cả nước lớn bé không ai là không run sợ. Vua hỏi: “Ai có khả năng chống lại lũ địch này?”. Phu nhân nói: “Đại vương đừng sợ, hãy xem quân địch từ đâu, công thành hướng nào thì đến đó dựng đài quan sát. Tôi sẽ vì vua mà hàng phục chúng. Vua liền ra xem quân địch từ đâu, rồi cho dựng đài. Người mẹ lên đài, cất tiếng nói: “Tội lớn phản nghịch có ba. Không xa bọn tà, đời sau chịu tội, đó là một. Sống không biết cha mẹ, làm ngược hiếu hạnh, đó là hai. Ỷ thế giết cha mẹ, độc ác với ba ngôi báu, đó là ba. Ôm giữ ba nghịch, ác ấy không gì che nổi, các ngươi há miệng, chứng cớ hiện ngay”. Người mẹ nắm vú mình, trời khiến sữa bắn, khắp miệng trăm con. Cảm sự tinh thành, uống sữa lòng buồn. Tất cả đều nói: “Đây chắc mẹ ta”. Nước mắt ràn rụa, chắp tay bước lên, cúi đầu hối lỗi. Mẹ con mới gặp, không ai là không khóc lóc. Hai nước hòa thuận, tình hơn anh em, tám phương vui mừng, không ai là không khen hay. (4)

Ngoài chi tiết “Trăm trứng trăm con” tương đồng giữa phiên bản của “Lĩnh Nam chích quái” và “Lục độ tập kinh”, còn có chi tiết người cha đem vứt bọc trứng đi  cũng tồn tại ở cả hai bản này. “Lĩnh Nam chích quái” hoặc chính dân gian đã lược bỏ vai trò của Đế Thích và xuất xứ là người phạm chí (tức Bà La Môn) ra khỏi câu chuyện để phù hợp với bối cảnh Nho giáo thời Trần. Như vậy, có khả năng, nguyên mẫu nữ thần Âu Cơ có xuất xứ từ Ấn Độ. Tôi thử tìm kiếm trong thần thoại Ấn Độ một câu chuyện tương tự và tôi đã bắt gặp lần nữa tích về người mẹ đẻ ra trăm đứa con.

Sử thi MahaBharata có nhắc đến Gandhari, công chúa của vương quốc Gandhara, mẹ của một trăm người con trai Kauravas (nghĩa là người thừa kế của vua Kuru). Gandhari có thai trong một thời gian lâu bất thường và trong lúc Gandhari đau khổ khi chứng kiến vợ chồng người em trai của chồng mình sinh con, nàng đã đẻ ra một bọc màu xám. Veda Vyasa đã đem cái bọc màu xám này chia thành 100 phần, ủ xuống đất và sau đó từ 100 phần, những đứa trẻ “thần thánh” đã ra đời.  Câu chuyện về nàng công chúa xứ Gandhara có lẽ đã ảnh hưởng đến Phật giáo ở vương quốc này dưới thời của vương triều Qúy Xương và sau đó được các thầy tu ghi chép lại trong “Lục độ tập kinh”, rồi qua nhiều lần được nhào nặn với các lớp thần thoại về gốc tích của người Việt mà hình thành nên tích Hồng Bàng thị mà “Lĩnh Nam trích quái” ghi chép.

Công chúa Gandhari và 100 người con trong Sử thi MahaBharata có thể liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu Âu Cơ tại Việt Nam

Tuy nhiên, qua từng lớp khúc xạ, hình mẫu người mẹ đẻ ra trăm đứa con đã được biến chuyển để mang những lớp ý nghĩa khác nhau. Ở Ấn Độ, Gandhari được thờ không phải với vị thế như một nữ chúa tối cao của vũ trụ (vốn đã có nhiều nữ thần đảm nhiệm vị trí này), mà được thờ như một vị nữ thần đại diện cho tình yêu dành cho người chồng và cho con. Trong “Lục Độ Tập Kinh”, người mẹ đại diện cho tinh thần hướng đạo và tình yêu thương có thể thuần hóa được những đứa con. Còn trong truyền thuyết về Hồng Bàng thị, mẹ Âu Cơ đơn thuần đại diện cho hình ảnh người mẹ của toàn bộ dân tộc Việt, nhằm đoàn kết các bộ tộc khác nhau sống ở miền Bắc Việt Nam thành một khối thống nhất. Theo như Liam Kelly, một học giả chuyên nghiên cứu về thần thoại và văn hóa Việt Nam, những ghi chép về Hồng Bàng thị chỉ được ghi nhận vào thế kỷ 15 và ông gọi đây là “truyền thống được kiến tạo” bởi giới tinh hoa Nho học thời bấy giờ. (5) Những yếu tố kì dị đã được thu thập từ nhiều nguồn để bồi đắp cho sự kiến tạo này và một trong các nguồn ấy chính là từ Ấn Độ. Hình ảnh vị nữ thần Âu Cơ – mẹ của người Việt là biểu tượng cho tinh thần đoàn kết dân tộc mà các Nho sĩ nhà Lê ở thế kỷ 15 muốn quảng dương. Tinh thần ấy có lẽ đã ảnh hưởng tới lớp thần thoại của người Mường trong sử thi “Đẻ đất đẻ nước” khi người Mường ở Bá Thước, Thanh Hóa truyền miệng câu chuyện về chim Ây và cái Ứa đẻ ra trăm ngàn trứng nở ra vạn vật, trong đó có trăm trứng nở ra người Mường và người Kinh.

Ở vùng đất phương Nam của Việt Nam, nữ thần cũng đóng vai trò định đoạt số phận của dân tộc dù trải qua nhiều lớp văn hóa. Trước sự tồn tại của vương quốc Chăm pa, người Chân Lạp đã xây dựng một quốc gia tại giải đất nam trung bộ và nam bộ. Về sau, với sự lớn mạnh của vương quốc Chăm pa, người Chân Lạp bị dồn xuống khu vực nam bộ và đã xây dựng ở đó một quốc gia riêng. Người Chân Lạp có một truyền thuyết kỳ quặc về một vị nữ thần và các ông vua dễ gợi ta nhớ đến truyền thuyết về sử thi anh hùng Beowulf của Bắc Âu. Sử sách ghi chép về Chân Lạp không nhiều, đa phần là các tài liệu tiếng Hán. Trong một cuốn sách du ký của một vị quan nhà Nguyên vào thế kỷ 13 là Chu Đạt Quan, ông đã kể lại về vị nữ thần ấy như sau:

Trong nội có tháp vàng, ban đêm quốc chủ nằm phía trên. Người bản địa đều nói rằng trong tháp có xà tinh chín đầu, ấy là chúa đất đai cả nước, đêm đêm hiện lên thành hình người con gái, quốc chủ trước tiên cùng nằm và giao cấu với nó, vợ vua cũng không dám vào. Đến trống canh hai thì vua ra, bấy giờ mới có thể ngủ với thê thiếp. Nếu con tinh một hôm không thấy hiện lên thì tức là ngày chết của phiên chúa đã đến, nếu phiên chúa một đêm không đến thì ắt chịu tai họa. (6)

Câu chuyện mà Chu Đạt Quan nhắc đến có truyền thống bắt nguồn từ vị tổ tiên sáng lập vương quốc Preah Thong đã lấy nữ thần rắn chín đầu làm vợ.  Vua Preah Thong (Kaundinya I) và Neang Neak (Nữ hoàng Soma), biểu tượng của người Khmer cổ, được cho là đã thành lập nên đế quốc Phù Nam phồn thịnh. Preah Thong đã lấy cây cung ma thuật của Neang Neak, con gái của vua rắn Naga chín đầu, sau đó lấy nàng làm vợ, và lập ra vương triều của mình, cùng nhau cai trị. (7) Lớp huyền thoại này có ảnh hưởng trực tiếp từ phía Nam Ấn Độ và có ảnh hưởng đến không chỉ miền Nam Việt Nam mà cả cộng đồng người Khmer ở Đông Nam Á. Vị nữ hoàng hay nữ thần rắn Soma – Neang Neak đã giữ vị trí tối cao trong đời sống chính trị và tâm linh người Khmer.

Như vậy có một sự tương đồng giữa hai vị nữ thần ở miền bắc là Âu Cơ và nữ thần ở miền nam là Soma – Neang Neak: cả hai đều là những người mẹ của một quốc gia và không đại diện cho sức mạnh vũ trụ mà đại diện cho sức mạnh quyền uy của vương triều. Mô hình nữ thần này không tồn tại trong thế giới các vị thần của Chăm pa vốn chịu ảnh hưởng lớn từ Hindu giáo vốn coi quyền uy vương triều thuộc về đàn ông và biểu tượng phụ nữ dành cho sự phồn thực.

Mô hình tưởng nhớ trong tín ngưỡng thờ nữ thần tại Việt Nam

Sự thờ cúng những nữ thần cũng như các nam thần chịu sự ảnh hưởng của văn hóa thờ cúng tổ tiên và người có công với cộng đồng từ văn hóa bản địa hay từ Nho giáo đều mang tính chất tưởng nhớ: Một liệt nữ, một nữ anh hùng cứu dân giúp nước, một cô gái chung tình son sắt… tất cả đều là đối tượng của mô hình thờ cúng mang tính chất tưởng nhớ. Các vị nữ thần này thường là các nhân thần (được ghi chép trong lịch sử hay truyền thuyết), đều đại diện cho các giá trị đạo đức mà người dân Việt Nam tôn trọng. Hiện tượng này chủ yếu phổ biến ở người Việt ở miền Bắc Việt Nam và chỉ lan đến miền Nam cùng lớp dân di cư sau thời cai trị của các chúa Nguyễn tại vùng đất này (thế kỷ 16 trở về sau).

Núi Vọng Phu ở Khánh Hòa , một hình thức tưởng nhớ tương đương với tín ngưỡng thờ nữ thần

Bảng danh sách ngắn các vị nữ thần được tưởng nhớ phổ biến tại  Việt Nam (không đề cập đến các vị thành hoàng làng,tổ nghề, nữ hoàng và hoàng hậu nắm quyền lực,  các nữ sĩ nổi tiếng)

Khu vựcTên nữ thầnCâu chuyện liên quanÝ nghĩa
Bắc BộTrưng Trắc & Trưng Nhị cùng các nữ tướngCuộc khởi nghĩa chống lại nhà Hán của Hai Bà Trưng (40 – 43 SCN). Cuộc khởi nghĩa thất bại, Hai Bà Trưng nhảy xuống Hát Môn, tự vẫn. Dân lập đền thờ ở huyện An Hát (tức Phúc Thọ, Hà Nội ngày nay). Vua Lý Anh Tông gặp lúc hạn hán, cầu mưa thì thấy hai bà hiển linh, do đó cho xây đền ngay tại Kinh thành Thăng Long. (8) Cùng với Hai Bà Trưng, các nữ tướng tham gia cuộc khởi nghĩa cũng được thờ rải rác khắp Bắc Bộ và phía bắc Bắc Trung Bộ.Tinh thần yêu nước
 Tây Thiên Quốc Mẫu Lăng Thị TiêuBóc tách Quốc Mẫu Tây Thiên Lăng Thị Tiêu khỏi lớp vỏ Đạo Mẫu mới tiếp nhận từ thế kỷ 19 đến nay, ta sẽ thấy rằng đây là một nữ thần của bộ tộc Sán Dìu có gốc Quảng Đông sống ở vùng núi Tam Đảo với vai trò như một thủ lĩnh và có tu luyện ma thuật. Những người Sán Dìu di cư đến Tam Đảo cách đây hơn 300 năm trước và đã tổ chức những nghi lễ thờ cúng bà tại đây, duy trì đến tận ngày nay. (9)Cố kết cộng đồng Sán Dìu tha hương tại Tam Đảo
 Mỵ ÊKhi Lý Thái Tông tiến đánh Chiêm Thành (1044), giết được vua Chiêm là Sạ Đẩu, bắt được vợ của Sạ Đẩu là nàng Mỵ Ê. Thấy Mỵ Ê xinh đẹp, Lý Thái Tông muốn nạp nàng làm thiếp. Mỵ Ê không chịu, đi qua Châu Giang (Phủ Lý), nàng nhảy xuống sông tự tử. Lý Thái Tông thương tiếc người phụ nữ trinh liệt nên cho lập đền thờ cúng. (10)Đức hạnh trinh liệt
 Chúa Thác Bờ Đinh Thị VânĐinh Thị Vân là con gái của một chẩu mường ở Kim Bôi, Hòa Bình đã có công giúp Thái Tổ Lê Lợi  trong quá trình ông tiến đánh Đèo Cát Hãn vào thế kỷ 15. Bà kêu gọi nhân dân quyên góp lương thực, tổ chức chèo thuyền đưa nghĩa quân vượt sông Đà, tổ chức khao quân. Lê Lợi đã dùng kiếm Thuận Thiên khắc bài thơ cảm khái công lao của bà lên đá, hiện phiến đá đang được lưu ở Viện Bảo tàng văn hóa Mường tỉnh Hòa Bình. (11)Công lao giúp triều đình nhà Lê đánh giặc
 Ngọc Hân công chúaLê Ngọc Hân (1770 – 1799) là công chúa được Lê Hiển Tông gả cho làm vợ của Quang Trung Nguyễn Huệ khi ông tấn công miền Bắc năm 1786 để kiểm soát quyền lực của quân Tây Sơn. Khi nhà Lê mất, Ngọc Hân vẫn trung thành với quân Tây Sơn. Khi triều Tây Sơn sụp đổ, Nguyễn Ánh đã cho giết bà cùng với nhiều hoàng thất, quan lại phục vụ Tây Sơn. Hài cốt của Ngọc Hân được người dân miền bắc cướp lại và đem giấu ở đền Ghềnh (Gia Lâm) và đền Nành (Ninh Hiệp), đều trong khu vực Hà Nội. (12)Thương xót cho số phận hồng nhan và sự thủy chung
 Mỵ ChâuCon gái của An Dương Vương, tương truyền bị An Dương Vương chém đầu khi phát hiện ra nàng chính là người đã đưa nỏ thần cho Trọng Thủy và rắc lông ngỗng để Trọng Thủy có thể tìm được cha con Mỵ Châu. Sau khi Mỵ Châu mất, nàng hóa thành tảng đá cụt đầu, máu nàng đổ xuống biển khiến những con trai ăn được và tạo thành ngọc trai.Thương xót vì tình yêu chung thủy bị lợi dụng trong chiến tranh
Bắc Trung BộBà TriệuTriệu Thị Trinh hay Triệu Ẩu (tên gọi không chính xác) khởi nghĩa chống lại sự cai trị của nước Đông Ngô vào thế kỷ thứ 3 nhưng thất bại. Sau khi bà tuẫn tiết, những người dân ở quanh khu vực núi Nưa, Thanh Hóa đã thương tiếc và thờ bà cho đến nay. (13)Tinh thần yêu nước
 Chế Thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích ChâuTương truyền đây là sủng phi bị Trần Duệ Tông hiến tế ở cửa biển Xích Lỗ để tàu chiến có thể đi qua trong chiến dịch của nhà Trần đánh Chiêm Thành vào cuối thế kỷ 14. Tuy nhiên, chi tiết này không được ghi lại trong chính sử hay bài thơ đề của Lê Thánh Tông khi đến thăm đền Chế Thắng. Những chi tiết về nàng Bích Châu đầu tiên chỉ được đề cập đến trong “Truyền kỳ Tân Phả” của Đoàn Thị Điểm ở thế kỷ 18, vốn là một câu chuyện được viết với bút pháp truyền kỳ, mang nhiều yếu tố hư cấu. (14)Tinh thần yêu nước và trinh liệt
Nam Trung Bộ và Nam BộHuyền Trân công chúaHuyền Trân công chúa (1287 – 1340) là một công chúa triều Trần được gả sang Chiêm Thành để đổi lấy hai châu Ô – Lý, tức từ đèo Hải Vân đến Quảng Trị ngày nay.  Khi vua Chiêm Thành là Chế Mân chết, Huyền Trân được đưa về Thăng Long và đi tu. Huyền Trân được thờ ở Nam Định để tưởng nhớ sau khi mất và đặc biệt là ở Huế vào thời Nguyễn như một thần mẫu. (15)Tinh thần hi sinh vì đất nước
 Đá Vọng PhuChúng ta thường biết về đá Vọng Phu tức nàng Tô Thị ở Lạng Sơn với câu chuyện người vợ chờ chồng nhưng người chồng thực ra là người anh trai đã lưu lạc của cô. Tuy nhiên, sự tích cổ xưa nhất ghi chép về đá Vọng Phu được lưu trong “Lĩnh Nam chích quái” lại cho biết địa điểm ban đầu của đá Vọng Phu thuộc huyện Vũ Xương, cửa biển Thuận Hóa (tức Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế ngày nay). (16)Sự chung thủy của người phụ nữ
 Võ Thị SáuVõ Thị Sáu (1933 – 1952) là một nữ chiến sĩ Cách mạng bị Pháp bắt vì ám sát nhiều sĩ quan Pháp, và giam ở Côn Đảo. Sau khi Võ Thị Sáu bị xử tử, nhiều chi tiết ly kì và huyền bí đã đưa Võ Thị Sáu lên trở thành một vị nữ thần được thờ cúng ở vùng biển quanh Côn Đảo. Tín ngưỡng thờ Võ Thị Sáu được khơi dậy bởi tỉnh trưởng Côn Đảo thời Việt Nam Cộng Hòa là Tăng Tư do ông này cầu “chị Sáu” giúp đều được linh ứng. Về sau, khi Việt Nam thống nhất, Võ Thị Sáu được thờ như nữ anh hùng đã đấu tranh và hi sinh cho đất nước. (17)Tinh thần bất khuất và hi sinh cho đất nước

Mô hình chủ đạo: Nữ thần mang lại phồn thực, phồn thịnh và bảo hộ cho cộng đồng và các cá nhân

Đây là mô hình chủ yếu của các nữ thần tại Việt Nam, cho dù những nguyên nhân người dân lựa chọn thờ họ ban đầu không hoàn toàn đến từ ý nghĩa phồn thực và phồn thịnh mà có thể đến từ nhiều nguyên nhân khác như nỗi sợ hãi, sự tưởng niệm, hay tích truyện kì dị… Sự phồn thực chủ về sinh đẻ, phồn thịnh chủ về giàu có, bảo hộ chủ về sinh mệnh dài lâu, tất cả tạo nên một mô hình thờ cúng nữ thần tích hợp giữa cầu mưa thuận gió hòa phục vụ đời sống nông nghiệp với vị thần mang lại giàu có và khỏe mạnh, trừ tai họa cho các cá nhân trong cộng đồng. Mô hình này đặc biệt phổ biến ở tất cả các trường hợp nữ thần tại Việt Nam và là mô hình thờ nữ thần chủ đạo của Đạo Mẫu.

Bảng danh sách ngắn các nữ thần phồn thực, phồn thịnh và bảo hộ (không thống kê các thần trong đạo Mẫu, thành hoàng làng,tổ nghề, nữ hoàng và hoàng hậu nắm quyền lực,  các nữ sĩ nổi tiếng)

Lớp văn hóaNữ thầnTích truyện và sự chuyển biếnKhu vực thờ cúng
Ảnh hưởng từ Ấn ĐộMan Nương và Tứ PhápNàng Man Nương do tư thông với Khâu Đà La nên có con, Man Nương đem người con cho Khâu Đà La. Khâu Đà La đặt đứa con vào một gốc cây dâu, gốc cây dâu nuốt trọn đứa con. Một lần mưa bão, cây dâu bị đổ và trôi theo nước lũ. Người dân lấy cây dâu đẽo thành tượng là Tứ Pháp  và thường tổ chức lễ rước để cầu mong mưa thuận gió hòa. (18)Đồng bằng Bắc Bộ
 Thiên Y A Na (Bà Chúa Ngọc, Poh Nagar)Poh Nagar có nghĩa là bọt biển, là một vị nữ thần trên trời giáng thế. Bà xây cung điện và có nhiều chồng ở hậu cung, cũng đẻ nhiều con. Khi được Việt hóa, Poh Nagar có tên là Thiên Y A Na và được kể rằng có một đoạn tình yêu với vị thái tử trần tục. Khi bà và hai người con về trời, thái tử hành hạ dân phải tìm bà, người dân cầu bà thì thấy linh ứng. (19)Nam Trung Bộ
 Quán Thế Âm nghìn mắt nghìn tayTrong Phật giáo, Quán Thế Âm không phải là một nữ thần nhưng khi du nhập sang Việt Nam thì đã mang màu sắc nữ giới, đại diện cho tinh thần cứu khổ cứu nạn và ban phước.Toàn quốc
Ảnh hưởng từ Trung QuốcQuan Âm Nam HảiCũng tương tự như Quán Thế Âm nghìn mắt nghìn tay, khi Quán Thế Âm du nhập tới vùng biển phía Nam Trung Hoa thì được mang nhân dạng nữ với y phục màu trắng và đại diện cho sự bảo hộ người đi biển, mang lại sự giàu có cho ngư dân.Toàn quốc
 Thiên Hậu hay còn gọi là Ma Tổ hay Mẫu TổTên thật là Lâm Mặc Nương, một cô gái có phép thần thông, cảm hóa các ác thần. Nhưng cô gái này mất sớm, từ lúc mới mười sáu tuổi, ở ngoài biển. Nguyên nhân cái chết không rõ ràng. Người dân lập đền, thấy linh ứng nên thường thờ cúng. ( 20)Ven biển cả nước, đặc biệt là Nam Trung Bộ và Nam Bộ
 Tứ vị thánh nươngTứ Vị Thánh Nương có gốc tích không rõ ràng, chỉ biết là xác một người phi của một vị vua Tống Bắc và hai công chúa, một cung nữ bị trôi dạt vào bờ biển Việt Nam. Dân thương xót lập miếu. Về sau họ thành vị thần bảo hộ cho những người đi biển ở miền Trung. (21)Ven sông Hồng và biển Bắc Trung Bộ
Xuất hiện để phò tá các vị vuaVạn Phúc, Vạn Lộc, Vạn Thọ phu nhânVạn Phúc, Vạn Lộc là hai công chúa của Lý Nam Đế, theo học pháp thuật với Vạn Thọ Phu Nhân Ma thị. Theo truyền thuyết, họ giao chiến với hồ ly tinh ở hồ Tây dành chiến thắng, nhờ thế vùng hồ Tây mới được yên. Họ được xây đền thờ phụng ở ngay khu vực hang hồ ly xưa. (22)Hồ Tây (Am Gia Hội hay miếu Ba Bà)
 Bà Chúa KhoLà một hệ thống những nữ quản kho xuất hiện trong các cuộc chiến tranh, nổi tiếng nhất là Bà Chúa Kho ở Bắc Ninh và ở Hà Nội. Tuy nhiên, ý nghĩa tưởng niệm bị mất hoàn toàn mà đã bị thay thế bằng các hình thức cầu tài và vận may.Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội.
 Chúa Thác BờTích truyện đã nhắc ở bảng trên. Xin nói thêm: Hiện nay Chúa Thác Bờ cũng bị thay đổi ý nghĩa thờ cúng, từ tưởng nhớ sang hình thức cầu xin tài lộc.Hòa Bình
 Hậu Thổ phu nhânKhi Lý Thánh Tông đem quên đánh Chiêm Thành (Thế kỷ 11), khi đi đến cửa biển Hoàn Hải gặp mưa bão không đi được. Lý Thánh Tông nằm mơ thì gặp một vị nữ thần đến xin được thờ bái, sẽ giúp vua vượt biển. Lý Thánh Tông đi tìm gỗ để làm tượng nữ thần thì gặp khúc gỗ có hình người y như nữ thần trong mơ. Lý Thánh Tông rước về Hà Nội để thờ. Đến thời Trần Anh Tông, gặp lúc hạn hán, cầu mưa tại đền có linh ứng. Từ đó vị nữ thần này mang chức năng cầu mưa. Tuy nhiên, gần đây sự sùng bái vị nữ thần này cũng chuyển sang mục đích cầu tài lộc. (23)Đình Ứng Thiên, Láng Hạ, Hà Nội
 Hai Bà TrưngTích truyện như bảng trên. Xin nói thêm, sau thời Lý Anh Tông, Hai Bà Trưng trở thành vị thần làm mưa.Vĩnh Phúc, Hà Nội
Ảnh hưởng từ KhmerBà chúa XứKhông có tích cụ thể. Người dân tình cờ nhặt được một bức tượng, hực ra là tượng nam thần Khmer. Khi thờ thì thấy linh ứng nên ngày càng phổ biến. Đây là vị thần chuyên ban tài lộc.Đồng bằng sông Cửu Long
 Bà ĐenTương truyền là một thiên kim tiểu thư tên là Thiên Hương được một người con trai là Lê Sỹ Triệt cứu khi bị giặc cướp vây hãm. Thiên Hương muốn lấy Lê Sỹ Triệt vì cảm kích chàng, nhưng chưa kịp thành hôn thì người chồng phải tòng quân. Ở nhà, Thiên Hương bị kẻ xấu vây hãm, phải nhảy xuống núi tự tử. Sau khi mất, hồn nàng báo mộng cho sư trụ trì trên núi. Tuy nhiên khi xuất hiện, hồn nàng đen đúa, nên từ đó người ta gọi nàng là Bà Đen và núi cũng có tên nôm là núi Bà Đen. Có thuyết khác cho rằng đó là tên bà chủ của núi là Re Đeng, sau đọc trại ra thành Đen. Thuyết thứ ba cho rằng có một người con gái tên là Đênh, bị cọp vồ chết ở trên núi và ăn thịt, từ đó người ta thờ bà trên núi. Chữ Đênh đọc trại lại là Đen. Bà Đen là vị thần mang lại vận may về tình duyên. (24)Đồng bằng sông Cửu Long
Dân gianCác oan hồn thiếu nữ, được gọi là các CôKhắp cả nơi trên cả nước đều có rất nhiều những oan hồn thiếu nữ, người vì bệnh tật, người vì bị giết, người tự tử, người bị chôn sống để hiến tế hoặc làm thần giữ của. Những oan hồn này được lập miếu thờ và người dân cầu mong họ giúp bản thân có được sự giàu có, may mắn, tránh được tai ương.  (Ví dụ như trường hợp Bà Đen ở trên)Khắp cả nước

Từ tín ngưỡng thờ nữ thần đến sự hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu

Những liệt kê ở trên chỉ là một phần mang tính đại diện của số lượng lớn các nữ thần tại Việt Nam. Trong bảng thống kê năm 1984 của nhà nghiên cứu Đỗ Thị Hảo, sơ lược có 75 vị nữ thần được thờ ở hơn 250 di tích trên cả nước. (25) Các vị nữ thần ở Việt Nam thường được gọi bằng những danh xưng khác nhau, tùy theo cấp bậc do dân gian phong.

Bảng danh xưng ứng với cấp bậc các nữ thần

Danh xưngĐặc điểmVí dụ
Mẫu/Thánh mẫuMẫu hay Thánh mẫu là cách gọi Hán Việt của danh xưng “Mị” dùng để chỉ những người phụ nữ có địa vị cao được tôn thờ trong cộng đồng Việt cổ vốn có cùng gốc với Thái. (26)Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Âu Cơ, Phật Mẫu Man Nương… Về sau các nữ thần khác như Poh Nagar hay Bà Đen cũng được phong là Mẫu: Mẫu Thiên Y A Na hay Linh Sơn Thánh Mẫu…
Bà ChúaNhững nữ thần có địa vị cao ở một khu vực địa phương nào đóBà Chúa Thác Bờ, Bà Chúa Kho, Bà Chúa Ngọc…
Cách gọi trang trọng những vị nữ thần nói chungBà Đen, Bà Dâu, Bà Đậu, Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Bà Hỏa…
Vốn dĩ từ “Cô” dùng để gọi những “Bà Cô” tức những người phụ nữ chết trẻ trong một dòng tộc phù trợ hoặc ám ảnh người trong dòng tộc ấy. Tuy nhiên, dần dần, từ này được sử dụng chung để gọi những người phụ nữ chết trẻ được thờ cúng nhưng không rõ thân phận.Cô Bơ, Cô Bé, Cô Chín…

Như vậy, ta thấy rằng “mẫu” là một khái niệm để chỉ một nữ thần có địa vị tối cao trong lòng của một cộng đồng dân cư nào đó. Vì vậy, việc có hay chăng tồn tại một hệ thống đạo Mẫu  cố định theo mô hình Tam Phủ – Tứ Phủ  trong lịch sử đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi. Tuy nhiên, ta có thể biết rằng từ đầu thế kỷ 20, mô hình này đã khá phổ biến nhưng không có đền miếu chính thức mà chỉ ở trong các nhà riêng của thầy đồng. Tình trạng này kéo dài đến năm 1989. (27)

Mô hình Tam Phủ – Tứ Phủ hay đạo Mẫu là một tổ hợp tách biệt với các tín ngưỡng thờ nữ thần khác ở Việt Nam dù có sử dụng chung khái niệm “mẫu” để chỉ vị nữ thần tối cao. Nhiều người, do cách gọi tên này đã đồng nhất các vị nữ thần khác vào chung với hệ thống đạo Mẫu, từ đó gây lầm tưởng rằng đạo Mẫu là một chỉnh thể tín ngưỡng mang tính phổ quát và có gốc rễ lâu đời ở Việt Nam. Đạo Mẫu có lịch sử chưa đến 500 năm và cũng không có nhiều bằng chứng xác thực về sự tồn tại của Mẫu Liễu Hạnh – vị nữ thần có thể được coi là người sáng lập đạo Mẫu.

Những ghi chép sớm nhất về Liễu Hạnh được biết đến nay là “Truyền kỳ tân phả” của Đoàn Thị Điểm. “Truyền kỳ tân phả” kể lại ba kiếp giáng sinh của Liễu Hạnh và những đối đáp văn thơ giữa Liễu Hạnh và một Nho sinh nổi tiếng thời Lê Trung Hưng là Phùng Khắc Khoan (28). Mối quan hệ giữa một nhân vật mang tính truyền thuyết với một nhân vật lịch sử đã gia tăng thêm nhiều xác tín về sự tồn tại của Liễu Hạnh. Ở giai đoạn khai tông lập phái, theo truyền thuyết, Liễu Hạnh phải trải qua một cuộc chiến phép thuật với ba vị đạo sĩ trong Nội Đạo tràng và thua cuộc, nên phải quy y theo Phật pháp. Trong quá trình đối kháng lại tín ngưỡng khác, đạo Mẫu đã du nhập mô hình Tam Phủ: Thiên – Địa – Thủy vốn thờ nam thần phổ biến ở miền Bắc Việt Nam sang mô hình nữ thần tương ứng mà chúng ta biết đến là ba vị nữ thần Mẫu Thiên – Mẫu Địa – Mẫu Thoải hiện nay. (29) Sau đó, đạo mẫu tiếp nhận thêm vĩ nữ thần cai quản rừng nổi tiếng ở khu trung du miền Bắc là Mẫu Thượng Ngàn vào hệ thống, để Mẫu Thượng Ngàn đóng vai trò như Mẫu Địa. Để làm dầy dặn thêm thế lực của mình và chính thống hóa dần dần, đạo Mẫu bắt đầu đưa các vị nữ thần và nam thần ở các địa phương khác nhau vào hệ thống mặc dù trước đó truyền thuyết và lịch sử không ghi nhận bất cứ mối liên hệ nào với đạo Mẫu. Cho đến nay, tiến trình này vẫn đang tiếp tục được diễn ra thông qua quá trình các con nhang đệ tử của đạo Mẫu giúp “trùng tu”, “tôn tạo” các di tích.

