Tập thơ Mùa dã cổ

blogpost thumb

Tập thơ “Mùa dã cổ”

Tác giả: Hà Thủy Nguyên

Thời gian sáng tác: 2010 – 2015

Số trang:  140 trang

Xuất bản năm 2016, NXB Hội nhà văn.

Link mua sách: https://thebookhunter.org/portfolio-item/mua-da-co/

Tổng quan nội dung:

“Mùa dã cổ” là tập thơ biểu hiện những cảm hứng cổ xưa với các biểu tượng như quỷ dữ, thiên thần, hồ ly, quân vương, phượng hoàng…v…v… của nhà thơ Hà Thủy Nguyên. Những bài thơ trong “Mùa dã cổ” đã được đăng tải trên Book Hunter và được nhiều độc giả đón đọc. Mùa dã cổ cthể hiện tâm trạng và những chiêm nghiệm về một miền quá khứ hoàng kim đầy tính ước lệ, đối nghịch với thực tại chất chồng các khuôn mẫu lộn xộn. Sống ở thế giới hiện đại nhưng tác giả lại viết về các hồi ức mơ hồ của thuở xa xưa đan cài trong một cái nhìn tách biệt từ một thực tại khác để lý giải thực tại này.

 

Trích dẫn lời phi lộ:

Người ta nói, thế giới hiện đại đánh dấu sự suy tàn của thơ ca. Tôi nói, thế giới hiện đại là bãi rác của lịch sử nhân loại. Tất cả những gì thanh cao nhất đã ngủ lại trong quá khứ cổ xưa, những gì phô bày ngày nay, kể cả sự thanh cao cũng chỉ là ngành công nghiệp tái chế rác. Rác được tái chế hay không thì vẫn cứ là rác.

Thơ ca không mất đi. Thơ ca chỉ ngủ ở nơi mà nó thuộc về. Giống như nhiều kẻ tự mạo nhận mình là đấng cứu thế, là cứu tinh của nhân loại trong thời suy tàn và điên đảo, cũng có không ít kẻ tự coi mình như những kẻ đột phá, đập vỡ tất cả sự cao quý của tính thơ. Liệu có thể gọi đó là thơ, có thể gọi đó là sự cứu thế, hay là sự tự mãn của rác rưởi lên ngôi?

 

Trích dẫn thơ:

– Thuyền âm nhạc lững lờ – hững hờ

Không cập bến trần gian

Mùa dã cổ tàn

Ai nuối tiếc

Ai vun bụi ngọc kết hoa

Ai ủ men sầu vạn cổ

Ai gom mưa kết đọng

Ai nối hồn cung linh

Ai thắp vầng huyết nguyệt

Khơi sóng buồn len len…

(Trích “Mưa mùa dã cổ”)

– Nếu ta là Satan

Ta lạc loài giữa một bầy thiên sứ

Nếu ta là thiên sứ

Ta lạc loài giữa một lũ điên

Nếu ta là người điên

Ta lạc loài giữa cõi đời quá tỉnh

(Trích “Lạc loài”)

 

Buổi ra mắt tập thơ “Mùa dã cổ” với sự có mặt của nhà phê bình Đỗ Lai Thúy, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, nhà văn Đặng Thân, nhà nghiên cứu Tạ Đức, Tiến sĩ Nguyễn Quang A:

Pinocchio nguyên bản thật sự nói gì về dối trá

blogpost thumb

Bài viết này được trích từ “Tình yêu và Dối trá: Một tiểu luận về Sự Trung thực, Lừa gạt và Sự khởi phát và Nuôi dưỡng của Ái tính” ở FSG vào 3/2.

