Home Bình Luận Nền kinh tế không nhất thiết phải tăng trưởng

Nền kinh tế không nhất thiết phải tăng trưởng

Một xu hướng kinh tế mới trong những năm gần đây đang được đề cập đến ngày một nhiều: Thoái Tăng Trưởng, tức nền kinh tế không đề cao sự tăng trưởng mà chú ý đến các khía cạnh khác như thiên nhiên, môi trường, sức khỏe, đời sống nhân sinh, các giá trị tinh thần.

“Kinh tế học thiêng liêng” của Charles Eisenstein là một cuốn sách nằm trong xu thế này mà những đồng đội của tôi ở Book Hunter đã nỗ lực dịch & giới thiệu với các độc giả Việt Nam. Cuốn sách đặt ra các vấn đề quan trọng:

– Con người tham gia vào các hoạt động kinh tế không chỉ thuần túy vì lợi nhuận mà vì động cơ khác: động cơ được chia sẻ các giá trị và tài năng của mình, mà trong đó tiền bạc là phần thường xứng đáng được nhận. Tuy nhiên, khi lòng tham quá độ được thúc đẩy bởi thị trường tài chính không lành mạnh, thổi phồng bong bóng giá trị, thì lợi nhuận lại được đẩy lên vị trí tối cao và lấn át những động lực khác.

– Đồng tiền không có tội, nó chỉ có giá trị trung gian cho sự trao đổi các giá trị với nhau trong cộng đồng. Đồng tiền nếu không đảm nhiệm vị trí trung gian này, mà lại đóng vai trò là một “mặt hàng” để định giá, thì thị trường hỗn loạn. Thị trường chỉ có thể ổn định khi người ta đầu tư để tạo ra hàng hóa, để mang lại đời sống tốt đẹp hơn, để giúp cho những người kém may mắn, để nghiên cứu và tìm tòi cải thiện thế giới… thay vì đầu cơ vào các bong bóng.  (Có lẽ, những ngày này, chúng ta đã biết cái giá phải trả của nền kinh tế khi dòng tiền được đổ vào cuộc đua đầu cơ tài chính & bất động sản).

– Kích cầu thị trường bằng cách sản xuất đại trà, hàng loạt, giá rẻ, bóc lột nhân công và thúc đẩy chủ nghĩa tiêu dùng không phải phương án tốt cho nền kinh tế, bởi nó tạo ra một nền kinh tế không dựa trên nhu cầu thật mà chủ yếu dẫn tới lãng phí nguồn lực. Lãng phí luôn đi kèm với sự suy kiệt: tài nguyên thiên nhiên & sức lực và trí tuệ của con người – những gì thiêng liêng nhất của sự sống mà chúng ta được ban tặng.

Cuốn sách này đã giúp tôi trải qua những khó khăn trong quyết định sự nghiệp, rằng mình sẽ đeo đuổi tiền tài như bao người hay sẽ sống ở một mức “đủ ăn” tối thiểu để đeo đuổi các ý tưởng? Cuốn sách không khuyến khích cả hai thái cực ấy, mà đã cho tôi thấy con đường hài hòa giữa hai khía cạnh Kinh Tế và Thiêng Liêng.

Hà Thủy Nguyên

Tự do cho đầm lầy

Lâu rất lâu, ta quên mình là gió Gió từng cơn dấy động những thành mây Gió lướt về đây Phả tự do xuống đầm lầy Ta ngồi gẩy khúc riêng tây Đắm chìm loạn thế   Ồ cảnh loạn Lời lời xáo xác Bốc mùi sân hận nhân gian Những kẻ hàm oan Ngậm hờn thối rữa Lao xao ngạ quỷ Vảng vất đầm lầy Chúng thét gọi bầy Thơ đấy ư? Nhạc đấy ư? Lời cứu độ đấy ư?   Lâu rất lâu,

Ghi chép trong mưa

Nhiều thế kỷ trước, Phạm Đình Hổ viết “Vũ trung tùy bút”, như một sự nuối tiếc dằng dặc. Có thể là do mát trời mà viết, cũng có thể do cái không khí ấm ức trong những ngày nắng tàn đã cô đặc thành từng giọt… Những giọt cô đặc ấy lăn thành vệt dài trên mái rồi nhỏ xuống hè phố… Đã nhiều ngày nay, tôi như kẻ điên rồ với vai diễn mà quên mất rằng mình là kẻ sáng tạo. Tôi

Tôi và mặt trời

Nước non loạn nhịp Hờ Mê đắm Một làn nước mảnh Đã xa khơi Tôi ngẩng đầu chẳng thấu nhịp đời Và sẽ gục Vệt hoàng hôn thẫm máu Mặt trời hồng, mặt trời hồng mọi nẻo Giật dây đời Điên loạn Bước theo Và điên loạn giương cung vào vô vọng Mặt trời cười Nhân loại rực cháy thui Tôi xếp cây cung vào hộc kín Quay lưng Chẳng ngóng mặt trời tàn Mặt trời níu tôi lời vô vọng Vì tôi là mênh

Thử giải mã bài thơ “Cuối Thu” của Hàn Mặc Tử

Tôi đọc thơ Hàn Mặc Tử lần đầu năm 14 tuổi và không có nhiều ấn tượng thực sự với thơ ông. Bài đầu tiên ấy chính là “Đây thôn Vĩ Dạ”. Lúc đó, tôi còn đang say theo “Một chiếc linh hồn ngọc/Mang mang thiên cổ sầu” của Huy Cận. Vì quá yêu thơ Huy Cận, tôi đã kiếm cho bằng được tập “Lửa thiêng” (Hồi đó khó kiếm lắm nhé, nhất là với học sinh cấp 2). Tuy nhiên, tôi vẫn tò mò, điều gì

So sánh nguyên lý sáng tạo phương Tây và Á Đông qua “Thi ca luận” của Aristotle và “Văn tâm điêu long” của Lưu Hiệp

“Thi ca luận” của Aristotle và “Văn tâm điêu long” của Lưu Hiệp thường được đặt lên bàn cân so sánh trong nhiều nghiên cứu văn học so sánh, và thao tác học thuật này thường đượcthực hiện trong quá trình công bố và phê bình các bản dịch “Văn tâm điêu long” sang tiếng Anh. (1) Sự so sánh này được thực hiện hai chiều, vừa từ những học giả phương Tây muốn tiếp cận nền nghệ thuật Trung Hoa, vừa từ những học giả Trung Hoa