Câu hỏi đặt ra là, tại sao một hệ thống tín ngưỡng mơ hồ như đạo Mẫu lại tồn tại và phát triển lớn mạnh như vậy? Bỏ qua những lý giải hàn lâm về tâm thức người mẹ hay tính nữ, tôi đi tìm một lý do gần gũi hơn. Một cách dễ thấy, các thầy đồng của đạo Mẫu sở hữu những kỹ năng tốt trong bói toán và tư vấn cho những “khách hàng” của mình. Họ xem bói, hướng dẫn phương pháp trừ tà, nhảy đồng, gọi hồn, cầu cúng… theo mọi yêu cầu. Đạo Mẫu hứa hẹn mang lại tài lộc và sức khỏe cho những con nhang đệ tử đi theo, và nhờ đó ngày càng lan rộng trong dân chúng, đặc biệt trong suốt 500 năm phát triển tương ứng với giai đoạn chiến tranh loạn lạc và đói kém liên miên. Nhưng có thể đó chỉ là bước phát triển rộng rãi của đạo Mẫu, thuở ban sơ, đạo Mẫu có lẽ đã phát triển nhờ vào một “thị trường ngách” nào đó. Tôi tìm được câu trả lời khi đọc những ghi chép của linh mục Leopold Cardiere khi ông tới Việt Nam truyền giảng. Qua những ghi chép của ông, tôi biết được rằng đạo Mẫu sở dĩ có được vị trí vững chắc là nhờ vào khả năng giúp những người phụ nữ khó có con cón thể thụ thai một cách bí ẩn. Ông viết:

Hầu như những nơi thu hút quần chúng  đến cầu đảo, mọi chốn tụ họp hành hương như Kiếp Bạc, Hương Tích, Phủ Giầy ở miền Bắc, Phố Cát ở Thanh Hóa, Hòn Chén ở Thừa Thiên, rồi vô số những điện miếu địa phương, ít nổi tiếng hơn, đều là những nơi đặc biệt để cầu tự. Thánh Mẫu, Bà Chúa Cửu Trùng, Bà Chúa Liễu Hạnh, Bắc Thần và nhiều vị khác đều có phép khiến cho các bà già khụ có thể thai nghén. Tại các nơi ấy có bán các y phục hay yếm có những bí tự và các bà mua, mang một cách thành kính; người ta còn xin bùa để mang vào cổ, khâu vào áo, những bùa yêu để nuốt vào miệng; họ dâng cúng của lễ, đốt hương, bói toán hậu vận bằng nhiều cách, lên đồng, thôi miên trong những trạng thái kỳ lạ. (30)

Vì mục đích cầu tự lúc ban sơ, nên ta có thể thấy các vong linh Cô Bé, Cậu Bé có mối liên hệ mật thiết với đạo Mẫu hơn những vị nữ thần và nam thần khác. Cô Bé và Cậu Bé trong đạo Mẫu không chỉ đóng vai trò như những vị tiểu thần phục vụ các Mẫu mà còn đóng vai trò chủ chốt trong quá trình phục vụ nhu cầu cầu tự của các “khách hàng”. Nhờ thế, đạo Mẫu đã có những “khách hàng” nổi tiếng, mà nổi tiếng nhất là Bà chúa Chè Đặng Thị Huệ, vợ của Trịnh Sâm. Đặng Thị Huệ đã tới Sùng Trân tự tức đền Sòng để cầu tự và sau đó đẻ ra chúa Trịnh Cán, giúp bà leo lên tột đỉnh quyền lực. Đặng Thị Huệ đã đưa đền Sòng từ vị trí “ngoài luồng”, chỉ lén lút phục vụ các bà các cô lên vị trí được thừa nhận một cách chính thống, tạo tiền đề cho đạo Mẫu mở rộng và thực hiện quá trình tích hợp (31)

Bảng danh sách các vị thần trong đạo Mẫu (Dựa trên sách “Tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ: chốn thiêng nơi cõi thực” của Thạc sĩ Trần Quang Dũng chủ biên)

Nhóm thầnTên thầnNguồn gốc/Vai tròMàu đại diện
Các MẫuMẫu Liễu Hạnh (Thánh Mẫu thần chủ)Sáng lập đạo MẫuĐỏ hoặc Vàng
 Mẫu Thượng Ngàn (Thánh Mẫu Nhạc Phủ)Du nhập từ hệ thống tín ngưỡng thờ thánh Tản ở Ba Vì và các truyền thuyết ở trung du miền núi phía Bắc. Mẫu Thượng Ngàn cai quản vùng rừng núi, đại diện cho yếu tố đất trong bộ ba Thiên – Địa – Thủy.Xanh
 Mẫu Thượng Thiên (Thánh Mẫu Cửu Trùng). Tên gọi khác: Thanh Vân công chúaCó thuyết cho rằng chính là Cửu Thiên Huyền Nữ trong Đạo giáo Trung Quốc. Tuy nhiên, có thể đây là một biến thể từ vị nam thần đại diện cho Thiên phủ đã đề cập ở trên.Đỏ
 Mẫu Thoải (Thủy Cung Thánh Mẫu). Tên gọi khác: Xích Lân Công chúaĐây là một biến thể từ vị nam thần đại diện cho Thủy phủ đã đề cập ở trên. Tích truyện liên quan đến Mẫu Thoải có gốc tích từ “Liễu Nghị truyện”, một truyện truyền kỳ thời Đường.Trắng
Ngũ VịTôn QuanQuan Lớn Đệ NhấtCai quản Thiên phủĐỏ
 Quan Lớn Đệ Nhị Giám SátCai quản miền rừng núi thượng ngàn, giám sát tam giới, nắm sổ sinh tử của trần gianXanh
 Quan Lớn Đệ TamCai quản miền sông nước. Thần tích cho biết ông là con vua Thủy quốc, có công giúp vua Hùng đánh giặc ngoại xâm.Trắng
 Quan Lớn Đệ Tứ Khâm SaiCó quyền Khâm sai bốn phủ, là vị thần từ Thiên cung được giao cai quản đất đai nơi con người sinh sống.Vàng
 Quan Lớn Đệ Ngũ. Tên gọi khác: Quan Lớn Tuần TranhSự tích cho biết ông là một vị tướng trấn giữ ở bến sông Tranh. Sau ông bị oan, nên bị đày lên Kỳ Cùng (Lạng Sơn) và qua đời. Ông hiển thánh, linh ứng, có phép thuật, cai quản âm binh, ra oai trừ quỷ nên được dân thờ phụng.Xanh da trời
 Quan Lớn Điều ThấtTruyền thuyết ghi nhận ông là tướng có công giúp vua Hùng dẹp giặc ngoại xâm, sau khi mất lại hiển linh trừ tà, nên được người dân thờ cúng. 
 Quan Lớn Đệ BátTruyền thuyết kể ông là con trai Bát Hải Động Đình, thường kề cận vua cha, hiển linh hàng ma phục yêu, cứu độ nhân gian. 
 Quan Lớn Triệu TườngĐây là trường hợp tích hợp chúa Nguyễn Hoàng vào hệ thống đạo Mẫu. 
Tứ phủ Chầu BàChầu Đệ Nhất Quế Hoa công chúaKệ cận Mẫu Thượng Thiên (khi ở Thiên phủ) và Mẫu Liễu Hạnh, được giao quyền giữ sổ tam tòa, cầm cân định tội phúc của thế gian.Đỏ
 Chầu Đệ Nhị Thượng NgànThường xuyên xuống đồng ban tài, tiếp lộc cho đệ tử. Bà là Khâm Sai của Mẫu Thượng Ngàn.Xanh
 Chầu Đệ TamThường cứu bệnh và độ thương cho nhân gian. Bà là Khâm Sai của Mẫu Thoải.Trắng
 Chầu Đệ Tứ Khâm Sai. Tên gọi khác: Chiêu Dung công chúaLà vị thánh chầu thuộc Địa Phủ, giữ sổ Tứ phủ, cai quản bản mệnh các thanh đồng, ra tay trừ quỷ, ban phát tài lộcVàng
 Chầu Đệ Ngũ hay Chầu Năm Suối LânGiúp dân làm ăn, hàng phục ma quái.Xanh da trời
 Chầu Lục hay Lục Cung nương nươngTương truyền là người Nùng, giáng sinh vào nhà họ Trần ở Lạng Sơn. Thường hay chấm đồng, cho thuốc chữa bệnh, cho lộc buôn bán, chứng lễ cho các con nhang đệ tửLam hoặc tím
 Chầu Bảy hay Chầu Bảy Kim GiaoTương truyền sinh ra trong gia đình dân tộc Mọi ở Mỏ Bạch, Thái Nguyên, có công giúp Hai Bà Trưng dẹp giặc, dạy dân canh tác. Có khả năng đây là vị nữ thần của dân tộc Mọi được tích hợp vào.Xanh tính hoặc vàng
 Chầu Bát hay Tiên Chúa Bát Nàn, Bát Nàn Đông Nhung Đại tướng quânTương truyền chính là nữ tướng Vũ Thị Thục trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Đây là trường hợp đạo Mẫu tích hợp vào hệ thống.Vàng
 Chầu Cửu hay Chầu Chín Cửu Tỉnh, Quỳnh Hoa công chúaTương truyền là thần tiên trên trời hiển linh, hỗ trợ Liễu Hạnh trong cuộc chiến Sòng Sơn.Hồng
 Chầu Mười hay Chầu Mười Đồng MỏTương truyền là người Thổ ở vùng Đồng Mỏ giúp Lê Lợi đuổi giặc Minh. Sau khi công thành thì lại về trời. Vai trò là thường phát lương cho trần gian no ấm. Đây có khả năng là vị thần được tích hợp vào hệ thống đạo Mẫu.Vàng
 Chầu BéCai quản tòa sơn trang Thượng Ngàn. Truyền thuyết kể rằng Chầu Bé vốn là người Nùng giáng sinh ở Bắc Lệ, Lạng Sơn.Chàm, xanh lam hoặc đen
 Chầu Thủ Đền (một số quan niệm là Chầu Bé Thoải)Cai quản đền, điện, phủ trong đạo MẫuMàu áo tùy vào từng phủ
Tứ phủ Thánh HoàngÔng Hoàng Cả hay Hoàng Cả Thượng ThiênThuộc thiên phủĐỏ
 Ông Hoàng ĐôiThuộc Nhạc phủ. Tương truyền là người Mán, có công dẹp giặc cứu dân. Từng cùng với Hoàng Bảy Bảo Hà dẹp giặc dưới thời vua Lê.Xanh
 Ông Hoàng Bơ hay Ông Hoàng Bơ Thoải CungGiáng phúc cho dân, ban lộc cho người buôn bán, cho người đi học đỗ đạt.Trắng
 Ông Bắc quốc hay Ông Bơ Bắc quốcVị tướng triều Minh lánh nạn sang nước ta, sau đó mất, có công giúp nước ta chống lại quân Thanh.Kiểu áo Tàu, màu không rõ
 Ông Hoàng Bảy hay Ông Hoàng Bảy Bảo HàTên húy là Nguyễn Hoàng Bảy, là vị quan triều đình traasn giữ Lào Cai, Yên Bái dưới thời Lê. Sau khi mất, ông hiển linh giúp nước nên được phong là thượng đẳng thần. Đây là vị thần được tích hợp vào đạo Mẫu.Lam, tím chàm hoặc hồng, đỏ
 Ông Hoàng BátTương truyền chính là Nùng Trí Ca. Đây là vị thần được tích hợp vào đạo Mẫu.Vàng
 Ông Hoàng Chín Hay Ông Chín Cờn MônTích không rõÁo the khăn xếp màu đen hoặc the hồng khăn xếp đỏ
 Ông Hoàng Mười hay Ông Hoàng Mười Nghệ AnCó nhiều tích, trong đó phổ biến nhất cho rằng ông là Lê Khôi hoặc Nguyễn Xí (tướng nhà Lê trong khởi nghĩa Lam Sơn). Tuy nhiên, các thủ từ giữ đền và con cháu của Lê Khôi và Nguyễn Xí đều phủ nhận mối liên đới với Ông Hoàng Mười. Đây là trường hợp đạo Mẫu tích hợp chưa toàn vẹn một nhân vật lịch sử và gặp phải sự phản kháng.Vàng
Tứ Phủ Thánh CôCô Đệ Nhất hay Cô Đệ Nhất Thượng ThiênTheo hầu Mẫu Liễu Hạnh và Chầu Đệ Nhất, thay Liễu Hạnh chấm lính, bắt đồng.Đỏ
 Cô Đôi hay Cô Đôi Thượng NgànLà thị nữ của Mẫu Thượng Ngàn. Tương truyền giáng sinh ở Ninh Bình trong một gia tộc họ Hà, có phép thuật, giúp nhân dân vùng núi làm ăn sinh sống, cai quản kho lộc sơn lâm nên thường ban tài lộc cho bách gia.Áo ngắn màu xanh, quầy đen
 Cô Bơ hay Cô Ba BôngLà thị nữ của Mẫu Thoải. Tương truyền có tham gia giúp Lê Lợi những năm đầu kháng chiến và có ước hẹn với ông, nhưng ông không trở lại.  Cai quản ngã ba Bông ở Thanh Hóa, giúp tàu thuyền qua lại dễ dàng.Trắng
 Cô Tư hay Cô Tư Ỷ La, Thánh Cô Đệ Tứ Khâm Sai, Cô Tư Tứ Tổng Tây HồThị nữ của Thánh mẫu đền Ỷ LaVàng cam hoặc vàng
 Cô Năm hay Cô Năm Suối LânLà thị nữ của Chầu Năm, chuyên coi sóc đền Suối Lân và giúp Chầu Năm cai quản rừng Suối Lân, Lạng Sơn.Xanh da trời
 Cô Sáu hay Cô Sáu Sơn Trang, Cô Sáu Lục CungLà thị nữ của Chầu Lục Cung nương, có tài chữa bệnh và bốc thuốc cứu người, vì vậy nhân dân vẫn đến xin thuốc trị bệnh.Lam hoặc chàm tím
 Cô Bảy hay Cô Bảy Kim Giao, Cô Bảy Tân LaLà thị nữ của Chầu BảyTím
 Cô Tám hay Cô Tám Đồi ChèTương truyền là người con gái hái chè ở Hà Trung, Thanh Hóa từng có công giúp vua Lê Lợi dẹp giặc, nên được thờ.Màu xanh theo lối người Mường Thanh Hóa
 Cô Chín hay Cô Chín Suối Rồng, Cô Chín Sòng Sơn, Cô Chín GiếngTheo hầu Liễu Hạnh, cai quản chín giếng thiêng làm nên dòng suối tự nhiênHồng
 Cô Mười hay Cô Mười Mỏ BaThị nữ của Chầu Mười, cùng tham gia với Chầu Mười xông pha trận mạcVàng
 Cô Bé (nhiều danh hiệu tùy từng địa phương) Thổ cẩm
 Cô Cam ĐườngHai cô gái giáng sinh trong gia đình buôn tơ vải ở Đình Bảng, Bắc Ninh có công giúp dẹp giặc cứu dân, rồi hóa ở Cam Đường, Lào Cai. Hai cô ban tài lộc nên được dân thờ phụng.Trang phục liền chị quan họ
Tứ Phủ Thánh CậuTên phụ thuộc ở từng vùngVốn là những cậu bé mất khi còn nhỏ tuổi ở nhiều khu vực khác nhau, được thờ trong các đền điện thuộc tín ngưỡng đạo Mẫu.Màu áo tùy khu vực đền thờ
Ngũ HổĐông Phương Giáp Ất Mộc Đức Thanh Hổ Thần quanTrấn phía đông. Du nhập từ Đạo giáo.Xanh
 Nam Phương Bính Đinh Hỏa Đức Xích Hổ Thần quanTrấn phía nam. Du nhập từ Đạo giáo.Đỏ
 Trung Ương Mậu Kỷ Thổ Đức Hoàng Hổ Thần quanTrấn ở trung tâm. Du nhập từ Đạo giáo.Vàng
 Tây Phương Canh Tân Kim Đức Bạch Hổ Thần quanTrấn phía tây. Du nhập từ Đạo giáo.Trắng
 Bắc Phương Nhâm Qúy Thủy Đức Hắc Hổ Thần QuanTrấn phía bắc. Du nhập từ Đạo giáo.Đen
Ông LốtThanh Xà Đại Tướng quânDu nhập từ Đạo giáo.Xanh
 Bạch Xà Đại Tướng quânDu nhập từ Đạo giáo.Trắng
 Các biến thể tùy từng khu đền mà có Hoàng Xà hay Hắc Xà  

Qua thống kê, ta có thể thấy số lượng và vị thế của các nữ thần áp đảo hơn hẳn so với nam thần. Các nam thần thường có vị thế nhỏ, chức năng hoạt động không rõ ràng, chủ yếu như một biểu hiện rằng các nam thần (hầu hết là những danh tướng) đều làm việc dưới trướng các bậc nữ nhi. Như vậy, ta có thể xem sự trỗi dậy của Đạo Mẫu giống như một sự phản kháng về mặt tôn giáo của những người phụ nữ Việt Nam trong dòng lịch sử vốn đang thuộc về hệ thống nam quyền. Do tính chất phản kháng này, Đạo Mẫu chấp nhận tình trạng “phát triển nóng” với một hệ thống kém tính hệ thống, không có lề luật rõ ràng và sẵn sàng cho phép tình trạng mê tín dị đoan lừa đảo bùng phát thông qua các hình thức nhập đồng, bói toán. Sự ca tụng đạo Mẫu trong thời gian gần đây của các học giả cũng được gợi hứng từ chính tinh thần phản kháng ấy, kết hợp với những tự ti dân tộc về một đất nước không có một tôn giáo của riêng mình. Dần dà, thứ tôn giáo mới có tên là “đạo Mẫu” ra đời và ngay từ những buổi sơ khai đã mang một hình hài chắp vá và chứa đầy bệnh hoạn.

Hà Thủy Nguyên

Chú thích

  1. https://www.nytimes.com/2009/05/14/science/14venus.html
  2. Từ điển Tôn giáo và các thể nghiệm siêu việt – Rosemary Ellen Guiley (NXB Tôn giáo 2005), Goddess, trang 354 & 355.
  3. Lĩnh Nam chích quái – Trần Thế Pháp, bản dịch của Đinh Gia Khánh & Nguyễn Ngọc San (NXB Trẻ & NXB Hồng Bàng 2013), Hồng Bàng thị, trang 35,36,37,38.
  4. Lục Độ Tập Kinh, Khương Tăng Hội, bản dịch của Lê Mạnh Thát. Link đọc online: https://thuvienhoasen.org/p55a24492/quyen-ba
  5. Tiểu luận “Hồng Bàng thị truyện như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam thời Trung Đại”, Liam Kelly https://bookhunterclub.com/hong-bang-thi-truyen-nhu-mot-truyen-thong-duoc-kien-tao-cua-nguoi-viet-nam-thoi-trung-dai/
  6. Chân Lạp phong thổ ký – Chu Đạt Quan, bản dịch của Hà Văn Tấn (NXB Thế giới & DTBooks, 2017), Cung thất, trang 34.
  7. The Journal of the Bihar Research Society, 1917, Volume 54, trang 68 https://books.google.com.vn/books?id=fHlDAAAAYAAJ&q=ligor+kingdom&dq=ligor+kingdom&hl=en&sa=X&redir_esc=y
  8. Việt điện u linh, Lý Tế Xuyên, bản dịch của Trịnh Đình Rư (NXB Hồng Bàng, 2012), Nhị Trưng phu nhân, trang 57.
  9. https://thegioidisan.vn/vi/quoc-mau-tay-thien.html
  10. Việt điện u linh, Lý Tế Xuyên, bản dịch của Trịnh Đình Rư (NXB Hồng Bàng, 2012), Hiệp Chính Hựu Thiện Trinh Liệt Chân Mãnh Phu Nhân, trang 58,59,60.
  11. https://kienthuc.net.vn/giai-ma/su-la-o-den-tho-chua-thac-bo-227493.html
  12. https://baomoi.com/ngoi-chua-ben-song-hong-va-so-phan-bi-oan-cua-nang-cong-chua-ngoc-han/c/27741974.epi
  13. https://nguoihanoi.com.vn/mot-ngay-voi-nui-nua-xu-thanh_235150.html
  14. Nguyên mẫu Chế Thắng phu nhân – Trần Thị Băng Thanh (Tạp chí Hán Nôm; Số 6 (85) 2007; Tr. 37 – 44) https://www.hannom.org.vn/detail.asp?param=1411&Catid=590
  15. https://giacngo.vn/PrintView.aspx?Language=vi&ID=765200
  16. Lĩnh Nam chích quái – Trần Thế Pháp, bản dịch của Đinh Gia Khánh & Nguyễn Ngọc San (NXB Trẻ & NXB Hồng Bàng 2013), Truyện thần núi Vọng Phu, trang 149
  17. https://cand.com.vn/Cong-an/Huyen-thoai-ve-co-Sau-linh-thieng-389032/
  18. Lĩnh Nam chích quái – Trần Thế Pháp, bản dịch của Đinh Gia Khánh & Nguyễn Ngọc San (NXB Trẻ & NXB Hồng Bàng 2013), Truyện Man Nương, trang 84, 85, 86
  19. Lược theo lời kể của Quách Tấn, Bước lãng du, Nhà xuất bản Trẻ, 1996, tr. 438-440
  20. docstoc.com/docs/2623355/THIEN–HAU–NUONG-NUONG
  21. https://www.vjol.info/index.php/khxhvn/article/viewFile/24805/21227
  22. https://mobile.coviet.vn/detail.aspx?key=am+Gia+H%E1%BB%99i&type=A0
  23. Lĩnh Nam chích quái – Trần Thế Pháp, bản dịch của Đinh Gia Khánh & Nguyễn Ngọc San (NXB Trẻ & NXB Hồng Bàng 2013), Truyện Ứng Thiên Hóa Dục Hậu Thần, trang 146,147.
  24. https://antg.cand.com.vn/Kinh-te-Van-hoa-The-Thao/Huyen-tich-Linh-Son-Thanh-Mau-nui-Ba-den-381839/
  25. Văn hóa thờ nữ thần ở Việt Nam và châu Á: Bản sắc và giá trị (Hội Folklore Châu Á & Trung tâm nghiên cứu & bảo tồn tín ngưỡng Việt Nam & NXB Thế Giới, 2013), Đạo mẫu Việt Nam: Từ nữ thần, mẫu thần đến Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ – Ngô Đức Thịnh, trang 30
  26. Tiểu luận từ ngữ Thái (Tai) và vị trí của người Thái trong quá khứ của người Việt Nam, Liam Kelly https://leminhkhaiviet.wordpress.com/2013/12/26/tu-ngu-thai-tai-va-vi-tri-cua-nguoi-thai-trong-qua-khu-cua-nguoi-viet-nam-full/
  27. Cung văn và điện thần, Lê Y Linh (NXB Khoa học xã hội, 2015)
  28. Tiểu luận Vân Cát Thần Nữ Truyện của Đoàn Thị Điểm: Truyện giải phóng phụ nữ, Olgar Dror https://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/van-cat-than-nu-truyen-cua-doan-thi-diem-truyen-giai-phong-phu-nu
  29. Bài viết Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ: Một vài đặc trưng, TS Nguyễn Ngọc Mai https://tiasang.com.vn/-van-hoa/Thuc-hanh-tin-nguong-tho-Mau-Tam-phu-Mot-vai-dac-trung–10485
  30. Văn hóa tín ngưỡng và thực hành tôn giáo Việt – Leopold Cardier, Đỗ Trinh Huệ dịch (NXB Thuận Hóa, 2015), trang 101.
  31. https://bimson.gov.vn/ct/Default.aspx?ctl=Article&aID=10971

Hệ thống thờ cúng thần của người Việt

blogpost thumb

I – Khái niệm “Thần” trong văn hóa người Việt

“Thần” là một khái niệm rất khó định nghĩa cho dù ở bất cứ nền văn hóa nào. Một cách mơ hồ, ta có thể hiểu “thần” như một lực lượng siêu nhiên ở bên ngoài đời sống hiện hữu của con người nhưng vẫn có thể tác động đến số phận của mỗi cá nhân. Con người một các tự nhiên, đã sớm ý thức được cái chết của mình và sợ hãi tới mức lo lắng về tính chất hư vô của cái chết, và không chỉ có thế, họ tìm mọi cách để giữ gìn đời sống an toàn mà họ đang sở hữu với những người họ yêu thương, những gì họ sở hữu… Thế nhưng theo quy luật tự nhiên, không có gì là vĩnh cửu, con người phải đối mặt với sự mất mát ngoài tầm kiểm soát của bản thân. Nguyên nhân của sự mất mát cho dù là khách quan hay chủ quan thì cũng dễ khiến con người cảm nhận thấy một điều gì đó vô hình chi phối số phận của bản thân. Thế giới vô hình là bí ẩn đối với con người và con người diễn giải thế giới vô hình theo các cách khác nhau, một trong các cách ấy là do sự chi phối của thần linh.

Khi tìm hiểu về thờ cúng thần của một tộc người hay của một nền văn hóa, đương nhiên ta sẽ phải đối mặt với một nan đề khó giải, đó là tâm thức của người nguyên thủy. Tại sao người nguyên thủy lại thờ cúng thần? Thái độ của họ đối với vị thần của mình như thế nào? Sự phân biệt chính tà dựa trên cơ sở nào? Nguồn gốc của các vị thần mà họ tôn thờ ra sao?… Một loạt các câu hỏi được đặt ra mà với mỗi câu trong số đó, ta chỉ có thể tiệm cận đáp án, chỉ có thể đưa ra các giả thuyết chứ gần như không thể nhìn ra sự thật. Đáp án của chúng, thôi thì cũng chỉ có thể bí ẩn như thế giới vô hình kia, nhưng những con người tò mò lại không thể ngừng kiếm tìm lời giải. Bởi thế, ở đây tôi chỉ có thể mô tả về thế giới thần trong tâm thức của người Việt dựa trên những biểu hiện bề mặt thờ cúng, truyện dân gian được truyền lại, và những ảnh hưởng văn hóa của các vị thần linh trong đời sống tinh thần người Việt. Chỉ riêng vậy thôi cũng đã là một cuộc phiêu lưu lớn vào thế giới đa thần của một quốc gia đa tộc người và hỗn hợp nhiều luồng văn hóa.

Như đã nói, khái niệm “thần” vốn dĩ rất khó định nghĩa bởi yếu tố huyền bí của nó, thế nên ta chỉ có thể chấp nhận một định nghĩa sơ sài, chung chung. Theo như Từ Điển Tiếng Việt (Giáo sư Hoàng Phê, Trung tâm Từ Điển học), “Thần”“lực lượng siêu tự nhiên  được tôn thờ, coi là linh thiêng, có sức mạnh và phép lạ phi thường, có thể gây họa hoặc làm phúc cho người đời, theo quan niệm mê tín hoặc theo quan niệm tôn giáo”(tr1450, bản in 2015). Thật khó để nhận ra từ trên cơ sở nào Trung tâm Từ Điển học đưa ra định nghĩa này, bởi xưa nay các nhà làm từ điển ở Việt Nam chỉ quan tâm đến định nghĩa của từ trong cách hiểu của thời đại mình chứ không quan tâm đến từ nguyên của một khái niệm.

Một cách hiểu tương tự với “thần” mà giáo sư Hoàng Phê định nghĩa ta có thể tìm thấy trong khái niệm của văn hóa Mường – Thái. Khái niệm “ma” của người Mường vừa giống với cách hiểu của chúng ta, lại vừa khác. Người Mường dùng “ma” để gọi tất cả linh hồn của người chết cho dù họ ác hay thiện, họ có vai trò phù trợ hay gây họa cho con người. Thế giới của các ma sống được gọi là “Mường Ma”, một thế giới song song và đối xứng với Mường Người, cả hai đều nằm dưới sự chi phối của Mường Trời  và Mường Nước (tr33,34 – Tín ngưỡng dân gian của người Mường ở Hòa Bình, tác giả Lương Quỳnh Khuê, NXB Văn hóa dân tộc). Người Thái cũng mô tả thế giới tương tự người Mường, họ gọi linh hồn người chết là “phi”;  tổ tiên thường được gọi là « phi hườn », trong đó những người được làm đám ma to để lên trời được gọi là “đắm trào”, có vai trò phù hộ cho con cháu và phục vụ “then luông” tức vua trời:

« Hồn chủ ông mo đưa về ngự ở ban thờ

Hồn thứ ông mo mới đưa về ngự ở nhà mồ

Hồn chót ông mo dẫn lên mường trời cùng với đắm trào ».

(Trích sử thi “Ẳm ệt luông”)

Như vậy, trong quan niệm của người Mường và người Thái, những tổ tiên có cơ hội lên “mường trời” và có khả năng phù trợ người đang sống thì đều đóng vai trò như những vị thần. Ngoài ra, trên “mường trời” cũng có rất nhiều các vị thần thuộc nhóm sáng thế khác và thường gắn với các hiện tượng tự nhiên. Văn hóa thờ cúng của nhóm Mường Thái là điển hình cho mô tuýp thờ cúng của người Việt cổ, thế nên dù cho sau này người Việt cổ đã tiếp thu các lớp văn hóa nào trong dòng lịch sử thì vũ trụ luận của người Mường Thái vẫn đóng vai trò cốt lõi của văn hóa tâm linh Việt.

“Thần”, đương nhiên là một từ vay mượn từ tiếng Hán. Trong tiếng Hán, “Thần” cũng là một khái niệm không rõ ràng. “Thần” vừa để ám chỉ một đấng siêu nhiên, lại vừa ám chỉ sự huyền diệu và phi thường, ở cả hai nghĩa đó “thần” đều vô hình không thể nhận biết nhưng lại chi phối thế giới hữu hình. Chữ “Thần” 神 được ghép bởi chữ Kỳ 示 và chữ Thân 申. “Kỳ” là cách để gọi các vị thần đất có vai trò mách bảo cho con người, còn chữ “Thân” có nghĩa là nói hay trình bày. Thông qua chiết tự  ta có thể hiểu “thần” đóng vai trò như một thế lực siêu nhiên đưa ra các mách bảo cho thế giới con người. Khái niệm “thần” được dùng từ bao giờ không rõ, nhưng ta có thể thấy có một loạt các khái niệm tương đương với “thần” như “đế” 帝 hay “quân” 君 hay “vương” 王 – những từ để chỉ các vị vua ở thế giới con người. Có khả năng rằng, đây đều là các nhân thần được một triều đình hoặc dân chúng yêu quý và trọng vọng. Trong khi đó, “thần” hay “kỳ” lại có nghĩa rộng hơn, bao hàm các linh hồn (bất kể người hay vật) có quyền năng chi phối đời sống con người. Quan niệm này của người Trung Quốc cổ đại, ta có thể thấy là tương đồng với quan niệm của người Mường Thái. Do đó, trong quá trình văn hóa  Trung Quốc ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam trong suốt hơn 2000 năm qua, thế giới của các âm hồn và các vị thần dường như không có quá nhiều sự khác biệt.

Với cách hiểu mơ hồ về Thần như vậy, người Việt dễ dàng “thuận miệng” quy kết bất cứ hiện tượng siêu nhiên nào cũng đều liên quan đến các vị thần, và ngay cả các hồn ma vất vưởng cũng dễ dàng được phong thần bởi dân gian. Không chỉ những linh hồn tổ tiên có công lao hay các vị thần sáng tạo được kể lại trong thần thoại và sử thi được gọi là thần, mà ngay cả linh hồn của các vật (như cây đa, tảng đá, con hổ, con chó…) hay các linh hồn chết oan (như trường hợp Tứ vị thánh nương, linh hồn Cô Bé – Cậu Bé…) cũng đều có thể được gọi là thần. Đó là một thế giới hỗn tạp khó có thể phân định, dung chứa nhiều vị thần từ nhiều nền văn hóa khác nhau, từ các vị thần địa phương, các vị tổ thần của các tộc; cho đến ảnh hưởng từ Đạo giáo, Nho giáo, Phật giáo; rồi đến Chăm pa, Chân Lạp… Số lượng các vị thần không ngừng tăng lên theo sự giao hòa phức tạp giữa các lớp văn hóa ảnh hưởng tới Việt Nam và đương nhiên nghi lễ cũng đa dạng không kém.

II –  Các nghi lễ thờ cúng Thần của người Việt

…dường như trong thế giới cổ đại người ta tin rằng chỉ bằng cách tham dự vào cuộc sống thần thánh này thì họ mới trở thành con người đích thực. Cuộc sống trần thế mong manh một cách hiển nhiên và bị phủ bóng bởi cái chết nhưng nếu con người bắt chước những hành động của các vị thần, họ hẳn sẽ được dự phần vòa sức mạnh và hiệu năng của các thần ở một mức độ nào đó.”(“Lịch sử Thượng Đế” – Karen Amstrong)

Nghi lễ – đó là một trong các cách con người tham dự vào cuộc sống thần thánh. Mỗi hệ thống thờ cúng thần, dù là tôn giáo lớn hay các tín ngưỡng nhỏ sơ khai cũng đều có các nghi lễ riêng được thực hiện bởi những con người sùng tín. Sự đa dạng trong nghi lễ thờ cúng thần của người Việt cũng tỉ lệ thuận với sự phong phú của các loại thần thuộc nhiều lớp văn hóa khác nhau, và thậm chí còn mang tính thời đại. Tuy nhiên, có thể phân loại các nghi lễ thờ cúng thần theo các mô hình sau:

Nhập đồng

“Nhập đồng” ở hình thức nguyên sơ, là một hình thức nghi lễ đưa âm hồn vào cơ thể người sống để thông qua cơ thể người sống truyền đạt ý nguyện hoặc chỉ dẫn nào đó. Âm hồn có thể là thần hoặc quỷ, điều này không dễ để phân biệt và còn tùy thuộc và quan niệm của mỗi người. Tính xác thực của hiện tượng này cũng là điều khiến nhiều nhà khoa học tranh cãi. Đây là hình thức nghi lễ nguyên sơ nhất của nhân loại còn biết đến ngày nay còn được gọi là “shaman giáo” mà ta cũng dễ dàng tìm thấy trong văn hóa phù thủy của phương Tây hay ở bất kỳ bộ tộc nào. Ở Trung Quốc, hình thức nhập đồng được gọi là “vu thuật”. Giữa vụ thuật, shaman giáo và nhập đồng đều có các nghi lễ chung bao gồm:

  • Ăn mặc theo lối của các vị thần
  • Nhảy múa bắt chước hành vi của các thần
  • Tụng đọc các bài thơ hoặc khúc hát ca ngợi công đức các vị thần hoặc các câu chú liên quan đến thần
  • Để các vị thần nhập vào người lên đồng và thông qua cơ thể của đồng để thần đưa ra chỉ dẫn cho con người.
Image result for hầu đồng
Nhập đồng trong cúng tế thần. Nguồn ảnh: Tạp chí truyền thống và phát triển

Đó là hình thức sơ khai. Tinh vi hơn, các “vu sư” hay “thầy mo” hoặc “thầy đồng” có thể có năng lực giao tiếp với các cõi giới khác nhau. Họ không cần biến cơ thể của mình thành công cụ “xuống đồng” cho các thần nữa, mà đã trở thành sứ giả của thế giới bên kia. Những vị sứ giả này khá tương đồng với các vị tiên tri trong Thiên Chúa giáo hay thủ lĩnh Muhammed của Islam hay các vị đạo sư khai tông lập phái của Đạo giáo như Trương Đạo Lăng, Vu Cát, Trương Giác…

Nhập đồng của người Việt đương nhiên có từ xa xưa. Truyền thuyết về Cao Biền được ghi chép lại trong “Lĩnh Nam chích quái” có nhắc đến việc Cao Biền thường hô thần của nước Việt nhập đồng rồi dùng kiếm để chém thần. Qua lời kể này, ta có thể phần nào mường tượng rằng việc nhập đồng là hiện tượng tâm linh phổ quát đối với Trung Quốc và Việt Nam trong thời Bắc thuộc. Do lớp ảnh hưởng của Đạo giáo từ Trung Quốc, hình thức giao tiếp với thần thánh càng phổ biến hơn trong suốt dòng lịch sử của người Việt. Sự giao tiếp ấy được ghi lại qua các sự tích liên quan đến thần Đồng Cổ (thời Lý) hay về thần của đình Ứng Thiên (thời Lý). Trong “Truyền kỳ tân phả” (Đoàn Thị Điểm), “Truyền kỳ mạn lục” (Nguyễn Dữ) hay “Tang thương ngẫu lục” (Phạm Đình Hổ & Nguyễn Án), sự giao tiếp qua lại giữa hai cõi âm dương, giữa thần và người càng phổ biến hơn và có màu sắc tiên đạo của Trung Quốc. Ta có thể thấy thông qua các truyện về Liễu Hạnh công chúa hay Từ Thức gặp tiên hay chuyện nàng Vũ Nương…

Hình thức nhập đồng phổ biến hiện nay ở Việt Nam là hình thức nguyên sơ có từ thời nguyên thủy, có trong tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng thờ Bà Chúa Kho và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần. Sự giao tiếp với thế giới bên kia cũng tồn tại nhưng không có tính tổ chức như thầy mo trong tín ngưỡng Mường Thái cổ mà thường chỉ là các cá nhân tự nhận mình có năng lực này. Họ có thực có năng lực giao tiếp với thế giới bên kia hay không thì khó có thể xét đoán, ta chỉ có thể đánh giá rằng có hiện tượng này đang tồn tại trong xã hội.