Clancy Martin

Trong series truyện “Những cuộc phiêu lưu của Pinocchio” (1881-1883) của Carlo Collodi, nguyên bản của bộ phim “Pinocchio” do Walt Disney sản xuất, cậu bé Pinocchio không giống chút nào đứa trẻ lý tưởng của Rousseau, mà được tạo ra một cách ngỗ nghịch. Trên thực tế, cậu bé đã hành xử rất tệ ngay trước khi được tạo ra: khi còn là một khúc gỗ, nó đã khơi mào cuộc ẩu đả giữa Geppetto và chủ của nó, và khi trở thành con rối, cậu ta ngay lập tức thích thú với đủ trò phá phách: sỉ nhục Geppetto ngay sau khi có miệng, cười nhạo ông, chạy trốn khỏi ông… Nói ngắn gọn, cậu bé cư xử như một đứa trẻ hai tuổi điển hình khi hai tuổi có thể coi là không biết cư xử. Collodi dường như có ẩn ý gì đó đến Rousseau. Khi con dế già trăm tuổi thông thái hỏi Pinocchio tại sao cậu bé muốn bỏ nhà, Pinocchio nói rằng: “Tôi sẽ phải đi học và sẽ phải học bài chỉ bởi cả tình yêu và sự ép buộc. Tự tin mà nói, tôi chả thích đi học; hái hoa bắt bướm thú vị hơn nhiều, hoặc trèo cây để bắt chim con”. Trái với Rousseau, Collodi nghĩ rằng một đứa trẻ nhỏ không phải chịu đựng nền giáo dục truyền thống sẽ chỉ ngỗ nghịch hơn và sẽ “trưởng thành như một con lừa hoàn hảo” (như con dế đã cảnh báo, và tiên tri đã thành sự thật – Pinocchio sau này biến thành một con lừa).

Lời nói dối  thật sự trong truyện không phải xuất phát từ Pinocchio, mà xuất phát từ Geppeto, người đã bán chiếc áo của mình để mua sách học cho Pinocchio. Ông đã nói dối cậu, nói rằng ông bán nó “Bởi vì cha thấy nó quá nóng”. (Đây là một ví dụ kinh điển về một lời nói dối gia trưởng với dụng ý tốt, mà cả Phật giáo và Plato đều cho phép). Điều thú vị là Pinocchio hiểu rằng người tạo ra cậu đã thật sự làm gì, “và không thể kìm được sự xúc động của trái tim đang rung động, vòng tay quanh cổ Geppetto rồi hôn lấy hôn để“. Vì vậy Pinnochio  có một trái tim lương thiện và đủ khôn khéo để hiểu rằng Geppetto đã nói dối mình vì lòng tốt; đơn giản rằng Pinocchio thích cư xử sai trái, và chưa học được cách thức của thế giới. Khi con cáo và con mèo xuất hiện, cậu dễ dàng bị dụ dỗ.

Bởi vì lời nói dối của Geppetto là một kiểu điển hình, trước khi chúng ta tiếp tục quay lại câu truyện về Pinocchio, cũng đáng để quan tâm tới khái niệm về sự thật của Dietrich Bonhoerffer. Bonhoeffer lập luận rằng nó là sự chất phác và sự dối lừa, thậm chí có thể là nguy hiểm khi giả thiết rằng sự thật thông thường luôn truyền tải một cách điển hình những gì chúng ta ám chỉ khi bàn về việc nói thật. Đương nhiên, chúng ta thường nói dối một cách chân thật, và vì những nguyên nhân luân lý đáng trách. Chúng ta cũng thường đưa ra các tuyên bố rằng không có sự thật thông thường, mà trên thực tế là những lời nói dối thuông thường – trong khi truyền tải một sự thực sâu hơn mà trong đó một tuyên bố chân thành không thể được bộc lộ. Cho nên, ví dụ như nếu Geppetto nói với Pinnochio rằng: “Cha bán cái áo để mua sách cho con”, ông ấy đã nói một sự thật thông thường, nhưng Pinocchio có thể hiểu thành “Nhìn những gì cha đã hi sinh cho con này!”. Bằng cách nói với Pinocchio rằng ông bán chiếc áo vì nó quá nóng – một lời nói dối – ông đã truyền tải với Pinocchio rằng “Chiếc áo ấy không thực sự quan trọng với cha, và cuốn sách của con nữa, cha không muốn con cảm thấy tệ về việc cha đã bán cái áo của mình”. Đây là một ví dụ rất hay về những gì Bonhoeffer muốn nói về sống chân thật với những ý nghĩa quan trọng hơn trong giao tiếp dường như không thể được truyền tải trong các bản tường trình nghiêm túc. Qúa nhiều những câu chuyện chúng ta kể với trẻ em thuộc dạng này như Santa Claus chẳng hạn. Liệu có bao nhiêu câu chuyện mà những đứa trẻ đã được nghe kể, không phải để lừa gạt mà để truyền tải những điều nếu nói thẳng thừng sẽ gây ra hiểu lầm hoặc tổn thương?