Cúng tế và cầu nguyện

Cúng tế và cầu nguyện là một cách thức tham dự vào thế giới thần linh. Nếu “nhập đồng” là để thần linh đưa ra các mách bảo cho con người thì cúng tế và cầu nguyện là cách để con người gửi các thông điệp của mình cho thần linh. Cúng tế vừa là một phần của nhập đồng vừa tách biệt, tùy các mục đích của nghi lễ.

Trong phong tục của người dân tộc thiểu số miền bắc như Mường, Thái đều có thầy mo để thực hiện các nghi thức thờ cúng vào các dịp lễ hội hoặc lễ tang ma, cưới hỏi, trừ tà… Họ giữ quy trình cúng tế và hướng dẫn người dân thực hiện. Tương tự với thầy mo là thầy tào trong truyền thống người Dao, Tày, Nùng. Thầy mo và thầy tào đều đóng vai trò cao trong xã hội của các dân tộc này, mọi lời nói của họ đều được tin cậy vì người dân cho rằng họ có kiến thức và hiểu biết về truyền thống cha ông để lại. Một mô hình tương tự là thầy cúng trong các làng của người Việt. Mỗi làng đều có một thầy cúng hành nghề cúng thuê cho các nhà. Những người cúng thuê này có thể học nghề cúng theo nhiều hệ thống khác nhau như Nho giáo, Đạo giáo, đạo Mẫu, hoặc truyền thống địa phương… Mặc dù khác nhau về nghi lễ nhưng về căn bản tế lễ và cầu nguyện của người Việt có mấy điểm chung như sau:

Image result for đền Qủa Sơn
Cúng tế và cầu nguyện tại đền Qủa Sơn, Đô Lương, Nghệ An

Cúng tế và cầu nguyện để mong được lợi cho bản thân

Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyên viết về mục đích thờ cúng của người Việt như sau: “Mọi người chỉ cầu tới tôn giáo do nhu cầu vật chất. Ở  một số trường hợp, người ta chỉ tìm kiếm một kết quả trước mắt như khỏi bệnh, xin con, cầu tài. Người ta chỉ cầu thần để cho đời sống của  một người đã khuất ở thế giới bên kia được dễ dàng, để thi đỗ, để thành công trong mọi việc, để một chuyến đi xa được bình yên…Thường thường, trong ý thức dân gian, tôn giáo được quy lại chỉ còn là một lô thực hành thờ cúng đã trở thành bắt buộc, vì hiệu quả của hành động này hanh hành động khác trong đời sống hàng ngày là phụ thuộc vào sự thực hiện đúng những lễ nghi thờ cúng đó. Lễ nghi là tất cả, nó đôi khi bao gồm những lễ rắc rối, dưới một hình thức long trọng bề ngoài phức tạp.” (Tr 256, “Văn minh Việt Nam”, Nguyễn Văn Huyên,  Nhã Nam, bản in 2017)

Những lời này của Nguyễn Văn Huyên không thể chính xác hơn về thái độ thờ cúng của người Việt. Nỗi sợ hãi trước những nguy cơ có thể xảy ra trong cuộc đời dễ dàng khiến họ đặt niềm tin vào thần thánh và sẵn sàng thực hiện mọi nghi lễ phức tạp, thậm chí là đắt đỏ để cúng tế. Đây cũng là tâm thức nguyên thủy khi con người chưa trang bị cho mình những kiến thức và công cụ để tự bảo vệ bản thân. Nỗi sợ hãi ấy đã khiến con người càng ám thị bản thân tuân theo các nghi lễ thờ cúng mà không cần phải hiểu. Hành vi lặp đi lặp lại trong một loạt các nghi thức ở khắp nơi với cường độ liên tục, đều đặn càng củng cố thêm niềm tin của người hành lễ. Hãy thử thống kê các dịp cúng lễ “bắt buộc” mà không hiểu vì sao của người Việt: rằm và mồng 1 hàng tháng (riêng các rằm tháng giêng,7,8,chạp thì lễ cúng phức tạp hơn), các dịp lễ tiết nguyên đán (tháng 1), thanh minh (tháng 3), đoan ngọ (tháng 5), lễ ông táo (tháng chạp); đó là còn chưa kể đến những cúng tế hàng ngày đối với đại đa số người buôn bán dành cho các ông thần tài hay các dịp giỗ chạp của mỗi gia đình (tối thiểu mỗi gia đình có trung bình khoảng 5 dịp giỗ mỗi năm bao gồm 2 dịp bên nội, 2 dịp bên ngoại, 1 dịp giỗ tổ) . Đời sống của người Việt thực sự bị bủa vây bởi các hoạt động cúng tế. Ở nông thôn, những nghi lễ còn được thực hiện phức tạp vào long trọng hơn ở thành thị. 

Hoạt động cúng tế mang tính tập thể hơn thì xuất hiện trong các dịp tế lễ ở đền, đình, chùa. Ngoài các dịp “bắt buộc” vừa kể trên, các đền, đình, chùa, miếu…cũng có một hệ thống ngày cúng lễ riêng liên quan đến quy định của tín ngưỡng hoặc liên quan đến sự tích gắn với địa điểm. Chủ trì các nghi lễ này thường là người đứng đầu địa điểm thiêng, mà trong mô hình hiện đại được gọi bằng tên chung là “ban quản lý di tích”. Những người dân đến lễ ở các địa điểm này có thể là dân địa phương cũng có thể là người ở các vùng khác. Tùy vào sự nổi tiếng của các địa điểm hoặc các vị thần mà việc thờ cúng diễn ra thường xuyên hay định kỳ.

Địa điểmChức năngXuất xứNghi lễ điển hìnhBiến đổi & tích hợp
ChùaThờ Phật, giảng giải đạo lý Phật giáoPhật giáoThắp hương cúng PhậtTụng kinh và giảng kinhThường thờ thêm các ban Đức Ông, Đức thánh Trần, thờ MẫuXin lộc từ Phật hoặc cầu Phật trừ tàDâng sao giải hạn
ĐềnThờ thầnĐịa điểm thiêng của người Việt cổCác đạo quán của Đạo giáoThắp hương cầu khấn, đưa các nguyện vọng của mình tới các vị thầnMột số nơi nhập đồng để xin chỉ dẫnCác lễ hội mang tính chất nghi lễ diễn xướng đặc trưngXem bóiBán khoánTích hợp thêm ban thờ mẫu hoặc ban thờ Phật
ĐìnhThờ thành hoàng làngCó thể từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có công trong làngHoặc do ảnh hưởng từ Trung Quốc trong thời phong kiếnCác lễ hội diễn xướng liên quan đến thành hoàngDâng sớ cầu xin Thêm ban thờ mẫu hoặc một số vị thần nổi tiếngMột số nơi thêm ban thờ Phật
MiếuThờ vong hồnXuất phát từ tục cúng hồn người chết có trong nhiều tộc ngườiẢnh hưởng từ Trung Quốc thời phong kiến trong cấu trúc và nghi lễThắp hương và đồ cúng để cầu xinMiếu thờ Phật được gọi là am 
LăngMộ của các nhân vật quan trọngẢnh hưởng từ Trung Quốc thời phong kiếnThắp hương tưởng nhớTích hợp thêm với đền hoặc miếu để người đến thăm có thể cầu xin
ĐiệnThờ các thần trong Tứ phủThực hiện các lễ nhập đồngĐọa Mẫu

Trong nghi lễ thờ cúng thần đều sử dụng lửa

Cũng giống như nhiều dân tộc khác, lửa đối với người Việt luôn là vật dẫn để liên kết với thần thánh (ở một số tôn giáo khác của Ai Cập cổ đại và Kito giáo thì nước mới là vật dẫn). Lửa đóng hai vai trò chính:

Một là được thắp lên dưới dạng hương hay còn gọi là nhang. Nguồn gốc của hương và nhang không rõ ràng, chỉ biết là được sử dụng rất rộng rãi từ Ai Cập, Babylon cho đến Ấn Độ và Trung Quốc. Hương thường phải tạo ra mùi thơm nên thường được làm từ bột của các loại thực vật thơm. Về hình thức, hương ở Ấn Độ và hương của Trung Quốc khá giống của Việt Nam, vậy nên khó có thể khẳng định được tục đốt hương của người Việt là do ảnh hưởng từ phía nam lên qua sự du thuyết của các tu sĩ Bà La Môn và Phật giáo hay từ phương Bắc xuống theo con đường di dân.

Tôi cho rằng đốt hương là một biến tướng của tục đốt lửa tế thần. Lửa đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống con người cổ xưa. Lửa, có thể nói là lớp phòng thủ đầu tiên của con người, để con người có thể tự bảo vệ mình khỏi thú dữ, cái lạnh giá và nỗi sợ hãi bóng đêm trong rừng thẳm. Lửa thực sự là một món quà của tự nhiên ban phát cho con người, mà trong tâm thức của người nguyên thủy thì đó là vật của các vị thần (như Prometheus ăn trộm lửa của Olympus để cứu con người). Với vai trò như vậy, lửa sẽ luôn được sử dụng trong các nghi lễ tế thần, mang tính chất đại diện cho thần thánh hoặc tính thần thánh (ở Ấn  Độ, lửa được sử dụng để thanh tẩy). Người Dao Đỏ đến nay vẫn còn lưu giữ tục nhảy lửa, những chàng trai người Dao dẫm chân vào đống lửa để được ngọn lửa thần thánh ban cho sức mạnh và trừ tà ma trên người. Còn người Mường vẫn coi bếp lửa là vật trung tâm của ngôi nhà, thế nên việc nhóm bếp được coi trọng, lần nhóm bếp đầu tiên được coi là dựng lên ngọn lửa ấm no cho gia đình. Họ còn thờ ba ông đầu rau, tức ba hòn đá kê bếp, một hình thức cổ xưa của ba vị táo quân trong tâm thức Việt cổ. Người phương Tây đã biến chuyển từ việc sử dụng lửa sang nến ở các bàn thờ trong nhà, tương tự như thế, người Ấn Độ và Trung Quốc có thể đã biến chuyển thành hương (nhang).

Hai là được dùng để hóa vàng mã. Việc hóa vàng mã được bắt đầu vào thời Đường, vốn là một cách chuyển các đồ minh khí chôn cùng người chết vào thời cổ vốn rất tốn kém (có thể là vàng, bạc, đồng, gỗ, đất sét…) sang loại bằng giấy tiết kiệm và thuận tiện hơn. Người chế ra đồ vàng mã là  Vương Dũ. Sách “ Thông giám cương mục” có chép: vì vua Huyền Tôn, mê thuật quỉ thần mới dùng ông Vương Dũ làm quan thái thường bác sĩ để coi việc chế vàng mã dùng khi nhà vua có tế lễ. Chúng ta có thể liệt Vương Dũ là hàng Thuỷ tổ nghề vàng mã.” (Phần dịch của hòa thượng Tố Liên, Nguồn gốc tục đốt vàng mã, NXB Đuốc Tuệ 1957, bản đánh máy đăng trên Tễu Blog ). Như vậy, trong chức năng đốt vàng mã thì lửa đóng vai trò phụ.

Image result for hóa vàng
Hóa vàng trong thờ cúng thần của người Việt

Luôn có đồ hiến tế trong thờ cúng thần

Đồ hiến tế là vật không thể thiếu trong các cuộc cúng tế ở mọi nền văn hóa. Tùy các đặc trưng của dân tộc mà mỗi dân tộc lại có tục hiến tế khác nhau. Đồ hiến tế cũng biến chuyển theo thời đại. Ở Việt Nam, đã từng có thời người dân phải hiến tế người sống cho quỷ thần. Trong “Lĩnh Nam chích quái” còn ghi chép lại dấu vết người dân Việt hiến tế người sống cho thần Xương Cuồng (Truyện mộc tinh). Truyền thuyết dân gian còn lưu lại sự tích bánh chưng bánh dầy qua việc Lang Liêu tạo ra đồ hiến tế từ các nông sản thu hoạch được trong vụ mùa. Điều này cho thấy ở thời Hùng vương, tập tục hiến tế chính thống đã sử dụng thức ăn chín để tế lễ (chứ không phải là người sống hay động vật sống). Do ảnh hưởng từ Trung Quốc, đồ tế lễ của người Việt có thêm vàng mã. Tuy nhiên, việc đốt vàng mã của Việt Nam thiếu lề luật. Trong quy định tiền âm phủ, người Trung Quốc phân chia rất rõ các loại tờ tiền: vàng dành cho ngọc hoàng, bạc dành cho tổ tiên và thổ địa, tiền mặt dành cho các linh hồn mới chết; trong khi người Việt thì đốt chung các loại tờ tiền và đồ đạc giấy cho tất cả các loại thần thánh cũng như linh hồn, chỉ trừ hình nhân thế mạng và ngựa xe thì được sắp đặt theo quy định của từng tín ngưỡng. Việc tích hợp phức tạp trong các mô hình địa điểm thờ cúng dần dần khiến cho việc đốt vàng mã phổ biến rộng rãi ngay cả trong những nơi không thích hợp như chùa hay am.

III – Mô tả thế giới thần của người  Việt

Các lớp tín ngưỡng và tôn giáo ảnh hưởng đến thế giới thần của người Việt

Dải đất Việt Nam của chúng ta trải qua nhiều biến chuyển lịch sử, thế nên người Việt cũng theo đó mà thay đổi các tập tục thờ cúng. Dưới đây là các lớp biến chuyển về phong tục thờ cúng của người Việt:

Lớp văn hóa ảnh hưởngĐặc trưng thờ cúngThời gian bắt đầuDấu vếtKhu vực ảnh hưởng
Việt cổThờ cúng tổ tiênThờ cúng vật linh (cây, đá, rồng, rái cá, chim…)Thờ cúng trời đấtThờ các vị nữ thần hoặc nữ phù thủyTừ giai đoạn nước Xích Qủy, Văn Lang, rất khó xác định niên đại cụ thểTín ngưỡng thờ cúng của người Mường, Thái. Thói quen thờ vong hồn, hoặc các ma cây, thần đá còn lưu đến nayTín ngưỡng đạo Mẫu và các nghi lễ nhập đồngKhắp cả nước, chủ yếu tập trung ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ & Bắc Trung bộ
Nho giáoThờ thành hoàngThờ tổ tiên đề cao chữ hiếuThờ trời đất qua nghi lễ tế ở đền Xã Tắc và Nam GiaoBắt đầu thời kỳ thuộc Hán (111TCN)Nghi lễ trong các đình thờ thành hoàngCác lăng mộ và miếu của quý tộcKhắp cả nước, chủ yếu tập trung ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ & Bắc Trung bộ
Bà La Môn giáo được Việt hóaNghi lễ mùa màng và thời tiếtKhoảng thế kỷ 3Tín ngưỡng Tứ phápĐồng bằng Bắc bộ
Đạo giáoThờ Ngọc Hoàng và các vị tiên thánh thuộc Đạo giáo Trung HoaKhoảng thế kỷ 3Các đạo quánCác đền có chữ “Quán”Tín ngưỡng thờ Ngọc  HoàngTín ngưỡng thờ tiênKhắp cả nước, đặc biệt là những nơi có nhiều người Trung Quốc sinh sống như Hà Nội, Sài Gòn, Hội An, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh…
Phật giáoCác vị Phật cũng được “thần hóa” để thờ cúngCác vị thần được nhắc đến trong Phật giáo (Đế Thích, Tì Sa Môn thiên vương…)Các nhà sư người Việt có uy tín trong lịch sửKhoảng thế kỷ 3Chùa Khắp cả nước
Các danh nhân người Việt hoặc có công với người ViệtBan đầu là để tưởng nhớ tinh thần yêu nước, sau đó chuyển sang cúng tế để cầu nguyệnCó thể được biến đổi từ tục thờ cúng tổ tiên hoặc anh hùng trong các tộc người.Xuất phát điểm không rõThường được thờ trong các đền được xây ở quê hương, những nơi danh nhân đã đi qua, nơi mất…Khắp cả nước
Chăm pa & Chân LạpCác vị nữ thần người Chăm pa dần được Việt hóa và được người Việt thờ cúng (Thiên Y A Na, Bà chúa Xứ Sở…)Tục thờ Cá ÔngThế kỷ 11Các đền thờ nữ thần ChămpaCác đền thờ xác Cá lớn trôi dạt vào bờChủ yếu ở Nam trung bộ và miền Nam, rải rác ở Bắc trung bộ.
Người Minh Hương lưu vongCác vị thần bảo vệ người dân Minh Hương như Thiên Hậu, Quan VũThế kỷ 16Các đền thờ & Hội quánCác vùng ven biển, Hà Nội và Sài Gòn
Công giáo & Tin LànhTheo đúng các quy định của nhà thờThế kỷ 18Nhà thờKhắp cả nước
Chính quyền Cộng SảnThờ các quan chức và tướng lĩnh cấp cao theo lối thờ các danh nhân của người ViệtThờ Hồ Chí Minh như một vị thánhThờ các anh hùng liệt sĩSau năm 1945Đài tưởng niệm liệt sĩLăng mộ của các quan chức và tướng lĩnh cấp cao Khắp cả nước

Cách gọi các vị thần theo từng lớp văn hóa ảnh hưởng

Cách gọiNghĩaNguồn gốc
Bua, MaVua (dùng để gọi vua trời và vua nước), linh hồnMường
Then luông, đắm tràoVua trời, tổ tiên được lên làm thầnThái
ThầnLực lượng siêu nhiên chi phối đời sống cõi dươngVăn hóa dân gian Trung QuốcNho giáo
ThánhVị nhân thần được nhân dân ca tụng công đứcĐạo giáoNho giáo
TiênNgười hoặc vật tu luyện có phép thuậtĐạo giáo
Mẫu (Mẹ), BốVị thần gắn liền với dân tộc ViệtNgười Việt cổ ở đồng bằng Bắc Bộ
VươngCác vị thần địa phương được triều đình phongNho giáoĐạo giáo
ĐếCác vị thần chủ chốt trong Đạo giáoĐạo giáo
QuânCác vị thần chủ chốt trong Đạo giáoĐạo giáo
Ông hoàng, Bà chúaCác vị thần gọi theo lối dân gianThói quen của người Việt
Cô,  CậuCác vong hồn đi theo hệ thống Đạo Mẫu, phục vụ cua các mẫu, ông hoàng, bà chúaĐạo Mẫu

Danh mục các thần quan trọng theo từng lớp văn hóa và nghi thức thờ cúng

(Lưu ý, không thống kê lớp ảnh hưởng từ Công giáo & Tin Lành, Chính quyền Cộng Sản, và Đạo Mẫu)

Lớp văn hóaSTTTên thần/nhóm thầnNghi thức đặc trưngKhu vực thờ chính
Việt cổ1Lạc Long Quân & Âu CơTế lễ nhân dịp giỗ tổTuyên Quang, Vĩnh Phúc, Phú ThọBan thờ Âu Cơ trong một số đền thờ Mẫu hoặc Đạo giáo
2Tản Viên Sơn Thánh + Cao Sơn Đại Vương + Qúy Minh Đại VươngDiễn xướng và rước trong các dịp lễ hội liên quanKhu vực núi Ba Vì, Thanh Sơn (Phú Thọ), miền núi phía Đông Bắc, Thanh Hóa & Nghệ An
3Bà chúa KhoCúng tế cầu tài lộcNhập đồngHà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang
4Phù Đổng Thiên VươngDiễn xướng và rước trong các dịp lễ hội liên quanSóc Sơn (Hà Nội), Bắc Giang
5Thánh Tam Giang (Trương Hống & Trương Hát)Diễn xướng và rước trong các dịp lễ hội liên quanBắc Ninh
6Các thần & vong hồn trong đạo MẫuNhập đồngĐồng bằng & Trung du thuộc Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (Đặc biệt ở Thanh Hóa, Nam Định, Hòa Bình, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc)
7Thần Đồng CổHội thề mang nhiều màu sắc Nho giáoThụy Khuê (Hà Nội), Yên Đinh (Thanh Hóa)
8Chử Đồng TửĐã được Phật giáo hóa & Đạo giáo hóaHưng Yên
9Thần Xương Cuồng (mộc tinh hoặc thần hổ)Hiến tế ngườiĐã bị loại bỏ từ 1800Chỉ còn lưu trong truyền thuyết, lối nói
10Thần rắn (Ông Cụt, thủy thần…)Cúng tế xin tài lộc Khắp cả nước
11Các thần câyCúng tế xin tài lộc hoặc tránh bị phạtKhắp cả nước
Nho giáo1Khổng Tử, Chu Công, Chu Văn An, Nguyễn Trãi… & nhiều vị Nho thần người Việt khácTế lễ tầm cỡ quốc giaCầu xin đỗ đạtVăn Miếu, Văn Từ, Văn Chỉ
2Nam Giao Học Tổ Sĩ NhiếpTế lễ tầm cỡ quốc gia (thời phong kiến)Đến nay chỉ còn lễ dâng hương tại đềnThuận Thành (Bắc Ninh)
3Xã Thần (đất) & Tắc Thần (nông)Tế lễ tầm cỡ quốc gia (thời phong kiến)Đến nay chỉ còn lễ dâng hươngĐàn Xã Tắc tại kinh đô của các triều đại cũ
4Thờ Hoàng ThiênTế lễ tầm cỡ quốc gia (thời phong kiến)Đến nay chỉ còn lễ dâng hươngĐàn Xã Tắc tại kinh đô của các triều đại cũ
5Hoàng tộc của các triều đai phong kiến Việt namDâng hươngCác lăng miếu ở miền Bắc và miền Trung
6Các danh tướng của triều đình phong kiến Việt NamLễ rước & diễn xướngKhắp cả nước
Bà La Môn giáo được Việt hóa1Man Nương & Tứ phápNghi lễ rước tượng cầu xin mùa màng bội thuBắc Ninh, Thường Tín (Hà Tây), Hưng Yên
2Đế Thích (được Hán hóa thành vị vua cờ, sau đó là Đạo giáo hóa)Ngoài nghi lễ rước thì còn có các hội chơi cờ người, hoặc thi cờĐồng bằng Bắc Bộ
Đạo giáo1Chân Võ Tinh Quân hoặc Huyền Thiên Trấn VõThờ cúng theo nghi thức Đạo giáoKhu vực phía Bắc thành Thăng  Long xưa, Bắc Ninh
2Tam ThanhThờ cúng theo nghi thức Đạo giáoTrung du và đồng bằng Bắc Bộ
3Ngọc HoàngThờ cúng theo nghi thức Đạo giáoĐược tích hợp với tín ngưỡng thờ vua Trời của người Mường – Thái.Được thờ trong một số đền thờ của đạo MẫuKhu vực người Tàu ở Hội An, Huế & Sài GònCác đền thờ đạo Mẫu ở miền Bắc
4Cửu Thiên Huyền NữĐược đồng nhất với Mẫu Cửu Trùng Thiên trong đạo Mẫu, nhưng không giáng đồngThờ trong các ban thờ Mẫu Cửu Trùng Thiên trong đạo Mẫu
5Các đạo sĩ như Yên Kỳ Sinh, ông Tu Nưa, Cao Biền…Đặt ban thờ trong các địa điểm thiêngĐược thờ tại nơi họ tu hành
6Thần chính khí của các vùng như Long Đỗ, sông Tô Lịch, Hà bá sông Hồng…Lễ rướcĐặt ở vị trí phong thủy đẹp của địa phương
7Thần Tài, Táo quân, Thổ côngThờ cúng để cầu xin tài lộc, no ấmViệc thờ Táo quân được tích hợp với tục thờ ông đầu rau của người MườngBan thờ ở góc nhà hoặc trong các miếu
8Thần giữ của (liên quan đến hiến tế trinh nữ ở các mộ chôn nhiều minh khí), đã được chuyển thành thờ các cô.Thờ cúng để cầu xin tài lộc hoặc vì sợ bị phạtMiếu
9Thần NôngCúng tế cầu mùa màng (đến nay chỉ thắp hương)Ban thờ nhỏ, miếu nhỏ trong một số đền
Phật giáo1Quán Thế Âm Bồ Tát (dưới nhiều cách thức tạo hình)Cúng tế để cầu xin cứu độCó trong tất cả các chùa Phật giáo
2Tam Thế PhậtCúng tế để cầu xin cứu độCó trong tất cả các chùa Phật giáo
3Địa Tạng VươngCầu siêu cho các vong hồnĐặc biệt có vai trò quan trọng trong các chùa địa phương hoặc các nơi gần nghĩa địa, nhiều người chết oan
4Thập Điện Diêm Vương (đã được Đạo giáo hóa)Cúng tế để cầu xin cứu độCó trong hầu hết các chùa
5Tam Tổ Trúc LâmCúng tế để cầu xin cứu độ và tưởng nhớCó trong các chùa theo Thiền tông hoặc các Thiền viện  Phật giáo
6Bát Bộ Kim Cương (hộ pháp)Thắp hương để vào chùaCó trong tất cả các chùa Phật giáo
7Đức Chúa Ông (vị thần giàu có hộ pháp).Nguyên bản là Cấp Cô Độc, sau đó được đồng nhất với những người có công bỏ tiền xây chùa.Cúng tế xin phò trợ về tài chínhCó trong tất cả các chùa Phật giáo
8Từ Đạo  Hạnh & Nguyễn Minh KhôngCúng tế & tưởng nhớSài Sơn & đền Lý Quốc Sư (Hà Nội), Ninh Bình
9Di Lặc (tạo hình Bố Đại hòa thượng), Tế CôngCúng tế & cầu xin tài lộcCó trong nhiều chùaTrang trí tại nhiều gia đình để xin tài lộc
Các nhân thần người Việt hoặc có công với người Việt1Hai Bà Trưng & các tướng trong cuộc khởi nghĩaLễ rước & diễn xướngNhập đồng (trong một số trường hợp)Trung du và đồng bằng Bắc bộ
2Lữ GiaLễ rướcHưng Yên, Nam Định
3An Dương Vương & Mị ChâuLễ rướcĐông Anh, Ven biển Thanh Hóa, Nghệ An
4Tứ vị thánh nương (linh hồn chết oan)Cúng tế để cầu xin tài lộcNhập đồngVen biển miền Bắc và Bắc Trung bộ
5Lý Phục Man & các tướng theo Lý Nam Đế, Triệu Quang PhụcLễ rước & diễn xướngHà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên
6Linh Lang Đại VươngLễ rướcHà Nội, Hải Phòng
7Đức thánh Trần & Ban Trần TriềuCúng tế để cầu xin tài lộc, phù trợ, trừ tàNhập đồngBắc bộ, đặc biệt là khu vực ven biển như Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định
8Đông Hải Đại Vương Đoàn ThượngCúng tế để tưởng nhớLễ rướcHà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng
9Các vị tướng trấn thủ, khai phá các khu vựcLễ rước & diễn xướngKhắp cả nước
10Các tổ nghềCúng tế để tưởng nhớLễ rướcKhắp cả nước
Chăm pa & Chân Lạp1Mỵ ÊCúng tế và tưởng nhớHà Nội, Hà Nam,
2Thiên Y A Na hay gọi làThánh Mẫu Chúa NgọcGắn liền với nghi lễ phồn thực của người ChămBan đầu là tượng khỏa thânNam Bộ và Nam Trung Bộ
3Bà chúa Xứ (thực ra là tượng nam thần Khmer)Lễ vía bàNhập đồngĐồng bằng sông Cửu Long
4Hậu Thổ phu nhân, đã được Đạo giáo hóaLễ rước & cúng tế cầu tài lộcHà Nội
5Bà Đen (Nguồn gốc không rõ ràng, có giả thuyết là từ tín ngưỡng thờ cặp bà đen – bà trắng của Khmer)Lễ vía bà, rước tượngĐồng bằng sông Cửu Long
6Cá ÔngCúng tế cầu tài lộc, bình an khi đi biểnLễ rướcVen biển miền Trung
Người Minh Hương lưu vong1Thiên Hậu nương nươngCúng tế để cầu tài lộc, bình anCác khu người Tàu ven biển Việt Nam
2Quan VũCúng tế để cầu tài lộc và xin sự bảo vệ, trừ tàHà Nội, Hội An, Sài Gòn
3Ngọc Hoàng & Thiên đình Đạo giáoCúng tếHội An, Huế, Sài Gòn

Hà Thủy Nguyên

Bài đã được đăng trên Book Hunter

Tết và giả dối, phù phiếm, rác rưởi

blogpost thumb

Mỗi năm một lần Tết âm lịch lại đến như một cái gông đè nặng lên cổ từng người. Hết thế hệ này đến thế hệ khác, chúng ta tổ chức một kỳ lễ Tết mà chẳng hiểu ý nghĩa của nó, chúng ta tiêu tốn một lượng lớn thời gian – công sức – tiền bạc để hoàn thành những nghi lễ vô giá trị được dán nhãn “truyền thống”, chúng ta cười cười nói nói với những người mà chúng ta chẳng hiểu gì về họ ngoài những thứ họ phô diễn. Tết trở thành một nghi thức mà trong đó mọi sự giả dối, rác rưởi và phù phiếm được cho phép dưới danh nghĩa chúc tụng và cầu cúng.

Phô diễn lòng thành không thật

Chúng ta thường được dạy rằng Tết là lúc chúng ta tưởng nhớ những người đã khuất trong gia tộc. Nhiều gia đình ra nghĩa trang dọn sạch mồ mả, thắp hương cho người đã khuất. Sau đó, là nhộn nhịp chuẩn bị một loạt mâm cúng linh đình: nào bánh chưng, thịt kho, nem rán, giò…. Nào thì mâm ngũ quả, nào thì vàng mã…

Thời xa xưa, những nghi lễ này thường liên quan đến vụ mùa: một mùa xuân mới đang đến và một vụ mùa mới sắp bắt đầu. Cúng tế tổ tiên đối với người xưa về bản chất là một hình thức cúng người chết – những người mà thân thể của họ đã trở thành phân bón để nuôi dưỡng cây cối, và cúng tế mang tính chất thể hiện một sự tri ân của người sống đối với thân thể của người chết, và của người sống với những ký ức về người chết khi họ còn ở dương trần. Linh hồn người chết, bởi thế, luôn ngự trị trong xã hội người sống thông qua lương thực – thực phẩm thu hoạch được; và những ký ức mà người sống lưu lại. Nhưng rồi, ý nghĩa tri ân ấy hoàn toàn trở nên mờ nhạt trước lòng tham của con người. Họ cúng tế Tết vì muốn được người chết phù hộ độ trì cho họ thêm tài lộc, phúc phận; hoặc vì sợ bị quật do không đảm bảo đúng nghi lễ (một nỗi sợ vô hình). Vậy là thay vì thực sự chỉn chu và kỹ tính trong nghi lễ, họ làm ra mâm cao cỗ đầy với hi vọng rằng sẽ không làm mất lòng người đã chết.

Mâm ngũ quả để làm gì? Có ai tự hỏi xem những người đã khuất đang được thờ trên bàn thờ có thực sự muốn ăn những món quả màu mè ấy? Họ có thực sự lúc nào cũng muốn ngắm con gà khỏa thân chổng mông trên đĩa? Hay mùi dầu mỡ của thịt thà lẫn lộn át hương trầm? Người sống bày mâm cỗ cúng bởi vì trong lòng họ nghĩ rằng những món ăn ấy hẳn sẽ cho họ một bữa ăn nhậu thích thú với bè lũ mà họ đã kết giao trong dòng tộc. Trong tâm trí họ không có người đã chết.

Hãy nghe những người sống tụng các bài văn cúng được in sẵn trong quyển sách được bày bán đầy ở cổng chùa, cổng đền. Một danh sách dài tên các thần Phật mà chính họ còn chẳng biết nguồn gốc được tụng lên trước khi trong tâm họ nhớ đến những người đã khuất – vô nghĩa! Đức tin của họ thậm chí còn chẳng đặt vào những vị thần trong bài tụng. Tâm tư của họ chẳng có một chút lặng để kết nối với tinh thần của người thân đã qua đời.

Qúa nhiều thịt thà, quá nhiều lời lẽ, quá nhiều lòng tham, quá nhiều nghi thức đã cắt đứt đời sống tinh thần trong khoảnh khắc đón xuân. Những ký ức cũng chẳng có cơ hội được tái hiện trong tâm trí bởi sau những buổi quần quật cỗ bàn, đâu còn góc riêng nào cho nhung nhớ. Sau tất cả, người đã chết cứ khuất dần đi trong dòng chảy thời gian, chỉ còn những nghi thức cũ vẫn ngự trị một cách trớ trêu và kệch cỡm.

Gặp gỡ những người xa lạ bằng bộ mặt giả dối

Những người đến thăm ta ngày Tết ắt hẳn là những người xa lạ: Họ hàng và những người đến để nịnh nọt, biếu xén. Nịnh nọt và biếu xén thì có lẽ chẳng có gì đáng để đề cập nhiều: những con người ấy với ta tuyệt đối xa lạ.

Họ hàng: những con người cả năm chúng ta không gặp gỡ vì lý do: bân bịu với công việc. Hãy thẳng thắn với nhau: giữa ta và họ chẳng có điểm gì chung, từ nền tảng văn hóa đến lợi ích kinh tế, từ sự tương giao tinh thần đến sự hứng thú. Chẳng có tình thân gì ở đó, chỉ có một thứ ràng buộc: lễ nghĩa dòng tộc. Lễ nghĩa dòng tộc quy định một thứ luật bất thành văn: họ hàng phải thăm hỏi nhau ngày Tết. Nhưng họ không thăm hỏi vì họ đâu có quan tâm đến tâm tư tình cảm của ta, kỳ thực họ chẳng hề quan tâm. Họ thăm hỏi ta vì thói quen cửa miệng, vứt cho ta những lời khuyên như thể họ là con người đầy kinh nghiệm, tặng ta những món quà mà họ còn không thèm tìm hiểu xem chúng ta có thực sự thích hay cần không.

Hãy nhìn những con người này mừng tuổi cho con trẻ và người già! Họ nhét tiền vào các phong bao in sẵn chẳng chút tính cá nhân, đo đếm số tiền dựa trên thân – sơ hay tầm quan trọng. Rồi con cái của họ lại nhân tiếp những phong bao như thế từ những gia đình mà họ đến chúc Tết hay chúc Tết nhà họ. Lì xì giống như một hình thức đổi tiền, còn những đứa trẻ thì vui mừng đếm tiền, được nuôi dưỡng trong tinh thần đồng nhất tiền với vận may mà nó nhân được trong đời. Bao nhiêu đứa trẻ sẽ đánh giá người lớn dựa trên số tiền họ  mừng tuổi chúng? Bao nhiêu đứa trẻ sẽ đánh giá vị thế của gia đình mình dựa trên “tổng thu nhập” của chúng ngày Tết.

Toàn bộ vòng quay giả dối của quà cáp, thăm hỏi, lì xì… đang mỗi năm lại thêm bào mòn sự kết nối giữa con người với con người. Con người không có khoảng lặng cho chính mình để suy ngẫm, để tận hưởng những ngày xuân. Thay vì đó, con người gia tăng thêm những lớp mặt nạ của sự yên ổn, hạnh phúc, thành công, thân tình để vừa lòng những người trong dòng tộc.

Dòng tộc trong xã hội Việt Nam hiện đại đã mất dần đi vai trò đích thực của mình. Dòng tộc không tan rã, nó biến tướng thành mô hình nhóm truyền miệng  những nghi thức được cho là truyền thống và những giá trị được cho là thành công trong xã hội. Sự kết nối của dòng tộc đời xưa đến từ mối quan hệ gìn giữ đất đai và nghề truyền thống, nhưng sự kết nối ngày nay chỉ xoay quanh chăm sóc mồ mả ở quê. Người ta buộc phải quan hệ với nhau vì chung nhau một khu nghĩa địa. Vì sợ “động mồ động mả” hoặc sợ “sau này chết đi thì mộ ở quê ai chăm sóc” mà chúng ta buộc phải cười cười nói nói với toàn bộ những người xa lạ mà chúng ta gọi là họ hàng. Sự thân tình này đến từ nỗi sợ bị bỏ rơi bởi chính dòng tộc của mình và sự hoài nghi tính trách nhiệm của họ hàng. Tóm lại, ta chấp nhân là một phần của dòng tộc, vì hoang mang không biết cách tiếp cận thế giới cõi chết nơi mà ta sẽ đến trong tương lai và những người ruột thịt của ta đã đến trong quá khứ. Thế rồi, ta chấp nhân thăm hỏi một cách giả dối với những người có khả năng sẽ tác động đến khu nghĩa trang chung chạ của dòng tộc.

Tại sao chúng ta phải trói cuộc đời của chúng ta vào khu nghĩa địa của dòng tộc? Tại sao chúng ta lại chấp nhận cõi chết chi phối xã hội cõi sống đến thế? Bởi vì chúng ta tham lam đủ thứ cả khi sống lẫn khi chết, tham lam những thứ chẳng thể mang theo người, những thứ chẳng hề thuộc về chúng ta. Còn tâm hồn ta thì bị ta bỏ vương vãi, còn thân thể ta thì ta biến chúng thành thứ chỉ để treo mặt nạ.

Lẽ tất yếu là rác rưởi

Để đáp ứng những nhu cầu giả dối và phù phiếm ấy, ta đã xả ra đủ thứ rác rưởi vào ngày Tết – ngày mà đáng lẽ ta phải thể hiện sự trân trọng với thiên nhiên. Thử đếm các đầu mục rác mà một gia đình vứt ra môi trường nhé:

Rác hữu cơ:

  • Xác cây và hoa cảnh sau khi cắm chỉ để nhân lấy vài câu khen của người xa lạ, để tỏ ra ta là những người tao nhã, hoặc để đưa ít mùa xuân về nhà bất chấp ta đang giết mùa xuân.
  • Thức ăn thừa hoặc đồ bị cắt bỏ trong quá trình nấu ăn phục vụ đủ các loại mâm cúng cho một cõi chết mà ta không hề tưởng nhớ.

Rác vô cơ:

  • Đủ các loại bao bì hộp quà, hộp đựng sản phẩm, lon bia, chai rượu… chủ yếu để tỏ ra sang chảnh theo điều hướng của các chuyên gia marketing của các thương hiệu.
  • Bao lì xì để khiến trẻ con sớm băng hoại đạo đức
  • Đồ trang trí nhà cửa, vụn pháo hoa, kim tuyến rắc… mà có lẽ sẽ chỉ dùng vài ngày chỉ để thỏa mãn thứ thị hiếu được xây dựng bằng sự khát khao lộng lẫy trong vòng hào quang hư ảo mô phỏng giàu có.
  • Vàng mã chỉ để đốt cho những vong hồn không thể sử dụng và tiếp tục giam lỏng vong hồn trong sự nuối tiếc sự sống tới mức chối bỏ giải thoát.

Rác tinh thần:

  • ­Những lời chúc tụng, thăm hỏi hoàn toàn vô nghĩa mà chẳng ai nhớ, và ngay cả đến ta là người mở miệng ra nói cũng chẳng nhớ.
  • Những bài hát karaoke để giải trí ngày xuân mà chủ yếu là để khoa dàn loa khủng – chiến tích của một năm làm ăn phát đạt.
  • Những đồng tiền lì xì nuôi dưỡng lòng tham của lũ trẻ, biến lũ trẻ thành súc vật, không hơn.
  • Những nghi thức hoàn toàn vô giá trị về mặt thực tiễn mà chỉ kích thích chủ nghĩa tiêu dùng với các chiến lược xả hàng, khuyến mại, quảng cáo…

Vâng, đủ loại rác rưởi ấy đã bào mòn tinh thần của mỗi cá nhân, bào mòn cảm xúc của mỗi gia đình. Tết trở thành một dịp để người nhà ràng buộc nhau vào vòng xoay bất tận của xả rác được định danh bằng mỹ từ “truyền thống”. Và có lẽ truyền thống mới cần tiết được xây dựng trong đời sống của chúng ta: Xin đừng xả rác để không phải dọn rác.

Hà Thủy Nguyên

Giải mã triết học huyền bí của Hamvas Béla

blogpost thumb

Hà Thủy Nguyên viết

Tôi bắt đầu đọc Hamvas Béla vào năm 2013 với bản dịch cuốn “Câu chuyện vô hình & Đảo” (Dịch giả Nguyễn Hồng Nhung), ban đầu được đăng tải trên website Ăn mày văn chương, và sau đó được NXB Tri Thức ấn hành. Ấn tượng đầu tiên về Béla đó là một nội lực cuồn cuộn nhưng bị nén lại trong lý trí triết học. Nội lực ấy được khơi nguồn bởi các minh triết cổ xưa trong tinh túy tâm linh của cả phương Tây và phương Đông. Bằng những diễn ngôn triết học, Hamvas Béla đã lý giải các tinh túy tâm linh ấy và qua nhãn quan của tinh túy tâm linh để lý giải các vấn đề tâm thức thời đại nói riêng và nhân loại nói chung. Bởi vậy Hamvas Béla gọi hành vi viết của mình như một thực hành yoga tâm trí.

Thời đại Hamvas Béla sống

Hamvas Béla (1897 – 1968) sống trong một thời đại đầy xung đột tại Hungary, và hơn ai hết, ông nhận thức được rằng mình vừa là một nạn nhân của thời đại, vừa gánh vác trên vai sứ mệnh duy trì điều thiêng giữa thời đám đông, vừa phải vượt qua những lực kéo xuống ô trọc từ thời đại của mình. Ở trong ông là một cuộc “thánh chiến” nội tâm, mà tại đó ông buộc phải vượt thoát lên.

Ông đã đúc rút thế này về tình trạng của mình:

“Tôi đang ở trong đám dân chúng này, trên trái đất này, mọi ý đồ của tôi vô hiệu quả, mọi từ ngữ của tôi vô ích, mọi kế hoạch của tôi đổ vỡ, tôi đã thất bại, một cách không phát hiện ra, thừa thãi và chẳng ai biết đến.

Tôi không nhìn thấy biển, nơi tôi muốn được chết trên bờ, tôi không cảm thấy vị hương của cây vả và hàng thông bên bờ biển mà gió bắc đã mang tới từ thung lũng, và tôi cũng không nghe thấy tiếng những ngọn sóng đập vào triền đá. Đấy cũng là sự thất bại nơi đây. Thần hộ mệnh của tôi không hiện. Không gì là nỗi an ủi của tôi.

Tôi biết sẽ không có thế hệ sau nối tiếp để tôn trọng. Cái tôi đã làm,  phi con người tới mức chẳng loại thế hệ nào cảm thấy thoải mái với nó. Tôi không lấy lòng ai, kể cả họ. Không ai có thể đòi hỏi tôi phải chứng minh. Chưa bao giờ có một kẻ như thế ở đây, kẻ không đáng được ưa đến thế. Ngoài ra, cũng thế mà thôi, thế hệ sau! Họ sẽ không có hứng thú để nhọc mệt với giấy bút.

Sẽ tiếp theo là khoảng thời gian mà người ta quên hết quá khứ. Hiện tại sẽ bắt phải quên quá khứ đi bằng những con người- không phải vì con người  sẽ vô cùng hạnh phúc, mà chính bởi vì họ vô cùng bất hạnh, đến mức, sẽ không ai làm dịu nổi mọi nỗi đau khổ của họ.

Tại sao họ cần phải tìm ra tôi, kẻ không hề có chút đồng cảm nào với họ?  Ngoài ra thời đại của chữ cũng đã trôi qua. Viết là một nỗi đam mê bất hợp lý, và sẽ là như thế. Người ta quên tất cả những ai đã viết, kể cả tôi.

Tôi có đủ tỉnh táo để nói ra, cho dù sự kết án có trầm trọng đến mấy, đặc biệt đối với chính bản thân tôi,  kẻ sống giữa những mức độ phi lý khủng khiếp trong đời sống, giữa những gì tôi đã hoàn thành và những gì người ta nhận ra từ tôi. Và thế là, cái tôi đã làm, vĩnh viễn  mất.” (1)

Đó là những câu viết tràn ngập tuyệt vọng nhưng vẫn có một màu bi tráng, cùng một tinh thần với S.L.Frank: “…bóng tối vốn bất lực trong nội tại trước ánh sáng, nhưng lại có thể tiếp tục ngoan cố trước ánh sáng. Bóng tối tồn tại vì rằng ý chí độc ác lẩn trốn ánh sáng, né tránh nó. Ánh sáng thần thánh có sức mạnh toàn năng hóa ra lại vẫn không có sức mạnh toàn năng hiện hữu thường nghiệm của chốn trần gian, vì nó bị ý chí độc ác của con người khác cự lại” (2). Tôi đã đề cập đến sự tương đồng này trong bài viết về cuốn “Ánh sáng trong bóng tối” . Dường như, ở những năm tháng thế kỷ 20, có một cuộc chiến không ngừng nghỉ giữa ánh sáng và bóng tối, giữa cái thiêng và cái phàm tục, giữa tinh thần cá nhân và đám đông, mà trong đó ánh sáng – cái thiêng – cá nhân đều đơn độc chống cự. Lịch sử nhân loại luôn có những cuộc chiến như vậy, nhưng thế kỷ 20 chứng kiến cuộc chiến ấy gay cấn hơn bao giờ hết, nhiều bi thương hơn bao giờ hết, tới mức những tư tưởng lớn, những tiếng nói cuộn trào nội lực trong văn chương được bùng trào từ chính thất bại trước thời đại, để rồi ánh sáng ấy không hề lịm tắt.

Chính sự thất bại chứ không phải thành công đẩy những nhà triết học vào một cái nhìn thấu suốt bản chất của sự kiện và sự tồn tại của chính mình, như thể họ được thiết kế để trưởng thành từ chính thất bại của bản thân mình. Và nếu họ không phải được thiết kế để thất bại, thì họ sẽ vẫn chỉ là những người nghiên cứu triết học, nhà báo, những trí thức bình thường; với thất bại, họ trở thành triết gia, nhà văn, những bộ não lớn của thế kỷ 20. Hamvas Béla là một trong số ấy.

Hamvas Béla đến với triết học cũng từ một thất bại trên chiến trường. Mặc dù nhập ngũ để thực hiện nghĩa vụ quân sự của mình với quốc gia, nhưng ông bị thương và phải trở về nhà. Đây là thời điểm ông bắt đầu biết đến Nietzsche, rồi Kant, Rimbaud, Dostoyevsky, Schopenhauer… Khi đọc tác phẩm “Phê phán thời gian” của Kierkegaard, ông đã nhận ra rằng có một điểm tối đằng sau những hỗn loạn không phải chỉ của thời đại này, mà còn của cả dòng lịch sử nhân loại: “Không xã hội, không nhà nước, không thi ca, không tư tưởng, không tôn giáo, những gì hư hỏng và đầy rẫy dối trá. Đúng vậy, tôi nghĩ. Nhưng điều này cần phải bắt đầu từ một khi nào đấy. Tôi bắt đầu đi tìm chấm đen này. Hạt nguyên tử, hay sự dối trá đầu tiên… Tôi quay trở lại từ giữa thế kỷ đã qua đến cách mạng Pháp, đến thời kỳ ánh sáng, đến chủ nghĩa duy lý, từ thời trung cổ đến những người Hy lạp, đến những người Heber, Ai cập, đến người mông muội. Sự khủng hoảng đâu đâu tôi cũng bắt gặp, nhưng sự khủng hoảng còn nói lên một cái gì đó sâu sắc hơn. Chấm đen này còn ở phía trước, phía trước nữa. Tôi đã vấp phải lỗi lầm đặc thù của người châu Âu, đi tìm chấm đen bên ngoài con người mình, thực ra nó nằm trong bản thân tôi…” (3)

Con đường tư tưởng lúc bấy giờ đã dần hé mở với ông, và khiến ông đi sâu hơn vào các truyền thống cổ tinh thần cổ xưa của nhân loại như các hiền triết Hy Lạp cổ đại, Trung Quốc cổ đại… Ông từng thành lập nhóm Đảo cùng Kerényi Karoly, với cảm hứng chủ đạo là tinh thần Hy Lạp cổ đại, tụ tập rất nhiều các nhà văn và triết gia Hungary đương thời. Thế nhưng, nhóm Đảo không tồn tại lâu. Ông còn đứng ra tổ chức một dự án dài hơi có tên “Đại sảnh các vị tiền bối cổ” dịch thuât các tác phẩm cổ xưa ra tiếng Hungary. Cho tới khi ông hoàn thành cuốn đầu của bộ tác phẩm “Scientia Sacra” vào năm 1943 (Bản dịch tiếng Việt: “Minh triết thiêng liêng” –  Nguyễn Hồng Nhung dịch, NXB Tri Thức, 2017), thì ông đã thực sự trở thành một phần của xu hướng khôi phục các giá trị tinh thần cổ xưa của châu Âu, như một xu hướng  trái chiều cần thiết với thời đại của văn minh công nghiệp.

Đây là một xu hướng học thuật quan trọng diễn ra ở toàn thể châu Âu trong thế kỷ 19 và thế kỷ 20, khi cuộc Cách mạng Công nghiệp diện rộng đã làm thay đổi bộ mặt của châu Âu. Nếu những cuộc cách mạng của đám đông mà khởi điểm là sự kinh hoàng của sự kiện Cách mạng Pháp 1789 trao quyền lực vào tay đám đông, thì cuộc cách mạng công nghiệp lại tạo một nền tảng vững chắc để đám đông thực sự ngự trị trên mọi phương diện tinh thần. Không còn những ông hoàng bà chúa yếu ớt, mà là những thế lực ưa chuộng vật chất tới mức lấy vật chất làm thước đo cho các giá trị tinh thần. Văn chương và nghệ thuật không còn hướng tới điều cao cả của tinh thần mà được sáng tác để phù hợp với tầng lớp thị dân mới ít học với những đau khổ và quằn quại của thiếu đói vật chất. Đây thực sự là một đày đọa với các cây viết vốn đã gắn chặt bản thân với những điều cao cả và luôn mong muốn dành những trang viết của mình cho những mục đích cao vời. Ta có thể thấy tâm trạng đó ở nhiều cây bút lớn của nền văn học và triết học Châu Âu như Schopenhauer, Nieztches, William Wordsworth, Lord Alfred Tennyson, Oscar Wilde, Henry David Thoreau…

Họ tìm cách hồi sinh những truyền thống tinh thần đẹp đẽ trong suốt lịch sử châu Âu, vừa như để phòng thủ trước các tạp nhiễm của thời đại, vừa để gìn giữ truyền thống tinh thần ấy khỏi sự vùi dập của thời đại. Hamvas Béla cũng như các cây viết theo xu hướng này ý thức được rằng, điều quan trọng trước hết đó là tiến hành cuộc chiến chống lại đám đông ngay trong chính mình và bằng mọi hành vi của mình. Bằng thức nhận này, Hamvas Béla đã bắt đầu sự nghiệp triết học của mình như một triết gia huyền bí, và coi hành vi viết là một thực hành tâm linh mãnh liệt, cũng giống như các bậc tu sĩ đã dứt bỏ thế tục để quay vào cuộc chiến bên trong mình, như một con đường tất yếu để đương đầu với cuộc chiến dữ dội đang xảy ra ở bên ngoài.

Thời điểm Hamvas Béla thực hiện cuộc “thánh chiến” bên trong mình cũng là những năm tháng gay gắt nhất của chiến tranh thế giới ảnh hưởng tới Hungary. Hungary liên tiếp trải qua chiến tranh với Nam Tư (mà trước đó, gia đình Hamvas Béla sống ở  Slovakia và đã tuyên bố không trung thành với nhà nước này, nên phải chuyển đến Hungary), rồi chính thức tham gia chiến tranh thế giới thứ II. Hamvas Béla cũng như nhiều người đàn ông khác, buộc phải tham gia quân đội và chắc hẳn chứng kiến không ít những đau thương của chiến trận. Trước chiến tranh, ông làm thủ thư ở Thư viện trung ương tại Budapest, nhưng cuộc chiến tranh đã chấm dứt đời sống lý tưởng này của ông. Tệ hại hơn, chiến tranh đã tàn phá toàn bộ tủ sách cá nhân và các bản thảo của ông trong một cuộc đánh bom khiến căn hộ của ông phát nổ. Những mất mát này có lẽ dần dần đã nuôi dưỡng ý thức giữ gìn truyền thống tinh thần trong suốt cuộc đời của ông.

Khi Liên Xô chiến thắng Phát xít và thiết lập sự ảnh hưởng của mình ở Đông Âu mà Hungary là một trong số ấy, Hamvas Béla bị liệt kê vào danh sách các tác giả bị cấm lưu hành và xuất bản. Ông không được quay trở về làm một thủ thư mà trở thành một người làm vườn lặng lẽ và cô độc. Thế nhưng, con đường triết học của ông không hề bị ngưng nghỉ, và đây cũng là quãng thời gian ông thực hành những trải nghiệm tinh thần của mình một cách toàn bộ cho tới cuối đời.

Năm 1956, tại Hungary, một cuộc chính biến đẫm máu đã diễn ra để chống lại chính phủ thân Liên Xô, mở đầu bằng cuộc biểu tình của sinh viên và sau đó lan rộng, hình thành nên các lực lượng dân quân, dẫn tới tình trạng bất tuân và bùng phát bạo lực. Trước sự kiện này, Hamvas Béla không thấy hưng phấn vì chứng kiến những kẻ đã giam cầm ông trong sự thất bại buộc phải thất bại, mà ngược lại, ông càng thấy ghê sợ hơn sức mạnh của đám đông, thấy rõ lực văng trở lại của những bạo ngược mà đám đông mang lại với những tác phẩm đương thời sặc mùi tuyên truyền. Ông viết: “Tôi đánh cuộc rằng, như những cảm tử quân khắc tên mình vào lịch sử, những kẻ mất dạy bẩn thỉu này sẽ tâng bốc, ca ngợi lẫn nhau, và dẫn dắt nhau vào lịch sử…” (4). Thái độ này cho thấy, ông không phải là một triết gia chống lại Chủ nghĩa Cộng Sản hay sẵn sàng trở thành một con tốt của thời đại để đứng về phe phái này lật đổi phe phái kia, ông luôn giữ một vị thế tách biệt với các dạng đám đông của thời đại.

 

Những nền tảng tư tưởng của Hamvas Béla

Hamvas Béla đã đi một chặng đường dài từ triết học đến tư tưởng tâm linh, từ những nỗi đau thời đại đến những thực hành tinh thần. Ngay từ những tác phẩm ban đầu của mình cho đến những tác phẩm cuối cùng, chặng đường của ông là một tuyến thống nhất đi lên, không có những ngã rẽ.

Năm 1936, những bài tiểu luận đầu tiên của ông được xuất bản trong tập “Magyar Hüperion” (“Hungary Hyperion”). Trong tập tiểu luận này, những cá tính và những ám ảnh của Hamvas Béla được biểu hiện rõ. Ta thấy ở ông một con người dữ dội và duy ngã độc tôn – một yếu tố cần thiết để trở thành cây viết đơn độc. Ông chia sẻ:

“Tôi cho rằng nếu tôi đạt tới quyền lực, tôi sẽ tuyên bố sự thống trị hàng nghìn năm trời của mình bằng hàng răng đánh vào nhau run cầm cập. Sẽ chưa từng có một bạo chúa phương Đông, một hoàng đế La mã, một thủ lĩnh Inka nào dám đối xử với dân chúng một cách phi nhân tính đến thế. Và cái khủng khiếp nhất trong sự thống trị này là trong tôi không có một tý gì của sự tàn bạo.

Tôi không ước sự ngây ngất trước đau khổ của những kẻ khác. Tôi chỉ không quan tâm tới họ. Giống như tôi không hề quan tâm đến chính bản thân mình. Các đo lường của tôi không mang tính chất người. Tôi điên chăng? Nếu bạn làm mất đi cái gì đó bệnh hoạn từ khái niệm này,  tôi sẽ bảo: đúng. Theia mania.” (5)

“Hungary Hyperion” là một chuỗi suy nghĩ lộn vào bên trong để cố giải mã tình trạng của mình. Tập tiểu luận này mang đậm các dấu ấn riêng tư của Hamvas Béla, khi ông còn ở thời kỳ đầu của các chiêm nghiệm. Từ sự soi chiếu bên trong này, ông xem xét thế giới bên ngoài. Tại sao là “Hyperion”? Hyperion là tên một titan cổ xưa, gắn liền với ý niệm từ trên cao quan sát hoặc hướng thượng. Đặt tên tập tiểu luận cho thấy điểm nhìn mà  Hamvas Béla lựa chọn đó là hướng về sự cao cả vượt lên trên những thói quen đám đông đang diễn ra ở thời đại của mình.

Cảm hứng của titan Hyperion này đã tiếp tục ám ảnh Hamvas Béla khi ông viết tập tiểu luận “Câu chuyện vô hình”( “A láthatatlan történet”, 1943) . “Câu chuyện vô hình” là một tập tiểu luận về tinh thần titan, của những sức mạnh nguyên sơ bị kìm nén bởi lý trí và bùng phát bởi vô thức trong suốt lịch sử nhân loại. Lựa chọn titan chứ không phải các vị thần Hy Lạp để làm biểu tượng cho tinh thần bản thân mình, Hamvas Béla không chọn lựa các ý tưởng thiết lập trí tuệ gắn liền với cộng đồng người mà quan tâm đến các ý niệm siêu hình gắn liền với tự nhiên. Nếu chúng ta so sánh tên của các titan với tên của các vị thần, ta sẽ thấy rằng tên của các titan gắn liền với các sức mạnh tự nhiên hoặc các ý niệm siêu hình ví dụ như Uranus (bầu trời), Chronos (thời gian), Selene (mặt trăng)… trong khi chức năng của các vị thần lại gắn với mô hình cộng đồng người ví dụ như Dionysus (tiệc tùng và rượu nho), Hermes (giao thương và truyền đạt thông tin), Hades (phân xử ở âm phủ)…

Sự khác biệt hai mô hình này được biểu hiện qua chương Hamvas Béla viết về Poseidon trong tập tiểu luận “Câu chuyện vô hình”. Trong chương này, Poseidon được đặt trong sự đối sánh với titan Nereus – vị titan của biển cả, và theo Hamvas Béla thì hình tượng Poseidon là một sự biến dịch từ Nereus khi con người đã chuyển từ hồng hoang sang thời kỳ lý trí, chuyển từ văn hóa rừng sang văn hóa biển. Ông cho rằng thuở ban sơ, vị thần biển này là vị thần rừng với biểu tượng tín ngưỡng điển hình nhất: chiếc linga (thông qua biểu tượng đinh ba). Linga – bộ phận sinh dục, đại diện cho sức mạnh gốc, sức mạnh phồn sinh, thứ bản năng dữ tợn của vô thức trào dâng. Hamvas Béla tuyên bố, Poseidon – bị đồng nhất với vô thức, cần phải bị chế ngự bởi kỷ luật. Cũng trong chương này, Hamvas Béla thể hiện một thái độ khinh thị với các hình tượng thần Olympus và quyền lực ở Olympus. Olympus ở đây có thể xem như một đại diện của một dạng quyền hành nhà nước, thứ mà các triết gia như Hamvas Béla căm ghét. Hamvas Béla đứng về phía các titan – quyền lực của tự nhiên. (6)

Ông hướng về bản thể đầu tiên của con người – “LINH HỒN ĐẦU TIÊN”, và khẳng định rằng với dạng thể nguyên bản này, “thiên nhiên là thế giới cao nhất, mà nó còn hiểu được. Nhưng nó tự hiểu, và hình dung giống như là nó. Như thể thiên nhiên không có nhiều, chỉ có MỘT. Như thể thiên nhiên không phải cái bên ngoài, mà là bên trong. Như thể thiên nhiên không phải cảnh vật, mà là một THỰC THỂ. THỰC THỂ LỚN. THỰC THỂ LỚN không đàn bà, cũng chẳng đàn ông.” (7) Và ông cho rằng, chỉ những con người sáng tạo và tách biệt khỏi nền văn minh vật chất mới nhận thức được LINH HỒN ĐẦU TIÊN này. Và chặng đường con người phải đi sau khi đến với LINH HỒN ĐẦU TIÊN chính là tiến đến LINH HỒN TẠO HÓA, tới toàn thể.

Từ niềm cảm hứng và suy luận ấy, ông đã đi tiếp chặng đường tâm linh của mình và luôn đối sánh chặng đường ấy với toàn bộ truyền thống tâm linh của nhân loại. Một mặt, ông lý giải các trải nghiệm tâm linh của mình bằng các kiến thức huyền học và tôn giáo, một mặt lại đồng nhất những trải nghiệm của mình với các trải nghiệm của tiền nhân. Bởi thế, đọc Hamvas Béla, nếu chỉ xem xét ông ở khía cạnh triết học mà quy tất cả các hình tượng ông sử dụng như một dạng ẩn dụ thì đó là sự thiếu sót lớn. Ông cần được xem xét như một chỉnh thể liên đới giữa triết gia – ẩn tu – nhà thơ. Triết học qua suy luận, tâm linh qua các nền tảng tôn giáo và huyền môn, nhà thơ qua sự bùng nổ của niềm cảm hứng. Tôi cho rằng đây là ba cột trụ thực hành tâm linh của Hamvas Béla và được ông truyền tải qua các trang viết của mình.

Khía cạnh triết gia: Đây là khía cạnh dễ dàng nhận thấy ở Hamvas Béla, bởi tất cả người đọc ai cũng biết rằng ông là một nhà triết học và danh phận của ông với thế gian cũng là một nhà triết học. Ông bắt đầu với Nieztches, nhưng triết gia thực sự gây kích thích với ông là Karl Jaspers với tiểu luận “Szellem és egzisztencia” (“Linh hồn và Tồn tại”, 1941), được xem là cảm hứng chính cho những suy tư của Béla.

Khía cạnh tâm linh: Mặc dù Hamvas Béla không được đề cấp đến như một trong số các nhà tâm linh của thế kỷ 20, nhưng các trang viết của ông chứa đựng nhiều kiến giải về tâm linh, và cho dù đề cập đến triết học hay thơ ca, thì rốt cuộc ông vẫn lái hướng sang các trải nghiệm tâm linh của mình. Sẽ không quá khi gọi ông rằng ông là một nhà triết học tâm linh hay thẳng thừng hơn, một nhà tâm linh. Ông đề cập đến rất nhiều truyền thống tâm linh và tôn giáo cổ xưa, từ chiêm tinh học, tarot, yoga, thiền định, Hermetica, numerology, Kinh Dịch, giả kim thuật, Thiên Chúa giáo, Phật giáo… Ông vừa tìm sự tương đồng và liên hệ giữa các truyền thống này, lại vừa gắn chúng với các chiêm nghiệm và thực hành của bản thân. Từ “Câu chuyện vô hình”, ta đã thấy một quy trình viết lặp đi lặp lại ở ông: Lý giải một hiện tượng bằng cách đối sánh hiện tượng ấy với các truyền thống tâm linh cổ xưa và liên kết bằng sự duy lý triết học hoặc tư duy tượng trưng và gợi tả của thơ ca.

Phương pháp này tiếp tục được hoàn thiện trong một loạt các trang viết khác trong “Scientia Sacra” (Dịch sát nghĩa là “Khoa học thiêng”, dịch giả Nguyễn Hồng Nhung dịch là “Minh triết thiêng liêng”). Hamvas  Béla đã mở rộng trường nghĩa của “scientia” – khoa học, và đưa nghĩa của khái niệm này trở về với nghĩa nguyên gốc từ tiếng Latin cổ – “tri thức”, chứ không phải như một phương pháp duy nghiệm. Tức là, Hamvas Béla chọn con đường tiên nghiệm qua các ý tưởng như Plato và các triết gia Hy Lạp cổ đại trước Aristotle lựa chọn thay vì sự chứng thực, và đây là con đường duy nhất để dẫn triết học với tư cách như một bộ môn khoa học đến gần với tôn giáo và tâm linh.  “Minh triết thiêng liêng” gồm 3 quyển: Quyển 1 bàn về truyền thống cổ và khẳng định sự vĩ đại của truyền thống cổ (tôi sẽ đề cập lại vấn đề này ở phần bàn về chủ nghĩa truyền thống), quyển 2 bàn về các phương thức huyền bí của truyền thống cổ, quyển 3 bàn về truyền thống Kito giáo và lý giải hiện tượng chống Kito dưới cái nhìn của một nhà tâm linh.

Khía cạnh thơ ca: Hamvas Béla luôn dành một vị trí cao quý cho thơ ca. Ông cho rằng thơ ca là hình thức gần gũi với triết học nhất, và hơn cả thế, gánh vác trách nhiệm gìn giữ điều thiêng trong khi tất cả đã từ bỏ nghĩa vụ này: “Từ giây phút trong cái vòng tròn thiêng ấy chỉ còn duy nhất THI SĨ sót lại,  bắt buộc đảm nhận quyền lực của vua chúa, đảm nhận phẩm chất của giới quý tộc, thói quen nghi lễ của linh mục, bản năng chiến đấu của người quân nhân, tri thức về sự thật của quan tòa, nỗi say mê ngây ngất của nghệ sĩ, của nhà bác học – từ giây phút ấy nhà thơ đã vượt hẳn tầm vóc của nhà thơ.” (8) Không chỉ bàn về những nhà thơ lớn và phẩm chất tinh thần mãnh liệt của họ, gắn tinh thần thơ của họ với các trải nghiệm tâm linh của chính ông, Hamvas Béla còn biến những trang viết của ông thành thơ ca bằng cách sử dụng chuỗi diễn đạt phi tuyến tính, tràn ngập hình ảnh tượng trưng, sử dụng những cụm từ mạnh và bạo liệt để diễn tả những trạng thái tinh thần của mình. Văn chương của Hamvas Béla, có thể nói, như những vần thơ trong một cuộc hiến tế đẫm máu trong khu rừng rậm nguyên sơ.

Từ cái nhìn của một titan quan sát từ trên cao và ba lăng kính soi chiếu thế gian, Hamvas Béla cố gắng lý giải mã các hiện tượng vừa mang tính thời đại lại vừa mang tính vĩnh cửu: sự tàn phá của đám đông, phục hưng truyền thống cổ, lý giải yếu tố tâm linh đằng sau sự sáng tạo, hướng về điều thiêng như một con đường tất yếu.

“Sự tàn phá của đám đông là nỗi ám ảnh với tất cả các trí thức. Đám đông tàn phá tất cả, như những gì Gustav LeBon đã nhận định, và trong thế kỷ 20, đám đông càng trở nên hung tàn với những vũ khí hủy diệt trong tay và những phương tiện tuyên truyền như thể công lý và chính nghĩa đều thuộc về đám đông. Đây là thời kỳ, cách đây năm mươi năm Le Bon đã từng nói, những hoạt động vô thức của đám đông thay thế cho những hoạt động có ý thức của cá nhân.

Sự thay thế này lúc đó không chỉ có vẻ vô hại mà còn được mong đợi. Một số người đã kích động đám đông bạo động. Marx và các tông đồ của chủ nghĩa xã hội, thay vì chỉ từ xa chiêm ngưỡng ý nghĩa những hành động của mình, họ đã chuẩn bị cho một cuộc nổi loạn.

Giá họ biết, cái đám đông đang leo lên sự thống trị, sẽ tuyệt đối không thực hiện  lý tưởng của nhân loại như họ nghĩ, thậm chí, vì cần phải tha bản thân, tha sự hiện hữu và tính cách theo mình, đơn giản họ sẽ xóa hy vọng về khả năng thực hiện toàn bộ các lý tưởng, họ sẽ không  ký các văn bản cách mạng của các tông đồ một cách dễ dàng như thế.” (9)

Ông gắn ý niệm đám đông với các xu hướng tôn thờ vật chất, chủ nghĩa duy vật, và thậm chí cả sự chống Chúa – đại diện cho tính thiêng. Hamvas Béla thừa nhận rằng đã từng có thời kỳ Kito giáo đi ngược lại những gì được nhắc đến trong Phúc Âm và khiến cho Kito giáo đi theo một chiều hướng ngược lại với Jesus. Ông nhận ra rằng, chống Chúa (Anti Christ) như cách Nieztches làm, là một biểu hiện tâm lý cưỡng lại sự áp đặt của sự suy đồi trong Kito giáo, thế nhưng, khi trở thành một xu hướng thì đó là nền tảng cho đám đông lên ngôi: “Như giờ đây chỉ còn lại sự kiện Chống Kito. Điều này làm nên lịch sử, và điều này tạo cảm hứng cho các sự kiện. Đám đông càng ồn ào và nhiệt huyết bao nhiêu, người ta càng rời xa và quên mất cội rễ bấy nhiêu.”(10) Ông gọi thứ khoa học duy nghiệm của thế giới hiện đại là “chủ nghĩa ma quỷ” khi khoa học cố phân tích và lý giải điều thiêng liêng huyền bí của sự sống – một loại khoa học hoàn toàn khác biệt với khoa học thiêng theo ông quan niệm (11). Đây là thái độ quen thuộc của những nhà tâm linh hoặc các triết gia Kito giáo. Họ luôn nhìn nhận cái thiêng như một điều gì đó cao vời vượt trên đời sống. Đối với điều thiêng, họ có cái nhìn hướng lên trên, và con đường mình phải đi là hướng lên trên (ngay cả hướng vào trong bản thân mình cũng là hướng lên trên). Hamvas Béla đã tạo ra hai chiều hướng mang đẫm sự nhị nguyên biện biệt: một là hướng lên trên với điều thiêng (theo quan niệm của ông chính là LINH HỒN TẠO HÓA), hoặc là rơi xuống đám đông. Con người như thể không thể độc lập khỏi hai chiều này, mà chỉ có thể lựa chọn một trong hai.

Phục hồi truyền thống cổ như thể là bản mệnh của Hamvas Béla, ông đi tìm nó ở trong những trước tác tôn giáo và tâm linh cổ đại, sẵn sàng dịch các văn bản này sang tiếng Hungary, chìm đắm trong các tri kiến. Ông còn liệt kê 100 tác phẩm vĩ đại mà theo ông là ẩn chứa những điều cốt lõi nhất của truyền thống cổ, kèm với lời bình điểm ngắn của mình. 100 tác phẩm ấy được đăng trong tập tiểu luận “Unicornis” ( Bản dịch tiếng Việt “Độc giác”, Nguyễn Hồng Nhung dịch, NXB Tri Thức, 2019).

Hamvas Béla lựa chọn trường phái truyền thống (Traditionalist School), và đã viết bộ “Minh triết thiêng liêng” như một bản tuyên ngôn vừa mang tính hệ thống, vừa mang tính xác lập định nghĩa, vừa mang tính truyền cảm hứng, chính thức đứng vào hàng ngũ các triết gia của trường phái này. Cũng giống như các triết gia của trường phái truyền thống, Hamvas Béla cho rằng có một sự thật tối thượng ẩn sau các truyền thống tôn giáo và tâm linh trên thế giới, và ông tìm cách hưng phục lại tinh thần truyền thống cái thiêng: “Chỉ còn những cá nhân cá biệt, các chủ thể thần thánh hiểu được ý nghĩa của siêu hình học mà thôi. Trong thời gian lịch sử, biểu hiện cổ trực tiếp chỉ còn lại trong các khả năng của con người, trong trực giác tâm linh”… “Tất cả các thể thống nhất cổ là một khái niệm siêu hình học mà các thành tố của nó cũng chứa đựng trong các thể thống nhất cổ khác.”(12) Ông khẳng định, con người cổ là con người gắn với ý niệm về linh hồn, bởi linh hồn “là hiện thực duy nhất”, “là bản thể”, và “con người cổ là lời tuyên ngôn (sự biểu hiện) về linh hồn và phép thuật của linh hồn.” Và truyền thống cổ này hoàn toàn khác biệt với tính chất man dã của người nguyên thủy (primitive). Hamvas Béla từ chối khả năng tiến hóa từ giống người nguyên thủy thành người hiện đại ngày nay, ông đồng tình với quan điểm rằng người nguyên thủy là một dạng thức của sự tha hóa ở con người cổ đại.  (13) Ông rất rạch ròi trong phân biệt giữa mục đích của hai nền văn hóa:

“Con người thời cổ là người cha của thiên nhiên; là cha của thiên nhiên bởi con người đã canh tác đời sống với tinh thần tích cực của tình yêu thương của người cha.

Bởi vì:” Tất cả, cái gì sống và có trên thế gian- kinh Zohár đã nói – chỉ để cho, và vì con người. Bầu trời có để cho, và vì mọi thực thể, bởi bản thân các thực thể và các sự vật không ý nghĩa và cũng chẳng có giá trị gì.”

Sự canh tác không là gì khác ngoài việc hiện thực hóa tinh thần của tình yêu thương; theo một quan điểm nhất định nhiệm vụ của con người trong thiên nhiên vật chất không là gì khác ngoài việc hiện thực hóa tinh thần của người cha, trên tất cả mọi lĩnh vực vật chất và thiên nhiên: đất, quan hệ con người, cộng đồng, với khả năng riêng của mỗi con người.

Đây là mục đích đời sống và nhiệm vụ đời sống duy nhất, con người hãy trở thành chủ, thành người chăm lo, người thày, thành vua của thiên nhiên. Đây là trật tự sống thiêng liêng. Đây là đời sống người trong mọi lĩnh vực, mọi khoảnh khắc mang tính chất tinh thần, bởi vậy nó là sự sùng bái trong cái toàn bộ.

Con người lịch sử không phải là người cha mà là kẻ cướp của thiên nhiên. Họ coi thường vật chất: nhưng sự coi thường này chỉ là một minh chứng sau cùng: họ cho phép mình chống đỡ như vậy, vì trước hết họ chà đạp và cướp bóc vật chất. Hành vi căm thù thiên nhiên vật chất trong những thế kỷ gần đây là một quan niệm muộn mằn và lạc lõng, để đánh lạc hướng việc chú ý đến bản chất.” (14)

Đây là xu hướng phổ biến của các nhà văn, nhà thơ của thế kỷ 19 và 20, như đã nói ở trên, khi họ phải đương đầu với sự tàn phá của  Cách mạng công nghiệp và chủ nghĩa đám đông. Sự cưỡng lại này nuôi dưỡng một tâm lý thù hằn với khoa học kỹ thuật ở họ, tới mức họ chối bỏ mọi thành quả của chúng để tự giam mình trong lối sống gần gũi với thiên nhiên (không, phải nói là cơn cuồng tín thiên nhiên) và chìm đắm trong các trải nghiệm tinh thần của riêng mình, như cách Henry David Thoreau đã làm, và sau đó là cách của các hippi đã chọn lựa để trở thành một trào lưu sống tới nay vẫn còn ảnh hưởng đến nhiều thế hệ trẻ. Họ tin một cách xác quyết rằng đi vào thiên nhiên là con đường tất yếu để tìm được linh hồn của mình và hòa nhập với Thượng Đế.

Hamvas Béla có một sự hứng thú đặc biệt với pháp thuật, ông viết rất nhiều về pháp thuật, và coi pháp thuật nhập định như một con đường hiển nhiên để bước khỏi đời sống vật chất tầm thường để tiến đến cao hơn:

“Các bậc thang nhập định là các bậc thang phép thuật, dẫn tới một thế giới siêu nhiên bên trên thế gian vật chất. Và tất cả những ai, đòi hỏi từ đời sống của mình nhiều hơn những người khác, đều phải bước lên các bậc thang này. Nếu họ không bước lên, họ vẫn cứ tham gia vào một trong những hoạt động của mức độ cao hơn của sự sống: họ trở thành linh mục, thày giáo, nhà thơ, kẻ cầm quyền, người quân nhân- họ không đạt được bất kỳ kết quả nào, hoạt động của họ tạo thêm nhiễu nhương, công việc của họ không bản chất, vô ích, vô nghĩa, vô giá trị.

Việc bước lên những bậc thang phép thuật của sự nhập định có nghĩa là kẻ đã nhập định bước vào vòng siêu việt hơn của sự sống. Truyền thống cổ gọi bước chuyển này là sự tái sinh.” (15)

Trong “Forradalom a művészetben: absztrakció és szürrealizmus Magyarországon” (Cách mạng trong nghệ thuật: Trừu tượng và siêu thực ở Hungary”, 1947, viết cùng với vợ ông), Hamvas Béla nhận ra trong chủ nghĩa siêu thực và nghệ thuật di sản có tồn tại những dấu vết di sản của pháp thuật, sự hiện diện của LINH HỒN TẠO HÓA, của tính thiêng, đối lập với nghệ thuật hiện thực. Khái niệm nghệ thuật này đã bị phản đối bởi nhà tư tưởng Marxist là Gyorgy Lukács, và Hamvas Béla bị cấm tại Hungary cho đến hết cuộc đời của mình.

Kết luận

Điểm hạn chế lớn nhất của tôi khi tiếp cận Hamvas Béla đó là rào cản ngôn ngữ. Tiếng Hungary là một trong số các ngôn ngữ học nhất trên thế giới, và không có các tác phẩm của ông được dịch sang tiếng Anh. Tôi hoàn toàn chỉ biết đến ông dựa trên bản dịch duy nhất được dịch từ tiếng Hungary của dịch giả Nguyễn Hồng Nhung. May thay, chị Nguyễn Hồng Nhung đã hoàn thành nhiệm vụ không chỉ là một người dịch mà còn là một tư tế của  Hamvas Béla với toàn bộ niềm đam mê và tình yêu dành cho ông. Tuy vậy, chị Nguyễn Hồng Nhung vẫn chưa dịch xong toàn bộ các tác phẩm của ông được viết sau 1947, và tôi cũng không dám chắc tình yêu giữa chị và Hamvas Béla có được lâu bền tới mức chị sẽ dành thêm rất nhiều năm trong cuộc đời ngắn ngủi của kiếp người để tiếp tục dịch các tác phẩm của ông hay không.

Tôi tiếp cận Hamvas Béla, ngoài dựa trên con chữ nằm trong bản dịch của chị Nguyễn Hồng Nhung, còn dựa trên những mối quan tâm chung của tôi và Hamvas Béla.  Cũng như ông, tôi hứng thú đặc biệt với Friedrich Nietzsche, với Vedanta, tarot, yoga, giả kim thuật, Kito giáo, thần thoại cổ… và cũng như ông, tôi cũng là một con người đang cố gắng giải mã chính mình, tự giải thoát mình khỏi những cơn cuồng nộ đám đông và phàm tục của thời đại. Điều duy nhất khác biệt giữa cuộc đời của tôi tính đến thời điểm này và Hamvas Béla đó là tôi không phải trải qua những đau thương, mất mát và chứng kiến sự thất bại của chính mình.

Trong năm 2013, khi tôi bắt đầu đọc Hamvas Béla, tôi đã bị chấn động, chấn động tới mức bị chuỗi cảm hứng của ông lôi cuốn, tới mức tôi buộc phải nghi vấn những hiểu biết của mình về tôn giáo và tâm linh. Sáu năm đã trôi qua, (vâng, Hamvas Béla rất hứng thú với con số 6) tôi đã tìm mọi cách để hiểu ông mà tách biệt với sự yêu thích của bản thân mình dành cho ông, để cố giải mã điều gì ở ông khiến tôi bị lôi cuốn đến vậy, để tôi tự giải thoát mình khỏi ông, cũng như  giải phóng tôi khỏi một khía cạnh của chính mình. Tôi luôn không giống với Hamvas Béla, tôi không muốn cứ thế leo lên cao để nhỏ bé tới mức tan biến, tôi muốn rộng mở tới mức mọi thứ đều tan biến. Có lẽ một lúc nào đó, tôi sẽ lại chọn cách như Hamvas Béla, nhưng sẽ không phải là bây giờ.

 

*Chú thích:

(1) Bức thư thứ nhất – Hyperio Hungary (Nguyễn Hồng Nhung dịch) Link: https://amvc.fr/Damvc/GioiThieu/NguyenHongNhung/HamvasBela/HyperioHungary-HBela-NHN.htm
(2) “Ánh sáng trong bóng tối” – S.L.Frank, tr 39, NXB Tri Thức, 2018
(3) Tiểu sử nhà triết học, nhà văn hiện đại lớn nhất của Hungary: Hamvas Béla (1897-1968) – Nguyễn Hồng Nhung. Link: https://amvc.fr/Damvc/GioiThieu/NguyenHongNhung/HamvasBela/TieuSuHamvasBela.htm
(4) Phần viết về Cách mạng Hungary 1956, trích từ tiểu luận “Patmosz”, Nguyễn Hồng Nhung dịch. Link: https://amvc.fr/Damvc/GioiThieu/NguyenHongNhung/HamvasBela/VietVeCachMang1956-HBela-NHN.htm
(5) “Bức thư thứ sáu”, trích tập tiểu luận “Hungary Hyperio”, Nguyễn Hồng Nhung dịch. Link: https://amvc.fr/Damvc/GioiThieu/NguyenHongNhung/HamvasBela/HyperioHungary-HBela-NHN.htm
(6) Chương “Poseidon”, trích “Câu chuyện vô hình”, bản dịch Nguyễn Hồng Nhung. Link: https://amvc.fr/Damvc/GioiThieu/NguyenHongNhung/HamvasBela/Poseidon-HBela-NHNhung.htm
(7) Chương “Wordsworth, triết học xanh”, trích “Câu chuyện vô hình”, Bản dịch Nguyễn Hồng Nhung. Link: https://amvc.fr/Damvc/GioiThieu/NguyenHongNhung/HamvasBela/WordSworthHayTrietHocXanh-HBela-NHNhung.htm
(8) Chương “Thi sĩ thiêng liêng”, trích “Câu chuyện vô hình”, Bản dịch Nguyễn Hồng Nhung. Link: https://amvc.free.fr/Damvc/GioiThieu/NguyenHongNhung/HamvasBela/ThiSiThiengLiengPoetaSacer-HBela-NHNhung.htm
(9) Chương “Thời kỳ Bảo Bình”, trích “Câu chuyện vô hình”, Bản dịch Nguyễn Hồng Nhung. Link: https://amvc.free.fr/Damvc/GioiThieu/NguyenHongNhung/HamvasBela/ThoiKyBaoBinh-HBela-NHNhung.htm
(10) Chương “Chống Kito”, trích tiểu luận “Minh triết thiêng liêng” – tập 3, Nguyễn Hồng Nhung dịch, NXB Tri Thức, 2016, tr189.
(11) Chương “Chống Kito”, trích tiểu luận “Minh triết thiêng liêng” – tập 3, Nguyễn Hồng Nhung dịch, NXB Tri Thức, 2016, tr191.
(12) Chương “Các truyền thống”, trích “Minh triết thiêng liêng” – tập 1, Nguyễn Hồng Nhung dịch, NXB Tri Thức, 2016, tr169 &172
(13) Chương “Con người theo Vedanta”, trích “Minh triết thiêng liêng” – tập 1, Nguyễn Hồng Nhung dịch, NXB Tri Thức, 2016, tr187 đến 206.
(14) Chương “Văn hóa cổ và văn hóa hiện đại” , trích “Minh triết thiêng liêng” – tập 1, Nguyễn Hồng Nhung dịch, NXB Tri Thức, 2016, tr336&337.
(15) Trích “Các bậc thang phép thuật”, Nguyễn Hồng Nhung dịch. Link: https://amvc.free.fr/Damvc/GioiThieu/NguyenHongNhung/HamvasBela/CacBacThangPhepThuat-HBela-NHN.htm

Mệnh và cải mệnh

blogpost thumb

Con người ta ai cũng có “mệnh” của mình! Họ thường nói vậy. Nhưng cái mệnh này là do ai sắp đặt, ai bày vẽ nên? Tất cả đều vô hình. Có tôn giáo cho là Thượng Đế, có tôn giáo cho là các vị thần, lại có niềm tin cho rằng những sự việc xảy đến với một người là một chuỗi xác suất của tự nhiên. Dù tin hay không, ta vẫn bị chi phối bởi một định mệnh mà không dễ để thay đổi nó theo ý mình. Và liệu rằng cái ý mình ấy cũng là một số mệnh đã được sắp xếp hay chẳng? Thế nên con người mãi cứ nghịch lý… Nhận thức rằng mình chỉ là diễn viên trên sân khấu của số phận nhưng lại không làm cách nào mà thoát được. Ấy là bởi người đời ít ai hiểu được cơ chế của mệnh quy định lên chúng ta.

Chúng ta thường tin rằng chúng ta chỉ có một thứ mệnh, thứ mệnh ấy quy định suy nghĩ, hành vi, các vận may cũng như tai họa đến với chúng ta. Dần dần, chúng ta đồng nhất mệnh được quy định cho chúng ta với chính bản thân chúng ta, rồi tin chắc chắn rằng đó là cuộc đời ta phải sống, phải tuân thủ, không thể thay đổi. Nhưng cơ chế của mệnh phức tạp hơn thế. Mệnh được chia ra làm ba loại, tạm gọi là Thiên mệnh – Địa mệnh – Nhân mệnh.

Nhân mệnh chính là các thói quen, các kỹ năng, các sở thích, các quan niệm được lưu lại từ các kiếp trước và được xây đắp thêm ở kiếp này. Nhân mệnh này là thứ chúng ta tin rằng đó là cá tính của chúng ta, là điểm riêng biệt là ta có thể nhận diện mình với đám đông. Điều này cũng không sai. Thế nhưng, nó là thứ mà ta có thể dễ dàng thay đổi thông qua quá trình quan sát tâm và rèn luyện tâm.

Địa mệnh là duyên nợ của các mối quan hệ mà chúng ta đã tương tác từ kiếp trước và kiếp này. Những duyên nợ này bằng một cách bí ẩn nào đó đã trở thành các sự kiện xảy ra với cuộc đời của ta. Thế nhưng, không phải tất cả các mối quan hệ kiếp trước đều sẽ tái hiện trong kiếp này, mà nó được chọn lọc để tạo nên số phận.

Thiên mệnh có cơ chế phức tạp hơn. Người nào phụ thuộc vào một hệ thống tôn giáo và tín ngưỡng thì những thứ ấy trở thành thiên mệnh của họ. Hoặc khi họ tin tưởng một điều gì đó là tốt đẹp để hướng tới thì điều đó cũng là thiên mệnh chi phối họ. Có thể có một hệ thống thiên mệnh chi phối con người. Thiên mệnh này có thể ảnh hưởng đến địa mệnh và nhân mệnh. Tuy nhiên một số ít người đặc biệt với sức mạnh tinh thần to lớn, không chịu khuất phục, tự do tự tại, có thể tạo ra thiên mệnh riêng cho mình và tự đặt cho mình cái sứ mệnh đến với thế giới. Nhưng thiên mệnh không phải lúc nào cũng tốt, lựa chọn thiên mệnh sai lầm (hoặc bị một thiên mệnh sai lầm chi phối) có thể đưa ta vào một chuỗi các suy nghĩ, hành vi tệ hại và nhận những hậu quả đáng buồn.

Một điều đáng chú ý là, nhân mệnh – địa mệnh – thiên mệnh không phải lúc nào cũng đồng nhất với nhau như người ta vẫn tưởng. Đôi khi một người có nhân mệnh và thiên mệnh tốt nhưng lại bị rơi vào địa mệnh rất tệ hại. Lại có lúc những người nhân mệnh chẳng ra sao, tiểu nhân, hèn hạ, bỉ ổi lại được một thứ thiên mệnh đang thắng thế dẫn dắt vào thứ bố cục địa mệnh tốt đẹp. Điều này không phải đơn thuần do “ăn ở” như người ta vẫn nói mà đơn giản là một thủ thuật sự phân bố phúc và họa trong chuỗi duyên nợ mà thế lực vô hình nào đó đã sắp xếp. Nếu bạn tin có thế lực vô hình, bạn sẽ hiểu rằng thế lực ấy can thiệp vào vận mệnh của ta.

Khi xem các loại tử vi từ Đông sang Tây, chúng ta chỉ xem được một phần nhân mệnh và địa mệnh mà thế lực vô hình đã sắp đặt cho ta. Thường khi làm con người, một xu hướng tính cách nào đó trong nhân mệnh sẽ được đẩy lên để đồng bộ với địa mệnh đã sắp đặt. Do đó, xem tử vi không cho ta thấy được toàn bộ nhân mệnh và càng không thể thấy được thiên mệnh. Khi xem kinh Dịch hay Tarot cũng chỉ cho ta thấy được cái địa mệnh của ta. Biết như vậy thì biết để làm gì?

Phàm là người, ai chẳng có ham muốn cải mệnh của mình để tránh họa gặp phúc. Thứ mà họ muốn thay đổi ấy là thay đổi địa mệnh, thứ được một thế lực vô hình nào đó sắp xếp nên dựa trên chuỗi duyên nợ nhiều kiếp của chúng ta. Thế là họ khấn vái thần thánh những mong thần thánh can thiệp được, tức là họ mượn lực từ thiên mệnh để thay đổi địa mệnh. Những trò cúng sao giải hạn, nghi lễ trả nợ tiền duyên, di tinh hoán số đều là như vậy cả. Lại có người những mong tu luyện để có thể thay đổi được số mệnh của mình, mang đến điều tốt đẹp cho người thân và xung quanh, điều này tức là họ gia tăng sức mạnh của nhân mệnh với sự hỗ trợ của thiên mệnh để mong cải được địa mệnh. Thế nhưng, đến Mục Kiền Liên, đại đệ tử của Đức Phật cũng không cải được địa mệnh của ông ta, tại sao bạn nghĩ rằng bạn có thể?

Cố gắng mở rộng nhân mệnh của mình, thoát khỏi sự áp đặt một xu hướng tính cách của bản thân do số phận quyết định, chỉ là bước đầu của cải mệnh. Khi ta hành xử khác đi so với quy định, các chuỗi duyên nợ cũng dần dần theo đó mà thay đổi. Đây là lý do khiến cho một số người tu hành bậc cao rất khó đoán biết sự kiện đến với họ. Thế nhưng, cho dù họ thay đổi bản thân mình đến đâu, họ vẫn cứ bị chi phối bởi các duyên nợ. Muốn cải mệnh thật sự, người tu luyện còn phải chủ động khuyến khích những người trong mối quan hệ của mình cũng phải thay đổi nhân mệnh của họ. Như vậy cũng không đủ, họ còn phải tự tạo thiên mệnh cho mình chứ không chấp nhận sự chi phối thiên mệnh của kẻ khác. Thế nên, con đường cải mệnh dài lâu và khó khăn, cũng ít người dám bước chân và đi trên con đường ấy.

Nhưng cải mệnh đến đâu thì cũng khó thoát được cái chết, chỉ là chết sớm hay chết muộn mà thôi. Cái chết là sự chấm dứt của địa mệnh nhưng nhân mệnh thì còn mãi, thiên mệnh là thứ ta có thể lựa chọn lại. Cái chết, đôi khi là cách để ta trưởng thành hơn, để ta trở về với con người thực của mình, vượt ra khỏi vòng chi phối của các thế lực vô hình. Nên nhìn cái chết như một cơ hội chứ không phải sự đau đớn.

Hà Thủy Nguyên

Cơ chế của những lời tiên tri

blogpost thumb

Nhu cầu biết trước về một tương lai có thể xảy ra luôn kích thích trí tò mò của con người, bởi thế quyền năng tiên tri là điều được ngưỡng vọng vào bậc nhất trong lịch sử nhân loại. Thế nhưng, cơ chế để hình thành nên một lời tiên tri không giống nhau, hay nói một cách khác cơ cấu của từng hệ thống quyền năng tiên tri khác nhau rất nhiều.

“Tiên tri” có nghĩa là “biết trước”. Chữ “tri”, theo Từ điển Thiều Chửu, có nghĩa là khả năng phân biệt, phán đoán, ghi nhớ, nhận biết của con người. Luận về chữ “tri” này, có lẽ sẽ cần đến một cuốn sách triết học, nhưng ở đây ta có thể hiểu “tri” như một cách nhận thức về thế giới. Như thế, “tiên tri” có thể hiểu là khả năng nhận thức thế giới nhanh hơn và đi trước thiên hạ, nhà tiên tri là người có thể nhận thức được những điều mà người khác chưa thể nhận thức được, mà tương lai là một phần trong đó. Khái niệm “nhà tiên tri” trong tiếng Anh là “prophet” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “prophetes” có nghĩa là “người phát ngôn của các vị thần” hay “bậc thầy truyền cảm hứng”, trong đó “pro” có nghĩa là “trước”, cụm “phetes” có xuất phát cổ xưa hơn, từ “phanai” có nghĩa là “nói”. Vì thế, khái niệm “prophetes” ở phương Tây mang tính truyền tin, rao giảng nhiều hơn khái niệm “tiên tri” ở phương Đông. Trong khuôn khổ bài viết ngắn này, tôi không có ý định chọn một trong hai nghĩa để phân tích về loại quyền năng vừa kể trên, mà sẽ bao trọn cả hai nhóm nghĩa  và gọi chung là “tiên tri”.

Xét về quyền năng tiên tri, ta có thể phân loại theo các cơ sở của dự đoán như sau:

#1. Tiên tri dựa trên dữ liệu

Những ai tìm hiểu về “big data” sẽ hiểu về cơ chế này. Khi người nào đó biết được càng nhiều dữ liệu trong quá khứ và hiện tại, lại có cơ chế xử lý và phân tích những dữ liệu ấy nhằm nhìn ra quy luật, người đó sẽ đoán trước được xu hướng những gì có thể xảy ra trong tương lai. Đây là lối “tiên tri” được các nhà xã hội học, kinh tế học yêu thích dù bước vào con đường này thì thử sai thất bại nhiều hơn là thành công. Tuy nhiên, trên thực tế, các cách tiên tri này còn có độ phổ rộng hơn nhiều, ở cả nhiều lĩnh vực của đời sống.

Sau này, người ta ghi chép lại những quy luật thành các hệ thống như astrology, numerology, tử vi, dịch số, xem tướng,… để cung cấp một bộ công cụ mà những người có ít dữ liệu hơn vẫn có thể sử dụng được, đỡ mất công đi khảo sát. Có thể nói, các bộ môn ấy chính là các hệ thống mô hình hóa một lượng dữ liệu khổng lồ (từ dữ liệu về các thành phần của xã hội, các chuỗi sự kiện, cấu tạo của con người cả về tinh thần và vật chất, và thậm chí là cả các biến động tự nhiên như thời tiết hay bầu trời sao…) một cách thông minh. Nền văn minh loài người bị tiêu hủy nhiều trong chiến tranh, thế nên người ta chỉ còn giữ được những thứ lập tức ứng dụng ngay chứ không hiểu được cơ chế mô hình hóa từ khối dữ liệu khổng lồ ấy cụ thể là như thế nào. Sau này, có thể khoa học phát triển, các ngành nghiên cứu vật lý lượng tử, công nghệ gene, khoa học não bộ… biết đâu lại có thể giải thích được cơ chế mô hình hóa ấy chăng? Nhưng đó là chuyện của tương lai. Tuy nhiên, loại công cụ ứng dụng tức thời dựa trên ghi chép cổ xưa này sẽ gặp phải vấn đề trục trặc khi có quá nhiều sai số do lượng dữ liệu bị tăng đột biến mà không theo các quy luật đã được định sẵn trong đó. Thế nên, người sử dụng chúng để tiên tri phải nhận biết được giới hạn của chúng và vừa sử dụng vừa lấy thêm dữ liệu từ bên ngoài rồi tạo nên các mô hình mới. Vấn đề là, không hiểu được cách mô hình hóa cổ xưa, làm sao có thể tạo ra cách mô hình hóa mới được. Thế nên, e rằng các hệ thống này sẽ bị lung lay trong thời gian tới.

Loại tiên tri này là nguồn cảm hứng cho không ít các nghiệp vụ điều tra đang thịnh hành trong điện ảnh Holywood hiện nay cũng như các hình mẫu quân sư trong tiểu thuyết và phim truyền hình Trung Quốc. Để có khả năng tiên tri dựa trên dữ liệu, chúng ta phải dựa trên sự hiểu biết, phân tích, phán đoán, không dễ dàng gì thực hiện được đối với những ai lười biếng.

#2. Tiên tri nhờ vào thế lực cõi vô hình

Một trong các nghĩa của “tiên tri” theo tiếng Hy Lạp, như đã nói ở trên, là “người phát ngôn của các vị thần”. Trong bài về muôn vẻ nhập đồng, tôi đã nhắc đến họ (Đọc thêm tại đây: https://nghiencuutongiao.info/2017/05/15/muon-ve-nhap-dong-hay-nhung-cai-bay-tam-linh/ ). Do một sự kết nối vô tình hay hữu ý, tâm trí của họ bị điều khiển bởi một thế lực tâm linh nào đó. Thế lực tâm linh này, có thể thiện hoặc ác, cho họ thấy những thông điệp hoặc viễn ảnh. Ví dụ như trong Kinh Thánh, Thượng Đế cho Noeh biết trước về trận đại hồng thủy; hoặc trong thần thoại Hy Lạp, những cô đồng Pithy của đền Delphi làm nhiêm vụ chuyển trao ý của thần Apollon và các vị thần Olympus; gần gũi hơn với chúng ta là các bà đồng xem bói hoặc các thày phù thủy nuôi vong hồn để lấy thông tin từ cõi âm… Những nhân vật lớn như Nostradamus, Vanga, Edgar Cayce … đều thuộc dạng này.

Thường thì, những người nói ra các thông điệp hoặc viễn ảnh này không ý thực được tại sao các thế lực tâm linh lại cho họ biết những điều ấy. Họ chỉ biết tuân phục hoặc trục lợi mà thôi. Thế tức là nếu các thế lực tâm linh vô hình mượn họ để thực hiện kế hoạch của mình, họ cũng không thể biết. Ví dụ như những lời tiên tri loại này đã hủy hoại các anh hùng Hy Lạp như Hercules, Oedipus và phần nào gây nên cuộc chiến thành Troy. Chúng ta thường chấp nhận lời tiên tri hoặc hướng dẫn từ thế lực thần thánh để giải quyết lợi ích trước mắt nhưng ít khi nào có thể tính toán được những diễn biến lâu dài có thể xảy ra từ những lời tiên tri ấy.

Nếu các bạn quan sát kỹ các kiểu bói lá, xóc quẻ hay bài tây, tarot, các bạn sẽ thấy rằng chúng bị chi phối bởi thế lực tâm linh nào đó, có thể thiện hoặc ác, thấp hoặc cao, mạnh hoặc yếu, tùy sự kết nối của người xem. Đa phần, chính những người bói cũng không ý thức được điều này. Một số người ý thức được, họ sẽ tạo ra sự đàm phán giữa bản thân và thế lực ấy hoặc chọn lựa thế lực phù hợp với mình, hoặc thậm chí là không tùy tiện bói toán nữa.

Những cách bói dựa vào thế lực vô hình này rất “hên xui”. Thường thì khi nào thế lực tâm linh vô hình ấy đủ mạnh để kết nối thì các thông điệp hoặc viễn ảnh sẽ chính xác, nếu không thì người tiên tri phải tự bịa ra thông điệp hoặc viễn ảnh. Trường hợp bị “mất kết nối” dẫn đến “mất linh” xảy ra khá thường xuyên. Thế nên, một áp lực không nhỏ đối với những người xem bói kiểu này là giữ sự kết nối ấy bằng việc tuân thủ một số luật lệ nhất định hoặc thường xuyên chủ động tạo sự kết nối bằng tiếp xúc biểu tượng hoặc cầu nguyện. Nếu không, họ sẽ phải từ bỏ nghề này hoặc bịa đặt các thông điệp theo kiểu dân gian ta vẫn nói đùa là  “thày bói nói dựa”.

#3. Tiên tri bằng phát ngôn

Zarathustra, Moses, Jesus, Mohammed… đều được gọi là ngôn sứ hoặc “nhà tiên tri” mặc dù họ không đưa ra tiên đoán nào về vận mệnh nhân loại. Trong thần thoại Hy Lạp, nhân mã Chiron cũng được gọi là nhà tiên tri mặc dù ông ta chỉ làm mỗi việc là dạy dỗ cho các anh hùng. Vậy thì cách họ “tiên tri” là gì? Họ tiên tri bằng việc biến lời nói của mình thành hiện thực. Họ có một ý tưởng để cải tạo và thay đổi con người hoặc thế giới, họ tạo các ám thị trong tâm trí người nghe, khiến người nghe bị thuyết phục. Cứ thế, nhân rộng lên, họ tạo ra sự ảnh hưởng đối với thế giới và thay đổi thế giới. Tức là bằng lời rao giảng, họ thúc đẩy thế giới theo cách họ mong muốn.

Các nhà chính trị, nhà triết học, nhà văn đều có khả năng thực hiện điều này. Một khi lời nói ấy chứa đựng trong nó nhiệt huyết và niềm tin tưởng tuyệt đối, nó có thể thuyết phục được số đông quần chúng đi theo. Khi số đông quần chúng bị thôi miên bởi lời nói, họ sẽ hành động để biến lời tiên tri ấy thành hiện thực. Thế nhưng, thường thì lời tiên tri loại này có ảnh hưởng tích cực chẳng được bao lâu, và thường bị lợi dụng để tạo ra một thể chế toàn trị. Một số nhà giáo dục hay các nhà tâm lý học cũng thường đưa ra những lời tiên tri dạng này như một liệu pháp tâm lý và hậu quả là chúng tạo nên một cái tôi khác cho người được giáo dục hoặc điều trị. Cái tôi này nếu ở trong môi trường thích hợp sẽ ngày càng lớn tới mức người ấy ngày một xa rời bản thể của mình và trở thành robot vận hành theo đúng thứ lời tiên tri ấy đã cài đặt.

Lời tiên tri loại này có thể bị biến thành nguyền rủa khi có người dùng nó với mục đích xấu. Một lời nguyền rủa được tung ra với lòng thù hận sẽ trở thành một chuỗi các ám thị lên người xung quanh và đối tượng bị nguyền rủa . Họ bị lời nguyền thôi miên đến mức càng cố thoát khỏi lời nguyền rủa thì lời nguyền rủa càng phát tác. Nếu chúng ta không cẩn thận trong phát ngôn, một câu nói vô tình có chứa cảm xúc của chúng ta hướng tới một đối tượng nào đó cũng có thể trở thành lời nguyền rủa tới mức đối tượng ấy bị triệt hạ. Bởi thế, một khi ta càng có sức ảnh hưởng lớn thì ta càng phải cẩn thận lời nói của mình.

Tiên tri bằng lời nói cũng có thể trở thành những điềm báo ngụy tạo để làm chao đảo nhân tâm. Những điềm báo ngụy tạo này thường được tung ra khi người ta có ý định tiêu diệt một triều đại hay một tổ chức hay lật đổ một cá nhân nắm quyền nào đó; cũng có thể dùng để làm dư luận nhằm ủng hộ một người nào đó nắm trọng trách. Đây là một thủ thuật chính trị tầm thường, rất dễ phát hiện nhưng người ta lại thường dễ bị lừa gạt, nguyên nhân là do sự ngụy tạo ấy mang lại lợi ích cho người tiếp nhận nó, vì thế người ta sẵn sàng bỏ qua sự nghi ngờ và tính xác thực. Những điềm báo ngụy tạo này thường đóng vai trò như “giọt nước tràn ly” trong các tình huống mang tính thay triều đổi đại.

***

Mặc dù phân chia ra 3 loại cơ cấu tiên tri như thế, nhưng trên thực tế ba loại này đan xen với nhau khá phức tạp. Một người tiên tri bằng dữ liệu không chính xác lại có thể vô tình tạo ra loại tiên tri dựa trên lời nói. Một người tiên tri dựa trên lời nói có thể biết các dữ liệu nhưng vì muốn thay đổi tình thế nên cố tình tạo ra một lượng lớn các dữ liệu mới để gây sụp đổ hệ thống cũ. Một người tiên tri nhờ vào thế lực vô hình cũng có thể trở thành tác nhân dẫn đến việc cả nhân loại bị ám thị mà làm theo; hoặc lời tiên tri từ thế lực vô hình ấy cũng là dựa trên dữ liệu chúng ta không có khả năng tiếp cận được mà chỉ các vị thần mới có thể…v…v…

Ngoài ra, về cùng một sự việc diễn ra trên Trái Đất hoặc về số phận của một con người, từ rất nhiều hệ thống và cách thức khác nhau người ta có thể đưa ra các lời tiên tri khác nhau. Nếu tin vào một hệ thống thì chẳng phải chúng ta chỉ là vai diễn của vở bi hài kịch mà hệ thống ấy mong muốn ư? Nếu tin tất cả các hệ thống đưa ra tiên tri khác nhau ấy thì chẳng thà chúng ta không tin gì cả, mà chỉ ghi nhận có hơn không? Bạn muốn rơi vào trò chơi tâm trí ngớ ngẩn ấy ư?

Tóm lại, tiên tri là một trò chơi nguy hiểm mà loài người không nên lạm dụng và cũng không nên quá tin tưởng. Bởi lẽ, thế giới chúng ta đang sống là một thế giới của rất nhiều khả năng và con người có thể có rất nhiều lựa chọn nếu biết động não suy nghĩ. Thế thì tại sao phải biết trước tương lai để rồi bỏ qua vẻ đẹp của hiện tại?

Hà Thủy Nguyên

Nhận thức bản thân hay chiếc mặt nạ hoàn hảo

blogpost thumb

Bản tính hay cá tính của một người là một cái gì đó rất mơ hồ trong định nghĩa. Tất cả loài người đều khó có thể nhận diện được đúng bản thể của mình, kể cả họ có là những nhà hiền triết hay các bậc chứng ngộ. Bản thân mình là ai? Điều gì đã định hình nên tâm trí của chúng ta? Cách chúng ta nghĩ về mình có thực sự trung thực hay đã bị tô vẽ theo một cơ chế nhận thức nào đó?… Những câu hỏi như vậy sẽ luôn khiến chúng ta cảm thấy bối rối về tính cá nhân của mình? Đã cả ngàn lần, tôi luôn băn khoăn về   mình có đang thực sự sống cuộc đời của mình hay không, hay đang sống cuộc đời của kẻ khác áp đặt lên mình – cái thứ mà chúng ta vẫn gọi là định mệnh. Nhưng thôi, bàn về số mệnh thì chúng ta sẽ đi vào một ngõ cụt khác. Bây giờ, tôi sẽ chỉ viết về vấn đề nhận thức bản thân.

Bởi vì “bản thân” là một thứ mơ hồ, nên “nhận thức bản thân” cũng là một hành trình đi tìm kho báu ở một vùng đất xa xôi nhưng không ai biết kho báu ấy thực sự là cái gì. Các trường phái tôn giáo tâm linh chân chính đều đưa ra rất nhiều những chỉ dẫn để hướng dẫn con người đi tìm bản thể hay bản tính của mình. Nếu có thể vượt qua khỏi các ảo giác về bản thân mình, càng đi, ta sẽ càng thấy hư vô. Và một cách kỳ diệu, các bậc chứng ngộ nhận thấy rằng con đường vào hư vô ấy lại là con đường đúng đắn. Họ đã thấy kho báu, nhưng họ không thể nói cho chúng ta biết kho báu ấy là gì, lại không thể cầm tay dắt chúng ta đi tới kho báu. Họ chỉ để lại bí quyết duy nhất của những nhà phiêu lưu chuyên nghiệp: Vứt dần những gì không cần thiết.

Vậy đấy, để bước trên con đường nhận thức bản thân, bạn phải vứt bỏ những cái tôi giả dối mà cộng đồng và chính chúng ta đã tạo nên. Hết lần này đến lần khác như thế, bạn thấy một phần của con người mình chết đi. Đó là những cá tính không còn cần thiết cho cuộc hành trình. Nhưng vứt bỏ cái tôi nào đó không cần thiết nữa không đồng nghĩa với phủ nhận quá khứ đã trải qua của bạn. Qúa khứ đã qua, dù tồi tệ hay hạnh phúc, chúng đều là những dữ liệu cho bản đồ dẫn đến kho báu của bạn. Một sai lầm lớn của những người bước trên con đường tâm linh đó là phủ nhận quá khứ của mình, coi quá khứ ấy là một thời mông muội, vô minh. Nhưng chúng ta xuống thế giới này không phải để thức tỉnh. Chúng ta xuống đây trong sự thiếu nhận thức để tận hưởng và dấn thân, nhưng rồi sẽ đến lúc, chúng ta học cách quay trở lại trạng thái sáng suốt để đánh giá, để ghi nhớ, và để chuẩn bị cho những cuộc dấn thân lớn hơn, những tận hưởng lớn hơn. Một người không nhớ quá khứ thì không thể nhận thức được bản thân mình, họ chỉ sống như con rối được giật dây bởi ai đó vô hình. Họ đã bị “tẩy não”, và được nhồi sọ về một con người mới – con người mà kẻ khác cố thuyết phục họ rằng đó mới là con người thật.

Tôi đã gặp nhiều người tu tập tâm linh lâu năm. Qúa khứ của họ là một chuỗi mờ ảo. Hoặc họ lẫn lộn về ký ức của mình, hoặc họ kể đi kể lại một câu chuyện đầy kịch tính đến nằm lòng với một giọng vô cảm. Những người ấy đã bị tẩy não. Họ không còn thật sự nhận thức được bản thân mình. Họ đang diễn vai là một người thức tỉnh và họ tin rằng họ thức tỉnh. Thế là, bất cứ chi tiết quá khứ nào chứng minh rằng họ cũng bình thường như những con người khác, hoặc tệ hơn thế, tầm thường đến mức khốn nạn, họ liền bỏ qua chúng hoặc cố tình phóng đại.

Tôi có quen một người Pháp tu tập tâm linh 20 năm và nổi tiếng ở Việt Nam với một khóa học về Lãnh đạo bản thân. Khóa học này là nguồn thu nhập chính của anh ta đồng thời cũng là cách anh ta tuyên truyền về các lý thuyết tâm linh của mình. Một phần rất quan trọng của khóa học đó là bài học về nhận thức bản thân. Sau khi làm một loạt trắc nghiệm để phân tích các thói quen và định kiến cá nhân, bạn sẽ được dẫn dắt rằng bạn là một người rất tốt đẹp, bạn là các giá trị hoàn hảo như yêu thương, dũng cảm, bình an…v…v… Đây là cách mà giáo phái Brahma Kumaris dạy đệ tử của họ và khóa học này được những người đệ tử xuất sắc nhất của giáo phái phát triển.  Cách đi này của họ đã truyền cảm hứng cho không ít các khóa học kỹ năng sống mà các doanh nghiệp tổ chức, dù rằng không bài bản bằng. (Đọc thêm về Brahma Kumaris tại đây: https://nghiencuutongiao.info/2017/05/31/brahma-kumaris-tu-con-duong-tam-linh-den-day-ky-nang-song/ ) Phải thừa nhận, cách nhận thức bản thân kiểu này rất thuyết phục. Nó thuyết phục bởi vì sau khi con người phải đối mặt với sự hư vô, với quá khứ bẩn thỉu của mình, họ cần một cái mặt nạ mới, một cái tôi mới được mạ vàng. Sự bẩn thỉu trong họ không mất đi mà được tô son điểm phấn bằng các đức hạnh thần thánh. Sự sợ hãi với hư vô đã đẩy họ trở thành những nô lệ vô nhân tính của mớ giáo lý sai lầm. Đây là sai lầm mà nhiều lớp dậy Thiền, nhiều giáo phái mới, hay thậm chí những tôn giáo lớn cổ xưa như Kito giáo, Tịnh độ tông… mắc phải. Đương nhiên, có thể đây chưa chắc đã sai lầm, mà có thể tôi đã sai lầm. Bởi vì, có khả năng lớn rằng họ những giáo phái ấy không muốn con người thức tỉnh, không muốn con người tự do mà  có một động cơ khác mang tính chính trị hoặc doanh thu hơn. Nhưng thôi, đó là việc của họ.

Khi đối mặt với hư vô, ta không còn biết chắc chắn rằng đâu là con người thật của ta nữa. Lúc này, ta sẽ đứng giữa hai lựa chọn: Hoặc tiếp tục đi vào hư vô ấy. Hoặc vẽ ra một con người tốt đẹp giả dối rồi đồng nhất con người ấy với bản thân. Đa số chọn ở lại với sự giả dối. Đi vào hư vô đòi hỏi nhiều dũng khí hơn bất cứ sự mạo hiểm nào. Bởi vì lúc ấy, ta tự trở nên xa lạ không phải chỉ với cộng đồng mà còn với cả chính mình. Nhưng đó là con đường đúng đắn của nhận thức bản thân.

Ừm… còn một vấn đề nữa rất trừu tượng mà những người rất thông minh thường mắc phải. Họ nhận thức được rằng không nên vẽ ra những cái tôi đức hạnh để nuôi dưỡng vị thế của mình trong cộng đồng. Họ nuôi một cái tôi khác tinh vi hơn. Cái tôi này khoác vỏ “Hư vô”. Họ coi họ là “Hư vô”, họ chọn cho mình lối sống vô vi, bất chấp tất cả. Họ thường đóng vai tiêu dao hoặc vai “trí tuệ điên”, như thể họ đã vượt xa khỏi thế giới tầm thường này. Đó cũng chỉ là một cái mặt nạ khác. Sai lầm của họ ở đâu? Đó là họ đã tự định nghĩa mình bằng chữ “Vô”. Chính điều ấy giới hạn hành động của họ trong những chuỗi phá chấp. Chấp vào phá chấp thì vẫn là chấp mà thôi. Ở đây, họ cũng đã hèn nhát bỏ hành trình đối mặt với hư vô mà tạo ra một thứ hư vô giả để vờ rằng mình đã đến đích, đã hoàn thành cuộc hành trình.

Nhận thức bản thân mình không biến chúng ta trở nên quyền năng hơn hay vĩ đại hơn. Nhận thức bản thân chỉ khiến bạn nhận ra những cái xích đang trói buộc bạn, những mặt nạ cuộc đời mà bạn tự đồng nhất. Vậy nên, nếu thấy chưa đủ dũng khí để đối mặt với hư vô, tốt nhất bạn cứ dấn thân và tận hưởng, thay vì mê muội chạy theo các ảo tưởng vĩ đại xa vời.

Hà Thủy Nguyên

Xem “Arrival”, nghĩ vài điều về thời gian và ngôn ngữ

blogpost thumb

Mới đầu năm 2017, các nhà làm phim Holywood đã cho ra đời hai bộ phim “siêu ảo” về dòng thời gian và những thông tin lưu chuyển tương ứng, đó là “Assassin’s creed” và “Arrival”. Tôi thích thú với “Assassin’s creed” hơn nhưng tôi sẽ không viết về nó bởi nó dường như vẫn đang dang dở. Tôi sẽ viết về “Arrival” không phải vì tôi thích nó mà vì những gì tôi thấy nực cười ở bộ phim này, và những lý giải về thời gian và ngôn ngữ của bản thân để phủ nhận những lý thuyết mà phim đề cập đến.

“Arrival” kể về một cuộc đổ bộ của người ngoài hành tinh trong hòa bình với mục đích hướng dẫn người dân thế giới cách học ngôn ngữ của họ với lời dụ rằng nếu học được thì sẽ có khả năng tư duy thời gian phi tuyến và nhìn được tương lai. Bộ phim này hẳn sẽ hấp dẫn những ai quan tâm đến triết học ngôn ngữ hay vật lý lý thuyết (Thật thâm ý khi chọn cặp đôi chính là một nhà ngôn ngữ học và một nhà vật lý lý thuyết). Nữ nhân vật chính, nhà ngôn ngữ học Louis Banks và nam nhân vật chính Ian Donnelly là một điển hình của các cặp đôi trong phim người ngoài hành tinh xâm lược Trái Đất. Họ có đủ kiến thức để giải mã ngôn ngữ của người ngoài hành tinh và phải sống trong môi trường quân ngũ, nói những chuyện đòi hỏi chuyên môn cao với những kẻ lãnh đạo không hiểu gì (lại một mô tuýp quen thuộc nữa) và những anh lính máu chiến. Trong lúc say sưa giải mã ngôn ngữ ngoài hành tinh thì tình hình chính trị của thế giới đã “loạn xì ngầu” bởi không khí hoảng sợ trên truyền thông và những tin đồn của các giáo phái. Bộ phim hoàn toàn có thể hay hơn nếu tất cả những yếu tố đó được tận dụng để lột tả một thế giới loài người ngu xuẩn thay vì xoáy sâu vào cơn mộng mị giữa quá khứ – hiện tại – tương lai của Louis Banks và những câu đùa cợt của Ian Donnelly. Tôi đã kỳ vọng rằng Louis Banks sẽ có nhiều cảm xúc hơn những cơn hoảng loạn và Ian Donnelly sẽ tận dụng được sở trường vật lý lý thuyết của anh hơn là đi đi lại lại chạy theo em Louis. Tôi cũng kỳ vọng bộ phim sẽ đan cài được bàn cờ chính trị một cách trung thực, nhưng phim lại đi vào một lối mòn tư duy kiểu nước Mỹ sẽ có đường lối chân chính – hòa giải, còn các quốc gia khác trên thế giới chỉ là lũ ngu xuẩn chạy theo cơn hiếu sát của Trung Quốc và Nga – chiến tranh. Một người bạn của tôi khi xem phim đã cười khẩy và nhận xét: “Bọn làm phim này không hiểu gì về tư duy chính trị của Trung Quốc. Bọn Trung Quốc trong bối cảnh ấy sẽ khích cho Mỹ tuyên chiến trước chứ chả dại gì mà tuyên chiến. Hoặc là bắt tay với người ngoài hành tinh để mượn lực tiêu diệt Mỹ.” Cũng là một ý hay! Nhưng thôi, tất cả những điều tôi phàn nàn chỉ là chi tiết nhỏ. Điều tôi quan tâm hơn cả là các lý thuyết mà phim này đặt ra.

Thứ nhất, khi học một ngôn ngữ thì não bộ của bạn sẽ được sắp xếp theo ngôn ngữ ấy. Điều này hoàn toàn đúng. Học một ngôn ngữ mới, nếu chỉ học theo kiểu “Monkey see, Monkey do” thì sẽ không thể hiểu được ngôn ngữ ấy. Thế nhưng nếu nắm được các nguyên tắc bên trong một ngôn ngữ, tức là bạn đã hiểu được cách thức tư duy của những người sử dụng ngôn ngữ ấy. Và khi bạn tiếp nhận bất cứ một loại hình kiến thức nào thì những kiến thức ấy cũng thay đổi cách thức não bộ của bạn vận hành và sẽ thay đổi cách các bạn nhận thức thực tại. Một ví dụ điển hình là chữ tượng thanh và chữ tượng hình. Chữ tượng thanh là sự mã hóa thông tin bằng âm thanh và được biểu hiện qua các ký hiệu mô phỏng âm thanh ấy. Tức là thông tin đã được trừu tượng hóa. Bạn không cần biết về hình thù của cái cây, nhưng khi nghe hoặc đọc chữ “Cây”, bạn vẫn có thể hình dung được rằng đó là một loài mọc từ đất và có lá xanh, hấp thụ Carbonic rồi thải ra Oxi. Nhưng vấn đề lớn với cách tượng thanh trừu tượng này, đó là nó lệ thuộc vào phần định nghĩa, mà định nghĩa luôn có giới hạn. Khi gặp phải những trường hợp cây không phải có màu xanh thì liệu có phải là cây? Chữ tượng hình, tỉ dụ như chữ Trung Quốc mô tả cây bằng chữ “Mộc”, không phải vẽ một cái cây mà vẽ các nguyên lý của cây với thân, rễ và cành. Tất cả các cây đều có đủ ba bộ phận này. Chữ tượng hình không trừu tượng hóa chỉ biểu tượng hóa mà thôi.  Học chữ tượng thanh, cách nhận thức thực tại của chúng ta sẽ theo lối diễn dịch tuyến tính bởi phụ thuộc và dòng chảy âm thanh trong khi nghe nói của chúng ta. Học chữ tượng hình cho ta cái nhận thức thực tại theo lối nguyên lý của sự vật, sự việc và trạng thái. Và cũng đôi khi chữ tượng hình áp những nguyên lý ấy lên cách ta nhận thức chứ không chắc rằng ta nhận thức được bản chất. Việc này rất vi tế và chỉ khi rất cảnh giác với những gì ta tiếp nhận trong não bộ mới có thể phát hiện ra được.

Trong “Arrival”, nhà ngôn ngữ học Louis Banks cho rằng ngôn ngữ của người ngoài hành tinh với xúc tu ấy là ngôn ngữ tượng hình. Vậy khái niệm “hình” ở đây nên được hiểu như thế nào trong khi những biểu hiện của ký tự được mô tả là vòng tròn với các vệt xước khác nhau. Những vết xước này khá giống đồ thị dao động của sóng âm. Những “hình” mà chúng nhìn thấy sẽ là các tần số dao động của vật chất, giống như dơi. Như vậy, thứ chúng nhìn thấy là “hình” của sóng chứ không phải cái biểu hiện của vật chất qua không gian và ánh sáng phản chiếu trong mắt của chúng ta. Nhận thức thế giới ở dạng sóng nên những người ngoài hành tinh này cũng phát âm dưới dạng sóng với những tiếng “Aum” quen thuộc mà các trường phái tu Ấn Độ và Tây Tạng vẫn sử dụng. Học loại ngôn ngữ này, bản chất là học cách nhận thức thế giới bằng các rung động của sóng. Loại tượng hình này khác hẳn với tượng hình của Trung Quốc hay Ai Cập…v…v… và cũng không phải là tượng thanh. Khuôn chữ của người ngoài hành tinh luôn có hình tròn, gợi cho ta liên tưởng tới sóng âm luôn truyền đi theo hình cầu. Điều này càng khiến tôi tin rằng người ngoài hành tinh trong “Arrival” tư duy ngôn ngữ theo hình của sóng âm.

Vậy thứ chữ tư duy bằng sóng âm này liên quan gì đến thời gian phi tuyến? Bộ phim nhắc đi nhắc lại rất nhiều về thời gian phi tuyến. Trong phim, Louis Banks luôn bị ám ảnh bởi đứa con đã qua đời vì ung thư của mình. Những ám ảnh ấy xen kẽ với hiện thực là cô đang giải mã ngôn ngữ của người ngoài hành tinh. Nhưng đến cuối phim người xem, và cả Louis Banks mới nhận ra rằng đó là tương lai chưa xảy ra. Tương lai ở đây đã bị nhầm lẫn thành quá khứ. Bộ phim lý giải rằng học thứ ngôn ngữ ngoài hành tinh thì sẽ học được cách tư duy phi tuyến về thời gian. Lại một vấn đề phức tạp khác được đặt ra ở đây! Bản chất thời gian là gì? Một tranh luận nhiều nghìn năm lịch sử và chưa bao giờ có lời giải đáp. Tôi sẽ nói những nhận thức của tôi về thời gian. Nếu các vật chất không va đập vào nhau và ở trạng thái tĩnh, thời gian có lẽ sẽ không tồn tại. Thời gian trôi chảy dựa trên một chuỗi các va đập của vật chất. Khi vật chất va đập vào nhau tạo ra các chuỗi sóng âm thì dòng chảy thời gian bắt đầu được hình thành. Thế nên, thời gian trôi đi chúng ta vốn không thể nhìn thấy, nhưng nhìn được các biểu hiện của dòng thời gian. Ví dụ như chúng ta cảm thấy thời gian trôi qua mặt trời lặn, mặt trời mọc; qua hoa nở hoa tàn; qua sự bắt đầu và kết thúc rồi lại tái sinh. Nếu muốn thay đổi dòng chảy thời gian, một cách khoa học viễn tưởng, đó là tác động vào sự va chạm của những vật chất. Như vậy, bản chất thời gian là phi tuyến, là không thể định trước, là có nhiều khả năng. Bởi sự kiện gì diễn ra trong tương lai phụ thuộc vào cách ta tác động vào vật chất. Như thế, cái thứ mà đám người ngoài hành tinh tự nhận là thời gian phi tuyến ấy có thể là cái gì?

Louis Banks nhìn thấy tương lai đã được định sẵn của mình, trong đó cô biết trước được điều mình cần phải nói với một tướng quân Trung Quốc và lặp lại y hệt những gì tương lai diễn ra. Như thế, chẳng phải hiện thực này của Louis Banks đang bị chi phối bởi một tương lai không phải do cô quyết định mà do một thế lực siêu nhiên nào đó đã bày sẵn cho cô? Nếu thực sự thời gian là phi tuyến thì tại sao đám người ngoài hành tinh không dạy cô cách tác động vào vật chất để thay đổi tuyến tính của thời gian. Nếu thời gian là phi tuyến tại sao Louis Banks chỉ có thể đi theo một tương lai duy nhất mà cô nhìn thấy? Tư duy về thời gian của người ngoài hành tinh ở thế kỷ 21 xem ra còn lạc hậu hơn tư duy của Schrodinger trong nghịch lý con mèo. Nghịch lý con mèo có nội dung như sau:

“Một con mèo được nhốt vào trong hòm sắt, cùng với các thiết bị sau (mà con mèo không thể tác động vào): một ống đếm Geiger và một mẩu vật chất phóng xạ nhỏ đến mức trong vòng một tiếng đồng hồ chỉ có 50% xác suất nó phát ra một tia phóng xạ. Nếu có tia phóng xạ phát ra, ống đếm Geige sẽ nhận tín hiệu và thả rơi một cây búa đập vỡ lọ thuốc độc hydrocyanic acid nằm trong hòm sắt và mèo sẽ chết. Nếu trong vòng một tiếng vẫn không có tia phóng xạ nào phát ra, mèo sẽ vẫn sống. Hàm sóng của hệ thống sẽ là sự chồng chập của cả trạng thái con mèo sống và con mèo chết và cả hai trạng thái chồng chập có biên độ như nhau. Trong những trường hợp như thế này, sự vô định của thế giới vi mô đã chuyển sang thế giới vĩ mô, và có thể được giải quyết bằng quan sát trực tiếp. Nó giúp chúng ta tránh phải chấp nhận một cách ngây thơ một “mô hình bị làm nhòe” khi mô tả thực tại. Bản thân các tình huống như thế này không có gì thiếu rõ ràng. Có sự khác biệt giữa một bức ảnh chụp nhòe của vật thể nào đó và một bức chụp rõ nét của đám mây hay sương mù” (Trích bài báo “Hiện trạng của cơ học lượng tử” – E.Schrodinger )

Nghịch lý này cho thấy có nhiều hiện thực song song đồng tồn, hay có nhiều khả năng có thể diễn ra với thực tại. Và người quan sát thực tại cũng có thể tác động vào thực tại. Có nghĩa là thời gian vốn dĩ phi tuyến, cũng giống như không gian vốn dĩ có rất nhiều chiều vậy. Vậy thì sự phi tuyến thật sự là chúng ta, giống như người quan sát, luôn có các cơ hội để chọn tương lai dựa trên các quyết định của hiện tại. Cái gọi là tương lai đã được biết trước bản chất là sự sắp xếp tương tác vật chất theo lộ trình có sẵn. Sự tiên tri về tương lai của cá nhân hay nhân loại bản chất là một lối ám thị về cách sắp xếp vật chất do một thế lực siêu nhiên nào đó (nếu có) lên chúng ta. Những lời tiên tri, hay cảm giác “Deja-vu” chỉ là một lối tự ám thị lên mình và nhân loại một tương lai đã được sắp sẵn. Ai đó đã mượn tay các nhà tiên tri để chúng ta tự ám thị chúng ta. Nếu cá nhân hoặc nhóm người nào đó có ý định tự chọn định mệnh cho mình xem ra sẽ bị sự sắp sẵn này nghiền nát.

Bộ phim cho thấy một sự tuân phục của tác giả và nhà làm phim trước các hiện tượng tâm linh dường như không thể lý giải bằng khoa học, mà cụ thể là hiện tượng tiên tri. Các biểu tượng được sử dụng ưa thích là tiếng “Aum” của những trường phái Mật Tông. Cách giải quyết vấn đề là giải pháp hòa bình và chấp nhận để đám người ngoài hành tinh ấy tác động đến não bộ của Louis Banks bằng việc học tập tư duy ngôn ngữ của chúng. Và đương nhiên, một giấc mơ không tưởng khác: Trung Quốc trở nên hiền lành và quy thuận sự hiểu biết của Mỹ. Người ta đồn đại nhau rất nhiều về các lời tiên tri như của Nostradamus, Vanga, Thomas Cayce…v…v…, người ta phát cuồng vì Astrology, Tử Vi, Tarot, Kinh Dịch…v…v… Người ta có nhu cầu biết trước tương lai được định sẵn. Nhưng người ta không có gan và không đủ tâm sức để luyện tập cách mình tác động và thay đổi tương lai. Đã bảo giờ các bạn tự hỏi tại sao những lĩnh vực xem trước tương lai lại có các quy ước nhất định như thế? Tại sao  có những kẻ tin tưởng vào lời tiên tri và tự cho mình cái sứ mệnh thực hiện lời tiên tri ấy? Bạn sẽ cảm thấy vui vẻ khi mình được sắp trước một tương lai hay thấy nhục nhã vì mình chỉ là con rối của định mệnh?

Giới tâm linh đang can thiệp vào đời sống chính trị và xã hội của chúng ta một cách thái quá. Họ – những kẻ tự cho mình là nhận thức được bản chất của thực tại, tự cho mình cái quyền cung cấp các mẩu thông tin mà thế lực siêu nhiên nào đó chính bản thân họ không hiểu hết tới nhân loại. Họ, trở thành một công cụ để áp đặt định mệnh lên loài người. Họ cung cấp các phương pháp thực tập tâm linh để qua đó ấn định nhân loại thành công cụ cho định mệnh đã được sắp xếp để diễn ra. Tôi chỉ muốn gửi đến họ câu nói của con gái tôi: “Mẹ ơi, tương lai không có thật đúng không? Nếu tương lai có thật tức là nó đã diễn ra, mà diễn ra thì nó là hiện tại”. Những người như tôi và con gái tôi tin rằng chúng ta hoàn toàn có thể chọn cho mình một tương lai chứ không phải trở thành công cụ của định mệnh.

Hà Thủy Nguyên

“Câu chuyện vô hình” – Sự trỗi dậy của Con Người cá nhân

blogpost thumb

Hamvas Béla (1897-1968) là nhà văn, nhà triết học tâm linh lớn nhất của Hungary thế kỷ 20. Hamvas Béla cùng Kerény Káoroly thành lập nhóm Đảo, một liên minh tinh thần tiếp nối truyền thống Hy Lạp cổ và thu hút được nhiều tên tuổi lớn của Hungary lúc bấy giờ. Nhưng sau ấn phẩm gồm ba tập (1935-1936), nhóm Đảo tan rã. Trong thế chiến thứ II, ông hoàn thành tập tiểu luận “Câu chuyện vô hình” (1943) khi còn đang ở ngoài chiến trận. Sau chiến tranh, Hungary sát nhập vào Liên bang Xô Viết, ông cùng Szabó Lajos và Tábor Béla thành lập nhóm tri thức cấp tiến được gọi là “Những buổi trao đổi thứ năm hằng tuần” nhằm tìm hiểu toàn bộ các vấn đề tinh thần thời đại. Mặc dù lại tiếp tục thu hút được nhiều tên tuổi lớn, nhưng đến năm 1948, tác phẩm “Cách mạng trong nghệ thuật” của ông viết chung với vợ đã bị đình chỉ vì lý do chính trị. Từ đó, ông bị tước tất cả quyền biên tập, viết và xuất bản, trở thành đối tượng theo dõi của chính quyền

Đây là bài viết kỷ niệm 117 năm ngày sinh của Hamvas Bela (23/3/1897 – 23/3/2014)

———

“Câu chuyện vô hình”  , với tôi, là tập tiểu luận vĩ đại về sự trỗi dậy của Con người cá nhân. Ở trong tập tiểu luận này, chúng ta không  thấy sự trỗi dậy của những cái Tôi dị biệt với những nổi loạn kỳ quái. Đây là sự nổi dậy của những tên khổng lồ đầy quyền lực khỏi cơn lũ đám đông đang tiêu diệt nhân loại. Hơn cả thế, cũng trong tác phẩm này, Hamvas Béla luận bàn về con đường của một linh hồn cần làm để quay về với vị trí thống trị của mình.

Chuyển dịch Kỷ nguyên Song Ngư sang Kỷ nguyên Bảo Bình

Mở đầu tập tiểu luận, Hamvas Bela viết về “Kỷ nguyên Bảo Bình”. Đây là một khái niệm chiêm tinh học. Nhiều nhà chiêm tinh học cho rằng Kỷ nguyên Bảo Bình bắt đầu từ quãng những năm 1960, đó là khi điểm xuân phân (ở Bắc Bán cầu) nằm ở chòm sao Bảo Bình. Qúa trình điểm xuân phân nằm ở mỗi chòm sao được gọi là “aion”, có nghĩa là tháng vũ trụ và kéo dài từ 2000 đến 2500 năm, tức là khi điểm xuân phân đi hết 12 chòm sao Hoàng đạo, Trái Đất đã trải qua 26.000 năm. Trước Kỷ nguyên Bảo Bình, chúng ta đã ở trong Kỷ nguyên Song Ngư – kỷ nguyên của niềm tin tập thể.

Nếu bạn lấy thời điểm hiện nay trừ đi hơn 2000 năm trước, bạn sẽ thấy những sự kiện vĩ đại tôn vinh thần tượng của đám đông. Điển hình là sự xuất hiện của chúa Jesus. Jesus Christ là một vị thánh độc đạo, nhưng con đường của ngài đã lôi kéo một đám đông vô thức chạy theo mà không được phép hoài nghi bất cứ điều gì. Con đường ấy đã trở thành con đường của tín đồ. Một trường hợp tương tự diễn ra trước đó 500 năm ở Ấn Độ là sự ra đời của Phật giáo. Trong những tôn giáo ấy, các phẩm chất của con người cá nhân bị tiêu diệt, thay vào đó là các giá trị chung được ấn định của giáo đoàn và niềm tin mù quáng được hình thành. Rồi sau đó là Hồi giáo tiếp tục chiếm lĩnh vùng Trung Cận Đông và bắt đầu xây dựng tôn giáo của đám đông cuồng tín. Nhưng ở thời kỳ đầu này, các đức hạnh cao đẹp của Thượng Đế ẩn tàng trong con người vẫn giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt “bầy con chiên” và giữ con chiên trong cái khung của đạo đức. Và theo thời gian, điểm xuân phân dần dịch chuyển về phía bên kia của chòm Song Ngư, đám đông không còn chịu sự trói buộc của đức hạnh nữa mà bắt đầu nổi loạn. Sự lên ngôi của chủ nghĩa duy vật, của các phong trào đấu tranh trong suốt thế kỷ 19 và 20 là những gì có thể mường tượng về đám đông ở giai đoạn cuối của thế kỷ 20. Hamvas Bela đã bình luận về giai đoạn cuối này như sau: “Vô thức lên trên và ý thức xuống dưới. Tri thức không ở trên mà là bản năng, không phải ánh sáng mà là địa ngục, không phải thứ phát triển mà là thứ thấp kém, không phải trật tự và sự tử tế mà là sự hỗn loạn và dục vọng. Không phải thứ tư duy có ý thức mà là một thứ cặn bã và thần tượng”.

Giải thích cho hiện tượng “mông muội hóa” này, Hamvas Bela cho rằng ở cuối mỗi thời kỳ, con người cá nhân bị tan vào biển đám đông vô thức, và đó là biểu hiện của sự mông muội. Ông có một sự phân biệt rõ ràng giữa người cổ đại và người nguyên thủy. Người nguyên thủy là những dạng sống trong sự dã man và tối tăm, người cổ đại không nhất thiết là người nguyên thủy. Người nguyên thủy với Hamvas Bela, là những cặn bã của quá trình mông muội hóa, những cá nhân tan chìm trong cơn hồng thủy vô thức, còn rơi rớt lại đến ngày nay.  Vậy quá trình mông muội hóa là như thế nào? Hamvas Bela sử dụng hình tượng của quá trình này là não thì ở dưới bụng còn dạ dày thì leo lên trên đầu. Đó là những gì ta đang thấy ở các tôn giáo và xã hội thế kỷ 20. Ở các tôn giáo, ý tưởng về  một cõi cực lạc sung túc đang lấn át mọi giá trị thiêng liêng. Ở xã hội, giá trị vật chất của cơm ăn áo mặc đang vùi dập tinh thần. Ở trong phim ảnh của Holywood, ta có thể thấy nỗi lo sợ ám ảnh trong câu chuyện về bệnh dịch Zombie (tử thi), được mô tả như đám đông bị rút cạn linh hồn, bị thu hút bởi tiếng động và ăn thịt sống. Đó là sự điển hình hóa cho lời tiên đoán về đám đông mông muội cuối kỷ nguyên Song Ngư.

“Thiên thần, nếu sống trên trời là thần linh, nhưng nếu rơi xuống đất, biến thành quỷ. Thiên thần không tỏa ánh sáng nữa, và lửa của thiên thần biến thành núi lửa. Vô thức ở dưới, nổi lên trên sẽ biến thành ma quỷ, giống như ý thức rơi xuống dưới”. Khi Hamvas Bela viết câu này, tôi cho rằng ông muốn ám chỉ đến Satan. Satan vốn là thiên thần Lucifer, cái tên “Lucifer” có nghĩa là “thiên thần ánh sáng”. Sự nổi dậy của Lucifer khi ở Thiên Đường là một ý tưởng bất tuân của cá nhân muốn thoát khỏi sự áp đặt của toàn thế, là đại diện cho ý tưởng về ý chí tự do của chính con người. Lucifer bị đuổi  khỏi Thiên Đường, trí tuệ bị ném vào địa ngục, bộ não bị đẩy xuống vị trí của dạ dày. Và trong suốt kỷ nguyên Song Ngư, Satan với trí tuệ đen tối từ địa ngục, chống lại Thượng Đế: “Bộ óc nổi loạn độc ác không khác gì cái ruột suy nghĩ. Cũng ma quái y như một cái cây rễ hướng lên trên và cành cắm xuống đất. Thiên thần bị tròng ách vào cổ cần phải biến thành quỷ sứ…” Chúng ta, với nhạc Rock, ma túy, sự cuồng loạn, các hành vi biến thái và bạo lực… đang tôn thờ Satan, tôn thờ ánh sáng bị chìm trong bóng tối, tôn thờ sự nổi dậy của vô thức, của các lý tưởng về bình đẳng. Và đó là những gì chúng ta gọi là giải phóng của thế kỷ 19,20. Tất cả chúng ta “tan vào thành một linh hồn duy nhất trong đám đông”. Đây là những mô tả của Hamvas Bela về dám đông và vô thức tập thể: “Trong trạng thái tập thể, con người tin vào một cái gì đấy, mà bản thân nó không tin,chỉ tin một cách chung chung. Con người không là một thực thể cá nhân, nó đồn hóa nó với một cái gì đấy bằng quan điểm, bằng cảm xúc, bằng hành động, có thể đồng hóa với một vật gì đấy, hoặc có thể đồng hóa với người khác”. Nếu ai đã từng tìm hiểu về chiêm tinh sẽ nhận ra những đặc tính tiêu cực của Song Ngư ở trong đoạn mô tả này. Đó là Con người tập thể trong suốt hơn 2000 năm qua, con người của những niềm tin mù quáng (nếu có khác nhau, chỉ là các đối tượng của niềm tin).

Nguyên nhân khiến con người cứ dần tan vào đám đông đó là trạng thái “tâm lý Vi mô”. Tâm lý Vĩ mô được Hamvas Bela định nghĩa như một dạng “linh hồn hoàn toàn, mà sự nỗ lực,bản chất, mục đích, và bản năng của nó để ngày càng hoàn toàn hơn”. Còn tâm lý Vi mô là “linh hồn đứt đoạn, bản năng của nó khiến nó ngày càng bé nhỏ, thiếu hụt và trống rỗng dần. Sự hoàn hảo tinh thần của con người đó là “một linh hồn, trong đó có tất cả mọi cái cần cho nó, sự hoàn hảo, không thiếu hụt, về mọi mặt đầy đủ và hoàn chỉnh, nơi những giác quan, tri thức, tinh thần, trí tưởng tượng trực giác và tất cả những cái khác họp nhau hài hòa, tất nhiên đấy chỉ có thể là Thượng Đế”. Dù cho không thể hoàn hảo như Thượng đế, nhưng tâm lý vĩ mô ở con người dẫn dắt con người đến với Thượng Đế, và chỉ trên con đường ấy, linh hồn của chúng ta không bị xé vụn vào các đối tượng nhỏ hơn như đời sống vật chất và tôn thờ những thứ quái đản. Tâm lý Vi mô được tạo ra bởi con người không còn mong ước hoàn hảo nữa, mà hướng tinh thần mình tới những đối tượng thấp kém. Ở đây, Hamvas Bela đặc biệt nhấn mạnh đến thuyết Vật linh và tôn thờ vật tổ. Vật tổ có thể là huy hiệu, ký hiệu chung, huy chương… Thuyết vật linh có nghĩa là “con người mông muội gán linh hồn cho đồ vật, hiện tượng hay công cụ..”. Những đồ vật ấy không có linh hồn, mà chỉ là những mẩu linh hồn nhỏ bé rơi vào đồ vật, sự kiện. Và cả hai hiện tượng này đều khiến “ý thức cá nhân rơi vào sự mờ mịt, tính tập thể nổi trội lên và bao hàm”, khiến “sự vô thức hoàn toàn thay thế bản thân cái linh hồn bé nhỏ chìm trong tăm tối, và nhầm lẫn bản thân mình với các sự vật khác”.

Nếu ở đầu kỷ nguyên Song Ngư, con người chỉ bị rơi vào niềm tin tập thể thì vào những giai đoạn cuối, con người đi vào thời kỳ cặn bã bằng tôn thờ chủ nghĩa duy vật. Hamvas Bela không lập luận dựa trên khoa học thực nghiệm, nền tảng của ông là truyền thống cổ xưa của phương Tây lẫn phương Đông. Ông nhắc lại những nhận định về bản chất của vật chất do Franz Baader đưa ra, và những nhận định này lại trùng với truyền thống cổ xưa. “Vậ chất xuất hiện từ hậu quả của những tàn tích đổ vỡ phân tán hỗn loạn của vũ trụ bởi những tai họa lớn trên thế giới. Ông nói, trong vũ trụ có một thiên thể duy nhất là Sirius Beta, một ngôi sao đã nguội và tắt, không ánh sáng, không nhiệt độ, một cơ thể bất động, từ đấy các nguyên tử tràn ra, chồng chất lên nhau yên nghỉ trong hỗn loạn, như trên một gò đống vĩ đại. Đấy là Sirius Beta, vật chất đầu tiên”. Và vật chất hoàn toàn khác với thiên nhiên. Thiên nhiên “là một phần khả năng tâm linh của tinh thần vũ trụ”, “tinh thần sáng tạo ra thế giới tập trung lại ở các tụ điểm như các thiên thể, Mặt Trời, các hành tinh và tất cả sự sáng tạo này trong từng phần và toàn bộ”. Một cách diễn giải thể hiện sự tương tác giữa vật chất và thiên nhiên rất thú vị, đó là: “vật chất là phân của thiên nhiên”. Chủ nghĩa duy vật cho rằng vật chất cấu thành nên vạn vật, con người, thiên nhiên… không gì khác hơn là tổ hợp vật chất. Và thế là bắt đầu của dục vọng, của phá hủy, của sự quỳ gối trước giá trị vật chất. Chủ nghĩa duy vật và đám đông tôn thờ nó, cùng với những lập luận chua cay của Hamvas Bela, lại một lần nữa khiến tôi nghĩ đến bệnh dịch Zombie của điện ảnh Holywood, một đám đông cặn bã trong tột cùng mông muội.

Tranh Luis Royo
Tranh Luis Royo

Những người theo chủ nghĩa duy tâm luôn đề cao ý tưởng. Plato cho rằng thế giới được kiến tạo bởi các ý tưởng, nhưng khi phản chiếu lên vật chất, thì thế giới không thể hoàn hảo như ý tưởng. Quyền lực của vật chất được gọi là “evestrum”. “Ý tưởng là một hình ảnh nâng lên còn evestrum thì lôi xuống và mạt sát. Ý tưởng thì thanh tẩy và sáng láng, còn evestrum tăm tối và bẩn thỉu. Người nào sống hướng về thế giới của các ý tưởng, người đó thanh lịch, tấn tới, ngày càng hài hòa, hiểu biết, sâu sắc và thông thái hơn. Ý tưởng là chất dinh dưỡng quan trọng nhất cho tâm lý Vĩ mô.” Và đó là chuyển dịch lớn trong những năm tháng này. Con người bắt đầu chuyển từ evestrum lên thế giới ý tưởng. Đó là ý nghĩa của chòm sao Bảo Bình. Chòm Bảo Bình là đại diện cho ý tưởng, khai sáng và tính cá nhân. Kỷ nguyên Bảo Bình, là kỷ nguyên của Con người cá nhân, trỗi dậy từ biển vô thức.

Sự trỗi dậy của Con người cá nhân

Hamvas Bela viết về những Con người cá nhân như một giống người mới, giống  người thứ 6, “đơn độc, họ nổi lên như những thực thể khác thường, phi lý, những người không chỉ không thể hòa nhập với môi trường và thế giới của họ, mà những điều đó còn không có chút xúc tác nào cơ bản với họ”. Đây là một bí ẩn mang tính lịch sử, chưa ai có thể giải thích, và đám đông lại càng không thể hiểu. Với đám đông, giống người thứ 6 là một dạng dị biệt cần bị tiêu diệt, hay như Albert Camus sau này đã tự gọi bằng một thuật ngữ “người lạ”. (Không rõ Albert Camus thời ấy có đọc Hamvas Bela không, hay đúng như Hamvas Bela đã cảm nhận rằng “ý tưởng này nằm trong bầu khí quyển bí hiểm của Thượng Đế”). Đám đông luôn đánh hơi thấy những người thuộc giống loài này và tìm mọi cách tra tấn, hành hạ, tiêu diệt. Những người đầu tiên của giống loài này đã bị tống vào trại tâm thần, chìm đắm trong nghiện ngập, thậm chí là tự tử. Đám đông, evestrum càng xuống thấp, càng ép giống loài này đến tuyệt diệt. Nhưng họ không tuyệt diệt, bằng cách nào đó, họ đã nghe thấy nhau và biết rằng mình không đơn độc, và bắt đầu hình thành những cộng đồng. Cuộc giao tranh không còn bằng vũ khí nữa mà bằng những lựa chọn: hoặc gia nhập đám đông vô thức, hoặc trỗi dậy và vươn tới thế giới ý tưởng, vươn tới sự Vĩ mô của Thượng Đế, lựa chọn giữa bản năng thú vật và bản năng linh hồn. Đó là cuộc chiến trong giai đoạn chuyển giao, với những người đi đầu như Nieztches, Kierkegaad,.. rất nhiều những “người lạ” khác giống như Hamvas Bela.

Không ai có thể nói trước được các đặc tính của giống loài thứ 6, chỉ có thể biết rằng đó là những “Con người Cổ đại” đã vượt qua cơn đại hồng thủy của đám đông và vươn lên. Con người Cổ đại này là thực thể bất diệt đến từ Thượng Đế, là “thể thống nhất thiên nhiên – tinh thần – linh hồn, và những ý tưởng được chọn lựa, những đặc trưng phản chiếu từ các sức mạnh siêu nhiên điều khiển sự tồn tại của nó”. Ta chỉ có thể mường tự về giống người thứ 6 như thực thể vĩnh hằng này và hơn thế nữa.

Con người Cổ đại là bản chất sâu kín nhất của con người, và ở giống loài thứ 6, con người này được hé lộ. Trong chương “Wordsworth hay triết học xanh”, “Poseidon” và “Bản giao hưởng số VII của Beethoven và không gian siêu hình âm nhạc” là những chương đẹp nhất mô tả thực thể vĩnh hằng này. Hamvas Bela gọi thực thể vĩnh hằng, linh hồn đầu tiên, bằng cái tên: “Titan” – “chỉ MỘT. Sâu vô tận, đơn giản vô tận, câm lặng, tối sẫm, vô cùng bình thản và cô đơn tuyệt đối” và “thiên nhiên là thế giới cao nhất, thứ nó có thể được”. Thiên nhiên không nằm bên ngoài Titan, mà nằm ngay bên trong, hòa làm một, không phân chia giới tính, là phần vô hình. Và Hamvas Bela nói: “Thật ra trong cái vô hình, tất cả đều gắn bó với nhau”.

LINH HỒN ĐẦU TIÊN, Con người Cổ đại, thực thể vĩnh hằng, là “ngọn lửa đầu tiên, ngọn lửa màu xanh”. Hamvas Bela cho rằng, màu của Titan là màu xanh non, màu của sự sống trên mặt đất, màu không giới tính và cái màu có thể ăn mòn mọi thứ. Ông dẫn ra mối liên hệ của màu xanh non với Venus. Venus cổ đại không phải vị thần của nhan sắc, đó là vị thần của sinh sôi nảy nở sống trong rừng sâu. “Tử thư Tây Tạng” cũng khẳng định màu xanh non là “màu của bản năng quyền lực”, “nguyên vẹn, không thể phá vỡ nổi và đậm đặc, không hể dạy dỗ và không thể thuần phục”. Nhưng tại sao Hamvas Bela lại gọi dạng tồn tại vĩ đại này là Titan. Trong Thần thoại Hy Lạp, Titan là những vị thần cổ xưa nhất, khổng lồ, mạnh mẽ, bất tử, phi nhân tính, và bị các vị thần Olympia nhốt dưới đáy địa ngục Tarta. Với Hamvas Bela, đây là một ẩn dụ, ông cho rằng: “Tất cả chúng ta đều mang trong mình một gã khổng lồ bị xích, một titan rơi xuống và bị giam cầm trong vô thức. Bởi tất cả chúng ta đều giữ gìn trong bản thân mình bản năng quyền lực sơ khai không thể khuất phục”. Cũng giống như các vị Titan cổ xưa, những con người phát lộ LINH HỒN ĐẦU TIÊN đều “tuyệt vời và cao cả, cùng lúc cũng là thứ vô lương tâm. Vừa giống các vị thần vừa là quái vật. Hoàn toàn chỉ có sự cao cả, cái đẹp, sức mạnh và sự tàn ác”.

Khác với các linh hồn sau đó, LINH HỒN ĐẦU TIÊN không truy cầu trí tuệ hay tình yêu. Chỉ khi tương tác với thế giới bên ngoài, con người mới cần đến trí tuệ để nhận biết và tình yêu để hòa hợp. Vơi sự đơn độc tuyệt đối và tính duy nhất của mình, bản chất của Titan chỉ gắn với niềm hạnh phúc. Con người luôn tìm mọi cách để hạnh phúc nhưng đều không thể. Tiền bạc, địa vị, ái tình thậm chí là tàn sát cả thế giới, chúng ta chỉ có nụ cười đắc chí mà không có hạnh phúc. Hạnh phúc chỉ có được ở trạng thái của của LINH HỒN ĐẦU TIÊN, bản ngã nguyên thủy, không có giới hạn, độc nhất nhưng vẫn liên kết vô hình với vạn vật, bởi Titan ở trong Thiên nhiên và đồng thời cũng chứa đựng Thiên nhiên.

Bản năng quyền lực của Titan được thể hiện qua Poseidon – vị thần trị vì thành phố Atlantis, theo như tài liệu của Plato để lại. Không giống thần thoại Hy Lạp, cổ xưa hơn, Poseidon tồn tại như một vị thần rừng với cái tên Nere. Hamvas Bela cho rằng Poseidon đã thống trị thế giới trước Zeus, bởi dấu vết cổ xưa nhất: cây đinh ba. Cây đinh ba là biểu tượng của quyền lực có thể điều khiển được vạn vật, với ba mũi nhọn chĩa lên, tượng trưng cho Sáng Tạo – Duy Trì – Hủy Diệt. Hơn thế nữa, cây đinh ba giống như chiếc dương vật dựng đứng. Từ xa xưa, trước cả thời đạo Phật, có một văn bản phương Đông có tên là “Nền tảng của sự thật cao cả”, đã bắt đầu bằng những câu:

“Để tính cách cao cả của mi

chiến thắng

những kiêu căng ngạo mạn của các loài thực thể hoang dã

hãy đặt lên vai mi bộ lông thú dữ

và nắm lấy cây đinh ba

biểu tượng của mục đích cao cả”

Hamvas Bela đã nhắc đến rất nhiều trong tập tiểu luận những tượng trưng có từ chiêm tinh học. Sao Neptune, hành tinh mang đặc tính của Poseidon, được đánh dấu bằng cây đinh ba, và nó đại diện cho các ảo tưởng và cũng là lý tưởng. Poseidon là vị thần điên rồ, như những rừng cây mọc lên không giới hạn, như biển cả ào thét và sâu thẳm. Mặc dù Poseidon được mô tả như một kẻ dã man, hoang sơ, đẫm máu, nhưng Hamvas Bela lại thốt lên rằng: “Có hay không một kẻ đáng thương hại hơn, kẻ không biết kính trọng sự khùng điên, trò chơi, nỗi tức tối, cũng như tiếng cười giòn giã của một Poseidon lông lá xồm xoàm? Có kẻ nào đáng tội nghiệp hơn Trái đất, kẻ không biết đùa nghịch với nước, không biết lang thang vơ vẩn hàng nửa ngày trời trong rừng sâu, và hơi thở không tắc nghẹn lại giữa lồng ngực khi nghe tiếng xào xạc mơn man của vòm cây lá? Kẻ chưa bao giờ bắt gặp những lọn tóc  nâu tím trong bóng râm của rừng cây và trên những phiến đá cạnh biển?” Một kẻ điên rồ đáng ngưỡng mộ như vậy lại sở hữu công cụ điều khiển thế gian. Chiếc đinh ba của Poseidon làm dậy sóng biển, tượng trưng cho sự kích động dòng máu trong con người, kích động phần bị đè nén trong bóng tối vô thức. Chiếc đinh ba khơi dậy những ảo giác (mà thực ra có thể không đơn thuần là ảo giác), đó là những nguyên mẫu cổ: thần tiên, ma quỷ, nhân mã, tiên biển…v…v… tất cả những phần của thiên nhiên ẩn giấu trong con người. “Poseidon tiêu diệt tất cả những gì mà trong đó con người tưởng mình đã cân bằng, làm suy sụp toàn bộ những gì trong đó con người tưởng mình đã đạt đến đích” và “Kẻ nào rất tự tin vào bản thân, kẻ đó sẽ bị Poseidon dúi xuống biển”. Trong đời sống cổ xưa của biển cả và rừng núi, cái đẹp không cần biết đến, Poseidon không có nhu cầu cái đẹp, chỉ có một sự kích động điên rồ lên thế giới. Cây đinh ba của Poseidon đã quấy động cái trật tự của cuộc sống con người đô thị, khiến con người nhớ rằng có một Titan trong mình, và vấn đề chỉ là Titan ấy có trỗi dậy hay không?

Trong chương “Tu viện đá Meteóra”, ông có nhắc đến những kẻ đơn độc trong tu viện cheo leo, tách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài, nguyện cầu, chay tịnh, thực hiện mọi dạng phép thuật, chẳng qua cũng chỉ để sống sót. Những kẻ đơn độc này tránh xa đám đông, tránh xa sự xâm lấn của thiên nhiên, tránh xa cái chết. Họ sống mấy trăm năm, và Hamvas Bela ví họ như những thằng lùn xấu xí, nhảy múa vòng quanh chính mình. Cũng là sự cô độc, nhưng sự cô độc hèn nhát này khác hoàn toàn với cô độc của Titan. Thậm chí Titan không quan tâm đến sống và chết, Titan chỉ có sự mở rộng không giới hạn. Để nhận ra phẩm chất của Titan, chỉ có thể mường tượng về niềm hạnh phúc lớn lao khi Wordsworth cô độc đắm chìm giữa thiên nhiên, về quyền lực mạnh mẽ của Milarepa và sự điên rồ, vỡ òa trong âm nhạc Beethoven.

Khi LINH HỒN ĐẦU TIÊN – Titan bắt đầu trỗi dậy từ địa ngục Tarta, trỗi dậy khỏi đám đông và vươn lên không ngừng bằng sức mạnh vĩ đại, con người bắt đầu gia nhập vào giống người thứ 6 và bước đi trên hành trình phi nhân loại, bằng tâm lý vĩ mô với bản năng tìm kiếm Thượng Đế. Qúa trình đi trên con đường ấy, con người đang thực hiện phép thuật, hay một ngôn ngữ khác “thuật giả kim tinh thần” (cách gọi của Osho)

58661_468660599835788_1787514140_n

Yoga – phép thuật – LINH HỒN CUỐI CÙNG

“Mọi thành phần của thế gian đều có thể trở thành tôn giáo, điều cơ bản là hãy trở thành một tôn giáo đúng nghĩa: trong sạch, cao quý, sáng láng, thực chất và Thượng Đế”. Giống như mọi bậc chứng ngộ của cả phương Tây và phương Đông, Hamvas Bela nhận ra rằng phép thuật vĩ đại có ở mọi hành động mang tính sáng tạo và chuyển hóa. Thông qua phép thuật và yoga, chúng ta đang đi trên con đường tôn giáo của chính mình. Nhưng đừng hiểu phép thuật và yoga theo nghĩa thông thường.

Trước hết, ta phải hiểu về tâm linh, bởi Hamvas Bela không đơn thuần chỉ là nhà duy tâm, ông là một nhà triết học tâm linh. Hamvas Bela định nghĩa: “Còn có một cái gì nhìn ra được của cái khác, sâu sắc hơn, bản chất hơn, bí ẩn hơn, một trải nghiệm, một cảm nhận, một sự thể hiện ra ngoài. Tâm linh từ một mặt khác nhận ra, trải qua và thấu hiểu được cái không nhìn thấy. Mặt không nhìn thấy, mặt vô hình này người ta gọi là tri thức. Bởi tri thức nằm bên trong, dấu kín trong sự vật, ẩn sâu trong hiện tượng. Con mắt tâm linh nhìn thấy tri thức của hiện thực, nhìn thấy ý nghĩa của hiện tượng, nhìn thấy, đằng sau vật chất là tinh thần, đằng sau thể xác là linh hồn. Nhưng cái nhìn tâm linh có thể nhận ra từ cái khác nữa. Bởi tâm linh không chỉ là nhận ra mà còn là tri thức… Con mắt có khả năng tâm linh nhìn thấy một lúc toàn thể thế giới, thống nhất và trong MỘT, ở nơi tất cả là MỘT. Như vậy nếu ai hỏi tâm linh( misztika) là gì, cần phải trả lời: là khả năng nhìn thấy, trải qua và hiểu được vào sâu thẳm, ẩn dấu đằng sau sự đa dạng vô tận của thế giới, đấy là cái DUY NHẤT MỘT của số nhiều.” Đây là định nghĩa đúng đắn nhất về tâm linh. Tâm linh không phải là cái mơ hồ ẩn giấu được mã hóa bằng các ảo giác. Đó chỉ là những mảnh vụn của tâm linh. Nói ngắn gọn, ta có thể hiểu, tâm linh là tri thức về vũ trụ toàn thể.

Phép thuật chỉ có thể được thực hiện khi có sự hiểu biết của tâm linh, nhưng phép thuật không chỉ là tri thức, phép thuật là hành động tác động lên sự vật. Và bởi thế, mọi sự vật bị biến đổi, đều là dấu vết của phép thuật. Leonard di Vinci khi tạo ra những cỗ máy từ vật chất, ông đang thực hiện phép thuật theo dạng của mình. Thượng Đế thực hiện phép thuật qua việc sáng tạo và thiết lập vũ trụ theo một trật tự ẩn vừa hài hòa vừa hỗn độn.

Có một phần của Titan cũng rất thú vị, đó là Sirene. Sirene, trong truyền thuyết là những nàng tiên biển, sử dụng giọng hát của mình để mê hoặc thủy thủ. Sirene là một dạng nữ tính của Titan. Quyền lực của Titan nằm ở sức mạnh, quyền lực của Sirene nằm ở sự quyến rũ. Titan và Sirene có thể được coi như 2 nguyên mẫu cổ, đại diện cho đàn ông và đàn bà. “Sự quyến rũ là sức mạnh của đàn bà, cũng như sức mạnh là sự quyến rũ của đàn ông”. Nhưng tất cả sự bản nguyên này đều khiến con người vượt quá giới hạn, vì dù là Sirene hay Titan, thì các thực thể này không biết đến sự dừng lại. Câu chuyện của Lucifer là câu chuyện của Titan muốn vượt qua giới hạn của mình. Milarepa đã vượt qua giới hạn bằng sự trả thù, Beethoven khi chạm tới giới hạn phải trả giá bằng hành động điên rồ: chọc thủng đôi tai của mình.

Trong chiêm tinh học, có một hành tinh chỉ sự giới hạn, đó là sao Thổ – Saturn. Saturn có biểu tượng như cái ách. Điều này giống với cách hiểu của Hamvas Bela về yoga. Yoga là con đường khổ tu, là sự cầm cương bản năng mãnh liệt của Titan. Khi Beethoven chọc thủng màng nhĩ của mình, đắm chìm trong thế giới âm thanh nội tại, ông đang thực hiện yoga của chính mình. Nhưng phẩm chất của Yoga thể hiện rõ nhất qua con đường khổ tu của Milarepa.

Milarepa là một bậc thầy phép thuật hắc ám, bản chất Titan đầy ứ trong ông và thôi thúc ông tàn sát. Nhưng khi bước vào con đường tu hành đích thực, bậc thầy Marpa – Đấng chuyển hóa vĩ đại, đã bắt ông hết ngày này sang ngày khác, xây nhà rồi lại gỡ từng phiến đá bê về vị trí cũ của nó. Milarepa sau đó vào hang núi sâu sống một mình giữa băng giá và chỉ có ăn tầm gai để sống. Milarepa không giống những tên lùn trên núi cao trốn chạy cái chết, bằng sự khổ hạnh, ông đối mặt với cái chết. Trong những ngày tháng đó, bản chất Titan của ông trỗi dậy với quyền lực và sức mạnh, ông có thể hoàn toàn tạo ra lửa trong cơ thể để sưởi ấm. Nhưng như thế là sử dụng phép thuật hắc ám, phép thuật vụ lợi. Bởi thế, ông đã không sử dụng phép thuật, ông chấp nhận chịu đựng trong sự khổ hạnh, chấp nhận cái chết có thể đến bất cứ lúc nào. Và trong yoga khổ hạnh, ông đã được giải thoát, thinh nhẹ và bay lượn. Ngay cả khi biết mình sẽ bị đầu độc, ông vẫn chấp nhận mình bị đầu độc. Yoga vĩ đại là yoga khổ hạnh, nhưng có thể chuyển hóa được tinh thần

Sự khổ hạnh chỉ là cái vẻ bề ngoài, bản chất đích thực của Yoga, nói như Hamvas Bela, là “sự phá sản”. Kẻ cuồng tín sẽ tức điên khi ông so sánh yoga với tục Hannibal – những kẻ ăn thịt người, giữa việc bị đóng đinh trên cây thập giá với nghi lễ đẫm máu của thổ dân da đỏ. Tục Hannibal hay nghi lễ dùng roi quất lên nhau cho tứa máu, tất cả đều tượng trưng cho sự hành hạ, hủy hoại thể xác. Đức Jesus bị đóng đinh trên cây thập giá cũng vậy, ông chấp nhận điều này không trốn chạy, mặc kệ cả lời dụ dỗ của quỷ dữ. Đó là sự chấp nhận cái chết hoàn toàn. Yoga là một sự tự hành hạ bên trong, những đòn roi và móng vuốt của quỷ dữ cào cấu chỉ ở sâu thẳm bên trong, và sự bình thản cũng diễn ra bên trong. Một trong các bài tập ở tu viện Tây Tạng, đó là vị Đại Lạt Ma đọc những câu thần chú triệu hồi quỷ dữ, bao trùm lên tâm trí của đệ tử. Và cuộc chiến  bên trong bắt đầu, nơi con người nhận ra “sự phá sản” chính là tha thứ lớn nhất của Thượng Đế, của đấng GIỚI HẠN: “Sự phá sản là việc bước qua giới hạn, là sự chết đi có ý thức. Con người lãnh cái chết vào bản thân bằng sự tỉnh táo toàn diện của ý thức. Không ngất lịm, không suy sụp, không trốn chạy, không thu mình lại và không gào thét. Ý thức hoàn toàn tỉnh táo, như một tấm gương, không hề run rẩy khi con người bước qua. Đấy là sự phá sản.”

Cũng trong chương “Milarepa”, Hamvas Bela khẳng định phép thuật tối cao nhất: Tình yêu thương. Tình yêu thương là sự vô bờ bến, nó không đối nghịch với phẩm chất Titan, nó là dạng tiến hóa cao nhất, khi con người đạt đến giới hạn và tan biến, nghĩa chết hoàn toàn, hiến dâng toàn bộ cho Thượng Đế, cho tồn tại. Trong cái chết này, chúng ta đạt đến LINH HỒN CUỐI CÙNG – Linh hồn Thượng Đế. Đó là ý nghĩa khi Đức Phật nhập vào Niết Bàn – cõi vĩnh hằng, khi Jesus nói rằng “Ta cũng hoàn hảo như cha ta ở trên trời”. Họ đều trải qua cái chết thiêng liêng. Tình yêu thương là cái chết thiêng liêng, nơi cái Tôi hoàn toàn biến mất, Titan hòa  lẫn vào toàn thể. Đừng nhầm cái Toàn thể vĩ đại này với những mảnh vụn rời rạc, cặn bã, rác rưởi của đám đông. Đám đông không phải toàn thể, mà chỉ là một phần. Và bằng tình yêu thương, con người mới có thể vượt lên trên đám đông mà không thù hằn hay tàn sát, chịu đựng mọi đòn roi của số phận để có thể nói “Có” với Toàn thể.

Thượng Đế đau khổ và Con đường thiêng liêng

“Chúng ta không mang lại quyền lực tốt đẹp lành mạnh cho các hành tinh khác như sao Một, mang sự xung đột như sao Hỏa, sự thống nhất như sao Vệ Nữ. Cái chúng ta mang cho các hành tinh: Thượng Đế đau khổ. Đấy là ý nghĩa tượng trưng của chúng ta. Từ đằng xa họ gọi tên chúng ta như thế, và tên của chúng ta có lẽ chỉ những kẻ nhập định có quyền xướn lên, để sự thần bí nói về những bĩ ẩn của một đời sống, thứ đời sống chúng ta trải nghiệm”

Sự đau khổ, dường như là món quà của Thượng Đế dành cho con người chúng ta. Trải nghiệm đau khổ này, chính là việc trải nghiệm đòn roi của đám phù thủy trong nghi lễ của người da đỏ, là chịu đựng sự cắn xé của những kẻ Hannibal, là trải qua những móng vuốt của quỷ dữ ở sâu thẳm bên trong, “như Heraclite nói rằng Vũ trụ bảo vệ chúng ta bằng roi vọt”. Trong sự hành hạ ấy, chúng ta thức tỉnh, chúng ta nhìn thấy được ngay cả Địa Ngục cũng thiêng liêng, và chúng ta đang bước trên con đường của Thượng Đế, đang khai sinh ra LINH HỒN CUỐI CÙNG.

“Đời là bể khổ”, Đức Phật đã nói vậy, nhưng “Quay đầu là bờ”, không có ý nghĩa như một sự đầu hàng, “quay đầu” là sự quay lại bên trong, quay lại với điều thiêng liêng và cao cả, thay vì đồng nhất mình trong bể khổ và chết chìm trong đó. Ở cõi thế gian, các chính trị gia, các nhà sáng chế, các học giả… tất cả quay cuồng trong bể khổ, tìm mọi cách để chống lại điều này, và tự cho mình là bậc cứu thế vĩ đại. Phần Titan ngớ ngẩn trong họ muốn dắt con người vượt qua giới hạn và trốn chạy đau khổ. Trong tất cả những con người của thế gian hiện nay, với Hamvas Bela, chỉ có thi sĩ còn đảm nhiệm vai trò thiêng liêng này: nhắc nhở con người về sự cao cả. (Thi sĩ thiêng  liêng không giới hạn ở người làm thơ, nói rộng hơn, đó là nghệ thuật câu từ)

Hamvas Bela nói về sự thoái lui của các nhân vật vĩ đại. Họ thoái lui, bởi đám đông lên ngôi. Đám đông không còn đi theo sự dẫn dắt của thần tượng, đám đông bắt đầu trèo lên cao hơn. Đám đông tự cho rằng những mảnh vụn cặn bã có thể học để trở thành tu sĩ, trở thành lãnh tụ, trở thành vua chúa, thậm chí học để trở thành thi sĩ thiêng liêng. Tất cả những điều thiêng liêng, không thể học một cách hữu hình bằng các kỹ năng. Những người vĩ đại đều thoái lui, các ngôi đền đều bị đốt cháy bởi trí não vô thần của đám đông (dường như đám đông không chỉ có chung một linh hồn, mà còn có chung một bộ não), chỉ còn Thi sĩ là ở lại và rêu rao với nhân loại về sự thiêng liêng, về điều vĩnh hằng một cách đầy cảm hứng. Bởi là kẻ cuối cùng còn sót lại, nên thi sĩ gánh lên mình tất cả trách nhiệm của những nhân vật đã thoái lui: “Từ giây phút trong cái vòng tròn thiêng liêng ấy chỉ còn duy nhất THI SĨ sót lại, bắt buộc đảm nhận quyền lực của vua chúa, đảm nhận phẩm chất của giới quý tộc, thói quen nghi lễ của linh mục, bản năng chiến đấu của người quân nhân, tri thức về sự thật của quan tòa, nỗi say mê ngây ngất của nghệ sĩ, của nhà bác học – từ giây phút ấy nhà thơ vượt hẳn tầm vóc của nhà thơ”. Trước đó, người ta quan niệm thơ ca  chỉ là sự diễn đạt hay thể hiện một điều gì đó, rồi kết luận “nhà thơ là kẻ từng trải và là kẻ đi chắt lọc”, hay “thi ca là một nhân tố văn hóa, giống như luật, tôn giáo, nghệ thuật và tư duy”, và “thơ ca là một thăng hoa thụ động của sự diễn đạt, kết quả phẩm chất tâm lý, sự trải nghiệm, sự chắt lọc, của nhân tốt tạo ra văn hóa”. Nhưng đúng như Hamvas Bela nhận định về những kẻ lý luận dốt nát về thơ ca, của “đám đông cố hiểu nhà thơ” và sự ghen tị cố kéo nhà thơ xuống ngang tầm với mình, thậm chí coi những nhà thơ chẳng bận tâm đến việc kiếm sống là những kẻ điên rồ ngớ ngẩn.

Từ cuối thế kỷ 19, ở Châu Âu, giới học giả đã có những nhóm người tách khỏi đám đông, và họ bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng của thơ ca. Nhóm Stefan George cho rằng nhiệm vụ của nhà thơ là “Phục vụ và thống trị”, phục vụ Thượng Đế và thống trị cái đẹp, tất cả là để bảo vệ “Vương quốc vĩnh cửu” – trung tâm sự sống của con người. Trước đó, Goethe, Schiller, Holderlin đều đã nắm giữ vị trí này với các cương vị khác nhau. Đến Baudelaire, nhà thơ không chỉ gánh vác từng ấy trách nhiệm, mà còn có một trách nhiệm nữa, mà còn là sự “giữ gìn hình ảnh tượng trưng xứng đáng với con người, hình ảnh này đang bị bỏ rơi và biến mất”. Nhưng quan hệ của nhà thơ và đám đông dân chúng thật chẳng dễ dàng gì. Một sự xung đột mang tính quy luật, evestrum sẽ tìm mọi cách để lôi tuột những con người thiêng liêng rơi xuống đáy cùng với nó. Đám đông luôn tiêu diệt nhà thơ bằng mọi cách: sỉ nhục, bôi nhọ, giam hãm… Và nhà thơ bắt buộc phải bảo vệ mình bằng sự bí ẩn tới mức không thể hiểu được. Buồn cuồi ở chỗ là, sự ẩn mình của nhà thơ, cái áo giáp của hiệp sĩ linh thiêng lại trở thành con đường cách tân hình thức của những kẻ học đòi. Vấn đề ở chỗ, mọi sự tấn công của đám đông lại chính là đòn roi của thế giới khổ đau, lĩnh nhận chúng và hiến tế mình cho điều thiêng liêng, thơ ca qua đó mà tuôn chảy, LINH HỒN CUỐI CÙNG cũng qua đó mà hiển lộ. Và đây là nhiệm vụ của nhà thơ linh thiêng: “Phục vụ quyền lực chưa đủ, cần phải nắm giữ lấy những quyền lực đó. Chưa đủ chỉ sống từng trải trong thế giới, cần phải tạo ra thế giới nữa. Sự sống thiêng liêng dành cho con nười không chỉ mở mà luôn cần phải mở tiếp. Và cái tôi phải trả giá cho nó không ít, chính là bản thân tôi: tôi cần phải hiến dâng. Nhưng chỉ hiến dâng tôi không đủ, sự hi sinh cũng vẫn ít: bằng sức mạnh của ngôn từ tôi cần  mở rộng sự siêu phàm.”

Nhóm George đã nhận ra rằng, “số phận của nhà thơ chính là nhóm”, đó là sự tạo dựng cộng đồng. Hiểu theo một nghĩa rộng hơn, những người thuộc giống loài thứ 6 phải cố kết thành một cộng đồng. Ở những thế kỷ trước, khi các cá nhân này xuất hiện đơn lẻ, họ đã bị tiêu diệt. Nguyên tắc căn bản của Cộng đồng này, chính là Tình bạn. Hamvas Bela đã dành hẳn một chương để nói về điều này.

Trong chiêm tinh học, có hẳn một khu vực của Tình bạn, nhà số 11, sánh ngang với Tình yêu, Sự nghiệp, Sở hữu, Sự hiến dâng, Sự chuyển hóa… Nhà số 11 được quản trị bởi chòm sao Bảo Bình, chòm sao của ý tưởng và sự khai sáng. Trong thần thoại Hi Lạp, một nữ thần ít được nhắc đến, nữ thần Phillia, nữ thần tình bạn, chịu trách nhiệm về sự cố kết cộng đồng. Đừng nhầm lẫn tình bạn với một sự tụ tập, cũng không phải tình yêu, không phải thiết chế, không phải đồng môn, không phải đồng bọn, cũng không phải đồng bào. Trong nhiều thế kỷ, tình bạn bị lãng quên, thậm chí bị cho rằng là sản phẩm của nhân tạo. Nhưng nếu nhìn lại những truyền thống cổ xưa của đàn ông (theo như Hamvas Bela dẫn), đó là tổ chức các chiến binh, các hiệp sĩ thánh chiến, các hội ái hữu… Tình bạn có trong đó và là cột trụ gìn giữ mọi cộng đồng ấy.

Ta có thể mô tả thế nào về tình bạn, Hamvas Bela đã đưa ra định nghĩa: “Có một quan hệ khó hiểu giữa tình bạn và các vì tinh tú. Tại sao ngôi sao lại là một người bạn? Tại sao người bạn lại là một ngôi sao? Bởi vì sao rất xa mà vẫn cứ lấp lánh sáng trong ta. Bời vì bạn là của ta mà vẫn không thể với tới? Bời vì không gian ta gặp gỡ nhau không thuộc về con người, mà thuộc về vũ trụ? Bởi bạn không đòi hỏi từ ta cũng như ta không đòi hỏi từ bạn bất cứ cái gì? Chỉ duy nhất một điều bạn hãy cứ là bạn, như ta hãy cứ là ta, và điều này đối với cả hai ta đều quá đầy đủ”. Còn gì đẹp đẽ hơn thế! Một cộng đồng trong đó chúng ta vẫn là chính mình và an toàn để thể hiện tất cả, từ LINH HỒN ĐẦU TIÊN hoang dã cho đến LINH HỒN CUỐI CÙNG thiêng liêng.

320114_274672312642844_1194920830_n

Điều này hoàn toàn trái ngược với Tình yêu nam nữ. Ngay sau chương Tình bạn, Hamvas Bela luận về tình yêu thông qua những bức thư còn sót lại từ thời Trung Cổ của Heloise và Abélard. Nếu ở trong Cộng đồng với tình bạn, bản chất vẫn bị giữ, thì trong mối quan hệ tình yêu nam nữ, hai linh hồn không đối xứng như người ta lầm tưởng, hai linh hồn hòa làm một.

Hamvas Bela phải thú nhận sự khó hiểu của đàn bà. Ông không chấp nhận cách định nghĩa về đàn bà trước đó. Đàn bà không chỉ là Eva (người vợ), Lilith (nữ quỷ đẫm máu) hay Sophia (trinh nữ). Một nguyên mẫu cổ xưa hơn thế: Sirene. Hãy mường tượng những mô tả về loài tiên biển: quyến rũ nhưng độc ác, đẹp đẽ nhưng đưa đàn ông tới cõi chết. “Chính vì vậy, đàn bà có thể trở nên hết sức tinh tế cũng như hết sức thô tục, có thể trở nên hết sức cao quý những cũng có thể hết sức trụy lạc”. Hành động cởi áo và tắm của đàn bà trước đêm tân hôn, không chỉ đơn thuần là gợi dục, đó là một nghi lễ mang tính tôn giáo, khi đàn bà cởi bỏ những lớp vỏ bọc bên ngoài, để khơi dậy Sirene ở bên trong mình. Bằng việc để Titan và Sirene hòa làm một, tình dục được chuyển hóa thành tình yêu. Tình yêu, Hamvas Bela nhận thức rằng, đó là sự hòa lẫn của LINH HỒN THƯỢNG ĐẾ với LINH HỒN THƯỢNG ĐẾ.

Tôi chợt nhớ đến câu thần chú Namasté trong các nghi thức Tantra. Tantra là thông qua giao phối tình dục, đôi nam nữ đánh thức phần Thượng Đế bên trong mình và hòa làm một. Namasté có nghĩa là:

“Linh hồn của ta tôn vinh linh hồn của người

Ta tôn vinh khoảng không bên trong người, nơi toàn bộ vũ trụ trú ngự trong đó

Ta tôn vinh tình yêu, ánh sáng, sự thật, sự bình an ở bên trong người bởi vì điều đó cũng ở bên trong ta

Bằng việc chia sẻ điều này, chúng ta hợp nhất, chúng ta giống nhau, chúng ta là một”

Bởi thế, hôn nhân đến từ tình yêu đích thực, giống như Heloise và Abélard, chính là con đường đến với Thượng Đế, cũng giống như yoga, thơ ca, âm nhạc. Nhưng điều này có lẽ quá hiếm hoi. Vì nàng Sophia có thể đã bay lên Thiên Đường, và Adam chỉ nhận được cái phần xác thịt, đó chính là Eva. Và bởi thế, đời vẫn là đau khổ, giống như tất cả các tôn giáo, các triết gia, nhà thơ đã nhắc đi nhắc lại.

Chương cuối “Ngày lễ và Cộng đồng” có lẽ là lời lý giải hoàn hảo cho toàn bộ những gì mà Hamvas Bela đang làm trong tập tiểu luận này, và cả những tác phẩm khác của ông. Trong đó, ông kể về 4 nhà thông thái lên Thiên Đường: một người đã chết ngay trước cổng Thiên Đường, một người hóa điên, một người “tự khóa trái ấn tượng này cho bản thân”, chỉ có người thứ tư là rời bỏ Thiên Đường và quay trở về với cộng đồng của mình. (Cộng đồng ở đây có nghĩa rộng hơn so với Cộng đồng nhóm được nhắc ở trên). Trải nghiệm Thiên Đường là trải nghiệm hạnh phúc, đứng trước hạnh phúc có nhiều người không thể chịu nổi. Hạnh phúc là đặc ân chỉ của Titan, những người nào sống đúng với phẩm chất Titan của mình thì mới thẩm thấu được hạnh phúc. Nhưng Titan là kẻ ích kỷ, người thứ ba tự trốn trong hạnh phúc của chính mình và mãi ở dạng LINH HỒN ĐẦU TIÊN. Chỉ có người thứ tư, hiểu rằng cần phải hiến dâng, và người đó ra đi, để mang ánh sáng Thiên đường đến với cộng đồng của ông ta. Nhưng vấn đề ở chỗ, đôi khi áp đặt hạnh phúc của mình lên Cộng đồng lại chính là một dạng bạo lực kiểu Titan. Hiến dâng cho Cộng đồng thật không đơn giản,  không giống như tất cả các lãnh tụ tôn giáo, các chính trị gia và triết gia rao giảng lý tưởng về hạnh phúc…  Làm thế nào để đánh thức một Cộng đồng đang bị vô thức chiếm lĩnh mà không cần đến sự lừa mị hay cưỡng chế. Chỉ có là Tình yêu thương, nhưng điều  đó không cố để có được. Tình yêu thương chỉ có trong LINH HỒN CUỐI CÙNG và chỉ LINH HỒN CUỐI CÙNG mới có tình yêu thương đích thực.

Điểm đặc biệt ở phần này nằm ở định nghĩa về “Cộng đồng” của Hamvas Bela. Ông không cho rằng một cộng đồng người đáng được gọi là “Cộng đồng”: “Cộng đồng duy nhất – độc nhất chỉ tồn tại trong một sự sống mà sự hiến dâng mở ra dành cho con người: cao hơn sự sống nười. Sự sống chung của tất cả mỗi con người không nằm trong vật chất, trong tinh thần, trong tôn giáo hay đạo đức, mà nằm trong Thượng Đế. Nếu con người gặp nhau trong vật chất, trong đạo đức, trong chủng loài, trong tinh thần thì ngôn ngữ, vật chất, nhà nước, tinh thần sẽ tan rã, cộng đồng sẽ chất dứt. Sự tan hòa sau rốt chỉ có thể trong sự sống của Thượng Đế. Đấy mới là một cộng đồng chân chính. Duy nhất. Đấy là: cộng đồng”. Với cách hiểu này, ta có thể thấy rằng bất cứ sinh linh nào sống với nhau trong tính toàn thể của Thượng Đế, nơi đó cộng đồng được tạo dựng. Bởi thế, khi giống người thứ 6 xuất hiện, Cộng đồng đích thực bắt đầu được tạo dựng. Ở đó, tính Thượng Đế được thể hiện qua mọi hành động của ngày thường nhật, và ngày lễ là ngày của hiến dâng. “Ngày lễ là cộng đồng của tất cả con người trong sự sống Thượng Đế nơi con người chỉ có thể đạt tới bằng hiến dâng cái tôi của nó.” Điều này tương đồng với kinh Veda, khi các bậc chứng ngộ cổ xưa viết: “Cả vũ trụ này là một cuộc hiến tế lớn”.

Đi đâu để tìm Cộng đồng này? Trong khi những gì chúng ta nhìn thấy trên thế giới này chỉ là những cộng đồng giả vờ, là sự tập hợp của những cái Tôi bạo lực (Bạo lực có thể đến bằng nhiều cách, không chỉ có chém giết).  Đó là ý nghĩa của Khải huyền. Cộng đồng đích thực chỉ có từ những LINH HỒN CUỐI CÙNG ở THỜI GIAN CUỐI CÙNG. Và có lẽ, chúng ta chẳng cần thiết phải sợ hãi ngày tận thế đến vậy.

—-

Toàn bộ bài viết này không có mục đích phê bình hay lý luận. Tôi chỉ mong muốn kể lại “Câu chuyện vô hình” bằng góc nhìn của tôi. Trong vòng 2 năm nay, đây là quyển sách có ý nghĩa lớn nhất với tôi. Tôi tìm được trong đó một sự lôi kéo mạnh mẽ từ Hamvas Bela, giành giật tôi khỏi vực xoáy của đám đông, bằng ngôn ngữ biểu trưng, bằng các nguyên mẫu cổ xưa, bằng một giọng văn mãnh liệt của Titan và trái tim của Thượng Đế.

Khi lần đầu gặp chị Nguyễn Hồng Nhung, dịch giả của tác phẩm này,  và được biết về quyển sách , lòng kiêu ngạo khiến tôi cười thầm trong lòng: “Có gì mới mẻ đâu.” Nhưng khi bắt đầu đọc, mọi biểu tượng có trong tâm trí tôi đều tương ứng với sách, và chúng trỗi dậy mỗi khi Hamvas Bela nhắc đến. Sức mạnh của tri thức cổ xưa không nằm ở việc tạo ra điều mới mẻ với những cảm giác mới mẻ, mà nằm ở khả năng đánh thức. Đó có thể là lời gọi của Thượng Đế gửi đến tôi, đến tất cả những người nào đọc và thấu hiểu, thông qua ngôn từ của Hamvas Bela. Đó là sứ mệnh của ông: “bằng sức mạnh của ngôn từ tôi cần  mở rộng sự siêu phàm”.

Hà Thủy Nguyên

Tập tiểu luận “Câu chuyện vô hình” nằm trong cuốn sách “Câu chuyện vô hình &Đảo”của Hamvas Bela ( Dịch giả: Nguyễn Hồng Nhung) , do Nhà xuất bản Tri Thức phát hành vào năm 2012.

“ Zorba Phật” – Con người mới, tôn giáo mới

blogpost thumb

“Zorba Phật” là khái niệm được Osho đưa ra trong các bài thuyết giảng của mình vào năm 1978. Năm 1979, tại thính đường Trang Tử, ông đã luận giải về khái niệm này.  Trong số các tác phẩm văn chương, Osho đặc biệt hứng thú với “Zorba – Tay chơi Hy Lạp” của Nikos Kazantzakis. Cuốn tiểu thuyết kể về tình bạn sâu sắc giữa Zorba – đại diện cho chủ nghĩa khoái lạc Dionysus và nhân vật “tôi” – đại diện cho chủ nghĩa lý tưởng của Apollo. Cuộc sống của Zorba là ăn chơi hoan lạc, cuộc sống của nhân vật “tôi” là đau đáu với hành trình nội tâm với mong muốn một ngày có thể viết một tác phẩm về Đức Phật. Đẩy cao hơn ý tưởng của cuốn tiểu thuyết này, Osho đưa ra khái niệm về sự “khoái lạc tinh thần”: “Ăn uống, vui chơi hưởng lạc và Thượng Đế”. Ông khẳng định: “Tôi muốn Phật Cồ Đàm (tức Thích Ca Mâu Ni) và Zorba Hy Lạp gần nhau hơn – trở thành một… Mang trần tục và thiên đường đến gần nhau hơn; hãy để Thượng Đế và thế giới của người có thể cùng nhau. Hãy để cho cơ thể và linh hồn của bạn là một bài ca được ca lên cùng nhau, cơ thể và linh hồn nhảy múa và hòa cùng nhau.”

Con người cần làm gì để không là nô lệ

Con người trong nhiều ngàn năm lịch sử đều bị phân chia Thiện – Ác, vật chất – tinh thần, tội đồ hoặc thánh nhân… dựa trên các chuẩn mực đạo đức được đưa ra từ các nhà chính trị, các triết gia, các giáo phái. Từ đó tâm trí con người bị phân tách thành hai nửa luôn đối kháng, hoặc thế này, hoặc thế khác. Để tồn tại một cách an toàn trong xã hội, con người buộc phải lựa chọn phần “Thiện” (theo tiêu chuẩn) và kìm hãm phần “Ác”(cũng theo một tiêu chuẩn nào đó), nhưng những phần bị kìm hãm chưa bao giờ mất đi mà  ngược lại, quay lại chi phối con người. Osho cũng đã từng thuyết giảng: “Không thể lấy đá đè cỏ, vì chỉ cần nhấc đá ra, cỏ sẽ mọc mạnh mẽ hơn”. Để kìm hãm thành công, con người trở nên khắc nghiệt, không chỉ khắc nghiệt với bản thân mình, mà còn khắc nghiệt với người khác. Vui đùa trở thành trò ngớ ngẩn trong xã hội cũ, nhưng Osho cho rằng những con người đó mới là những kẻ “tâm thần phân liệt”, “ốm yếu, bệnh hoạn”, “bất nhân tính”.

Đứa trẻ khi mới ra đời vốn không hề có khả năng phân biệt theo các chuẩn mực xã hội. Nhưng ngay từ bé, cha mẹ, thày giáo, các chính trị gia, thày tu, giới truyền thông… đã nhồi nhét những ý tưởng về sự phân chia này vào tâm trí của đứa trẻ. Khi tâm trí bị xé đôi, đứa trẻ trở nên đầy tranh đấu bên trong, vì vậy cuộc đời đứa trẻ bỗng trở thành một tấn bi kịch, và trong bi kịch, con người không thể nhảy múa hoan ca. Khi lớn lên, những điều kìm nén trong con người bắt đầu nổi loạn, và phần nổi loạn ấy lập tức bị lên án. Hệ thống duy trì sự tồn tại của nó bằng cách phá hủy lòng tự trọng của con người, bằng cách liên tục lên án “nửa kia” của con người: phương Tây cho rằng con người sinh ra đã mắc tội tổ tông, phương Đông cho rằng con người sinh ra đã phải gánh quả nghiệp của kiếp trước. Tất cả điều đó làm con người ghét chính mình.

Osho cho rằng mỗi con người đều có giá trị như Đức Phật, như đấng Krishna, như Jesus Christ, như Mohamed… như bất cứ bậc giác ngộ nào khác. Và chỉ khi tự yêu chính bản thân mình, tự tôn trọng chính bản thân mình, không phán xét, không lên án… con người mới có thể quay vào bên trong để tìm hiểu thực sự bản chất của tồn tại là gì.

Con người mới suy cho cùng là con người quay vào bên trong với chính mình, không phải một cái tên, không phải cái mặt nạ của tính cách, càng không phải tiền tài, danh tiếng, địa vị, ngoại hình… Con người mới này bắt đầu hình thành từ việc thoát khỏi sự phân tách của tâm trí, vượt ra khỏi các chuẩn mực nhị nguyên thông thường:

206655_578071542219069_1125661778_n

“Con người mới sẽ không là thế này hoặc thế kia; con người mới phải là cả hai. Con người mới sẽ là thế tục và linh thiêng, trần tục và thanh tao. Con người mới sẽ chấp nhận tính toàn bộ của mình và sẽ sống với điều đó mà không có sự chia tách bên trong. Tính cao đẹp của con người mới sẽ không đối nghịch với tính xấu xa, đạo đức của con người mới sẽ không có sự đối nghịch nào. Con người mới sẽ vượt lên lưỡng cực, sẽ không bị tâm thần phân liệt. Với con người mới sẽ xuấ hiện thế giới mới, bởi vì con người mới sẽ nhận thức được con đường khác về phẩm chất và người đó sẽ sống cuộc đời hoàn toàn khác, chưa từng được sống trước đó.”

 Con người này đang xuất hiện hàng ngày, đang dần trỗi dậy, trong khi con người cũ đang hấp hối.

Tôn giáo mới – Tình yêu

Trong suốt nhiều thế kỷ, con người hoặc quá phụ thuộc vào Tôn giáo, hoặc quá chống đối tôn giáo, cực này hay cực kia, con người vẫn cứ là cực đoan. Cho dù tuân phục hay chống đối, con người cũng thất bại trong nỗ lực sống một cuộc sống thật sự.

“Thời khắc đã điểm bởi vì phương Đông đã thất bại, phương Tây đã thất bại. Cần thiết một sự tổng hợp cao cả hơn để Đông và Tây có thể gặp mặt, để tôn giáo và khoa học có thể gặp mặt. Tôn giáo thất bại bởi vì nó thuộc thế giới bên kia và bỏ mặc thế giới này… bởi bỏ mặc thế giới này là bỏ mặc gốc rễ của chính bạn. Khoa học đã thất bại bởi nó bỏ mặc thế giới bên trong và bạn không thể bỏ mặc những bông hoa… Bây giờ chúng ta cần loài người mới mà khoa học và tôn giáo trở thành hai khía cạnh của một con người. Và cây cầu sẽ trở thành nghệ thuật. Chính vì vậy tôi nói rằng con người mới sẽ là huyền môn, thi ca và khoa học. Giữa tôn giáo và khoa học thì chỉ nghệ thuật mới có thể là cầu nối – thi ca, âm nhạc, điêu khắc…”

 Quả đúng như những lời Osho nhận định, khi tôn giáo suy tàn và khoa học lên ngôi, chỉ có nghệ thuật còn nhắc nhở con người về sự thần thánh, cao cả và linh thiêng. Khi tôn giáo đem đến những ảo tưởng và khắc kỷ, sự chối bỏ cái tôi cá nhân thì chính nghệ thuật đặt ra cho con người những hoài nghi, nhắc nhở con người đứng dậy và đi tìm chân lý. Tôn giáo và khoa học là hai thái cực, nghệ thuật nằm giữa và luôn giữ vị trí thăng bằng. Nghệ thuật giữ vị trí của vị thần Vishnu – vị thần hoàn hảo, vị thần đứng giữa hai thái cực Brahma (Sáng tạo) và Shiva (hủy diệt). Vishnu giữ vai trò duy trì thế giới, và những bậc giác ngộ như Krishna, Mahavira, Thích Ca Mâu Ni đều được coi là các hóa thân của thần Vishnu vĩ đại.

418115_578071322219091_314646102_n

Nhưng nghệ thuật không thể tuôn trào nếu con người không thể là tình yêu. Những con người sống như người máy không thể thấu hiểu nghệ thuật và sáng tạo nghệ thuật. Chỉ khi con người chạm được vào phần thần thánh bên trong, chạm được vào đứa trẻ thuần khiết, con người để tình yêu tuôn trào một cách tự nhiên, nghệ thuật đích thực mới có thể nảy sinh và chỉ nghệ thuật ấy có thể cứu rỗi được thế giới.

Osho nhấn mạnh, tình yêu này không phải sự chiếm hữu, mà là sự hòa tan vào toàn bộ vũ trụ. Muốn vậy, trước tiên con người phải trở về chính mình, phải nhận biết được bản ngã đích thực. Nếu không thể là chính mình, làm sao bạn có thể biết cái gì đang tan biến giữa vô cùng? Trong sự hợp nhất cao cả này, những đức hạnh siêu việt nảy sinh. Đức hạnh không phải đạo đức giả, không phải sự lên án bản thân mình và cố gìn giữ giới luật, sự từ bi đến một cách tự nhiên.

Khi con người có thể chạm vào phần linh thiêng nhất, khi con người có thể hợp nhất với vũ trụ, thì mọi hạn định về tôn giáo như Hindu, Phật giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo… trở nên không cần thiết. Tất cả các tôn giáo đã được định danh ấy, chỉ là phần cạnh của Kim Tự Tháp. Mỗi con người đều có thể tự đạt tới điều tối thượng mà không cần cầu xin, không cần tôn thờ, không cần hành xác… chỉ đơn giản bằng hành động: quay lại bên trong và nhận biết chân ngã.

Osho không bàn về chuyện có Thượng Đế hay không. Ông vẫn nhắc đến “Thượng Đế” như một sự tổng thể và cho rằng chúng ta có thể gọi “Thượng Đế” bằng bất cứ cái tên nào chúng ta muốn. Khi Đức Phật hòa nhập với vũ trụ, khi Lão Tử hòa làm một với Đạo, khi Jesus khẳng định “Ta đã trở nên hoàn hảo như Cha ta ở trên trời”, thì ta có thể thấy rõ ràng, mọi sự khác biệt đều chỉ là ngôn ngữ. Thật tai họa cho “ngôn ngữ” – con dao hai lưỡi, nó đã làm con người tranh cãi đến mức giết chóc nhau bao nhiêu thế kỷ cho một điều vốn dĩ chỉ là một.

Như đã nói ở phần trên, con người chỉ có thể thực sự là con người nếu tự yêu chính bản thân mình. Một khi đã tự yêu chính bản thân mình, con người không thể hành hạ và nghiêm khắc với bản thân. Trong tình yêu, âm nhạc bắt đầu xuất hiện, lễ hội bắt đầu rộn rã. “Giữ nguyên như đứa trẻ nhỏ, vui chơi, thế thì Thượng Đế sẽ không xa bạn là mấy. Ngài rất gần, trong bông hoa, trong cây, trong dòng sông. Tất cả những điều cần đến là ngạc nhiên, trong trắng, đôi mắt vui cười của trẻ thơ, không phải vẻ nghiêm trọng của học giả và của cái gọi là thánh nhân, mà là niềm vui của người đang yêu”.

Không bị ràng buộc bởi hệ thống tôn giáo, đương nhiên Osho cũng không đặt nặng nghi thức cầu nguyện. Cầu nguyện, với Osho, là “cuộc đối thoại trái tim – trái tim với tồn tại”. Sự cầu nguyện không tới từ cái đầu với lý trí, với sự đòi hỏi hay trao đổi, đó là sự giao tiếp giữa “một phần và toàn bộ, giữa sóng và đại dương”. Bởi thế, không ai có thể dậy ai cầu nguyện, đó là một phần tự nhiên, khi con người cảm thấy cần phải cầu nguyện, khi con người nhớ tới điều tối thượng, vậy thì con người bắt đầu cầu nguyện.

Thiên đường không ở đâu xa, phúc lạc vốn nằm ở sâu thẳm bên trong, không ai có thể cướp mất của chúng ta. Khi Adam và Eva ăn trái cấm, tâm trí xuất hiện, sự phân chia xuất hiện, và con người mất đi phúc lạc. Quay trở về với Thiên đường là hành trình bỏ rơi tâm trí và hướng vào bên trong. Mọi kinh sách, triết lý, giới luật không thể đưa con người quay lại với Thiên Đường. Nỗi sợ địa ngục chỉ đẩy con người rơi sâu hơn xuống địa ngục, niềm tin cũng không thể đưa chúng ta lên Thiên đường. Osho cho rằng, với niềm tin không nhận biết, con người vẫn “giữ nguyên là đạo đức giả”. Bởi niềm tin đó không có được bằng sự hiểu biết thực sự, chỉ là vay mượn. Người có khả năng tìm kiếm được điều tối thượng là người theo thuyết “bất khả tri”, là người có khả năng tĩnh lặng và không nằm trong thái cực tin hay không tin. Người đó chỉ đơn giản là vui chơi, là mạo hiểm, là khám phá trong nhận biết và đến một ngày chân lý sẽ nảy sinh từ bên trong. Đó là sự giải thoát thật sự mà Phật giáo vẫn nói đến. Osho đã diễn giải một cách hiện đại: “Tự do tuyệt vời xuất hiện. Khi bạn tự do khỏi sự ám ảnh của ý nghĩa, bạn tự do thực sự”.

320114_274672312642844_1194920830_n

Con người mới xuất hiện

Trong nhiều thế kỷ, con người đã mất nhiều công sức để khám phá thế giới bên ngoài, và con người bắt đầu lạc lối. Lịch sử triết học cổ đại phương Tây thường ghi nhận sự xuất hiện của Socrates với việc định nghĩa các khái niệm về đời sống đã làm nền tảng cho xã hội Tây Phương, nhưng một vấn đề được đặt ra quan trọng hơn đã bị lãng quên, đó là bản thể luận với các câu hỏi: Bản chất của chúng ta là gì, bản chất của thế giới thực tại ta đang sống là gì? Parmenides (600-500 TCN) là người đưa ra những vấn đề ấy đầu tiên trong số các triết gia Hy Lạp cổ đại. Trước đó, các triết gia chỉ quan tâm đến nguồn gốc của vũ trụ và con người. Sau Parmenides, các triết gia bắt đầu đào sâu vào câu hỏi này và chúng ta có Democritus, có Pythagoras… và đặc biệt là có Epicurus với chủ nghĩa khoái lạc. Trong thời kỳ lên ngôi của nhà thờ Kito giáo, các giáo sĩ đề cao Plato và chỉ gìn giữ các tác phẩm của Plato, họ đã thiêu hủy rất nhiều công trình mà Epicurus và các triết gia thuộc trường phái của ông để lại. Trải qua suốt đêm trường Trung Cổ, rồi đến Khai Sáng, các nhà khoa học mới bắt đầu đặt ra câu hỏi về bản chất của con người, bản chất của thế giới thực tại. Học thuyết Darwin đưa ra lập luận rằng con người tiến hóa từ những giống loài thấp hơn, là thể tiến hóa gần nhất là từ vượn người. Học thuyết này nhanh chóng lan rộng và được phương Tây chấp thuận, lấy làm nền tảng cho nhiều học thuyết chính trị. Học thuyết này đề cao mặt vật chất của con người đến mức con người bắt đầu quên dần đi sự thần thánh, quên mất rằng con người có linh hồn và chìm sâu vào tham vọng. Suốt hơn 1 thế kỷ sau thuyết Darwin, đa số loài người vẫn tin vào sự tiến hóa này và chấp nhận bản chất ấy của chúng ta. Trên thực tế, các chính trị gia cần sự đảm bảo của học thuyết này để duy trì xã hội.

Còn Osho thì viết: “Con người phải học và con người phải nghiên cứu về chính mình bởi vì xã hội không quan tâm đến điều đó; thực tế, xã hội chống lại điều đó. Nó ngăn chặn theo mọi cách có thể, cho nên con người chưa bao giờ biết tình yêu là gì, bởi vì khi con người biết tình yêu thì toàn bộ cấu trúc xã hội nhìn thật buồn cười, thật lố bịch. Khi bạn đã biết vẻ đẹp của tình yêu bạn sẽ không bao giờ tham vọng; trong khi đó xã hội tồn tại bởi tham vọng. Khi bạn đã một lần nếm trải tình yêu, bạn sẽ không còn bị ám ảnh bởi tiền bạc và quyền lực nữa. Đó là sự ám ảnh của con người chưa biết tình yêu. Đó là sự thay thế tình yêu – tiền bạc và quyền lực nữa.  Tất cả những điều đó là sự thay thế nghèo nàn, bởi vì bạn lỡ sự nuôi dưỡng thực sự, bây giờ bạn tìm kiếm sự nuôi dưỡng giả tạo”.

Sự ra đời của con người mới chỉ có được trong sự tái sinh của mỗi chúng ta, giống như Jesus Christ được tái sinh vậy: lần sinh đầu tiên là sự sống cơ thể; lần tái sinh, chúng ta sinh ra như linh hồn với sự hài hòa trong cơ thể. Và sự tái sinh này chỉ có thể xảy ra bởi chính chúng ta, những người sẵn sàng đạp bỏ cách sống nô lệ, cách sống người máy, siêu việt khỏi tâm trí. Khi trở về với chân ngã, hưởng thụ cuộc sống trên thế giới này bằng ý thức của linh hồn, bằng ý thức Thượng Đế, con người mới có thể làm chủ được chính mình. Và với người có thể làm chủ chính mình, họ không bao giờ thống trị người khác, như Đức Phật từ bỏ ngai vị vua chúa, như Jesus Christ khẳng định rằng “Ta không làm hoàng đế ở nước của con người”. Vì tôn trọng bản thân mình, họ có khả năng tôn trọng người khác; vì yêu bản thân mình, họ có khả năng yêu người khác; vì họ đã là toàn bộ, họ không còn hứng thú viết chiến tranh và chiếm đoạt. Từ đó, cộng đồng lý tưởng trong mơ như Utopia mới có thể hình thành.

Đó là một cộng đồng như thế nào? Một cộng đồng không chia thái cực, không thần tượng cũng không lên án bất cứ điều gì;  một cộng đồng tôn trọng cả sự khác biệt và sự đồng nhất; một cộng đồng không phân chia tôn giáo, quốc gia, sắc tộc; một cộng đồng mà đàn ông và đàn bà không còn tranh chấp về quyền, họ là bạn. Đó là cộng đồng của những kẻ vô định, không tự trói buộc mình vào bất cứ định dạng gì vì họ đã đạt tới số 0 cũng như đạt tới sự hoàn hảo.

321064_560831877278378_284145810_n

Đánh giá của Book Hunter

Trong các bí giáo cổ, đã từng có các thày tu Sufi thực hiện sự hợp nhất với vũ trụ thông qua sự khoái lạc tinh thần bằng nhảy múa và thi ca. Osho là người chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các thày tu Sufi này. Nhưng điều khiến ông trở nên khác biệt đó là ông cũng đề cao khoa học với tính hoài nghi của nó. Osho không khuyên răn con người từ bỏ cuộc sống, cũng không khuyến khích con người gắn kết với cuộc sống, ông khẳng định con người nên yêu cuộc sống.

Việc đưa ra điểm nhìn mới cho tôn giáo của tương lai là tình yêu và tính sáng tạo thật sự là bước tiến mới trong lich sử tôn giáo. Tôn giáo của ông không phải là một thứ cao đạo và xa vời, không thuyết giảng, không lễ nghi, tôn giáo ấy đưa con người trở về đúng là con người, để con người không phải đeo mặt nạ. Tuy nhiên, đáng tiếc, con người vốn thích đeo mặt nạ, mặt nạ khiến con người thấy an toàn hơn. Với hơn 2500 năm sống trong sợ hãi, liệu bao nhiêu con người dám dũng cảm đối mặt với đám đông không chỉ bên ngoài xã hội mà còn đám đông trong tâm trí của chính mình như Krishna, Đức Phật, Zarathustra, Jesus Christ…

Hơn thế nữa, việc cộng đồng lý tưởng được Osho đưa ra có lẽ sẽ chẳng bao giờ tồn tại ở thế giới vật chất. Có lẽ ông đang nhắc nhở chúng ta về một cõi xa xăm nào đó, khi con người không còn ở trong dạng vật chất nữa. Tuy nhiên, qua đó, ta có thể thấu hiểu một điều rằng: Sẽ không bao giờ có một xã hội lý tưởng nếu con người còn tham vọng, còn sự phân tách, còn sự khắc kỷ; sẽ không bao giờ có tự do thật sự khi con người còn bị ám ảnh bởi quá nhiều mục đích.

Bởi vậy, Osho tự nhận mình chưa bao giờ được sinh ra cho nên sẽ không bao giờ chết, ông chỉ dạo chơi qua thế giới này để nhắc nhở chúng ta một điều đơn giản: Hãy quay về với bên trong mình, chúng ta là một phần của Thượng Đế, chúng ta là ngôi đền linh thiêng nhất, từng khoảnh khắc cuộc đời của chúng ta là sự cầu nguyện từ trái tim… Và cuối cùng, tôi xin mượn đôi lời của một thày tu Sufi: “Khi bạn tìm kiếm Thượng Đế, bạn thấy bản thân mình; khi bạn tìm chính mình, bạn lại bắt gặp Thượng Đế”

 

Link down sách “Zorba Phật” của Osho: https://www.e-thuvien.com/forums/showthread.php?t=29823