Đầu tiên Pinocchio không hoàn toàn nói dối, lời nói dối đầu tiên đã bị Collodi xác định như một lời nói dối, và cơ hội cho Pinocchio trưởng thành chính là chiếc mũi khổng lồ – cho đến khi cậu bị con cáo và con mèo lừa, cậu học được rằng nói thật (trong trường hợp này là vì đồng tiền vàng cậu có) có thể khiến cậu gặp rắc rối. Cậu kể với cô tiên về câu chuyện con mèo và con cáo đã ăn trộm tiền vàng của cậu và cậu rơi vào tay của những tên giết người khi cô tiên hỏi câu: “Thế còn bốn xu con đã để nó ở đâu?”, “Con đã làm mất chúng rồi”. Pinocchio lại nói dối, vì chúng đang ở trong túi cậu.

Mỗi khi cậu nói dối, chiếc mũi lại dài ra – lần này, dài thêm bằng 2 ngón tay nữa, sau khi nói dối hai lần liên tiếp nữa, trong khi ấy cô tiên cười nhạo  cậu, và tội nghiệp Pinocchio,“khá lúng túng” khi nhận ra chiếc mũi cậu dài đến mức cậu không thể chạy trốn khỏi nhà để che giấu sự xấu hổ được; chiếc mũi cứ dài ra với kích cỡ khổng lồ khiến cho không thể lọt vừa cửa ra vào.

Một loạt các lời nói dối của Pinocchio đều do được dạy. Lần đầu tiên là vì cậu lo lắng về việc làm mất ba đồng tiền vàng. Lời thứ hai là để chống đỡ cho lần đầu: cô tiên hỏi cậu về nơi cậu đánh mất đồng tiền vàng va cậu phải đưa ra lời giải thích (như Walter Scott đã nói “Ôi một mạng lưới rối bù được thêu dêt/khi lần đầu chúng ta lừa lọc!”) Nhưng  cô tiên đã thử cách “lọ bánh ngọt bị vỡ” một kiểu tra hỏi để phơi bày lời nói dối của Pinocchio ( cách tra hỏi này bản thân nó sẽ làm cho đối phương bị lộ tẩy) . Vì vậy, dù biết rằng cậu đã nói dối và cậu chắc chắn sẽ tiếp tục dối trá, cô vẫn thuyết phục: “Nếu con làm mất chúng trong rừng gần đây, chúng ta sẽ cùng tìm chúng: bởi vì mọi thứ bị mất trong rừng luôn có thể tìm ra được”. Đương nhiên Pinocchio mất bình tĩnh và nói dối vụng về hơn: “Con không mất bốn đồng vàng, con chẳng may nuốt chúng khi đang uống thuốc cô cho”. Sử dụng một kỹ thuật tranh luận khá thông thường và không mấy khi hiệu quả nhằm thoát khỏi những lời nói dối mà cậu đã nói trước đó, Pinocchio cố gắng đùn đẩy trách nhiệm lại về phía cô tiên. Do vậy cô tiên “để chú rối khóc lóc và kêu la suốt nửa giờ vì chiếc mũi của mình… Đây là cách cô dậy cho cậu một bài học đích đáng , và để chấn chỉnh thói quen dối trá đáng xấu hổ – lỗi lầm tồi tệ nhất mà một cậu bé có thể có”

Liệu ở đây Collodi có đang giễu cợt hay không, thật khó nói, khi cô tiên nhanh chóng tha thứ cho Pinocchio, và mặc kệ tiền sự dối trá của Pinocchio, suốt phần còn lại của cuốn sách, cô cũng ít quan tâm tới lỗi này hơn các trò ngỗ ngược khác của cậu. Collodi cũng đồng tình với Rousseau khi cho rằng rất nhiều câu chuyện đã mô tả cách những người lớn lừa phỉnh trẻ con dẫn đến phẩm hạnh không tốt. Ngoài ra, câu chuyện do một nhà văn giả tưởng kể thường ẩn chứa những góc nhìn chua cay về chính trị Ý cuối thế kỷ 19; có lẽ Collodi là một người bênh vực cho sự thật, nhưng ở một mặt khác, ông rõ ràng là người thấm thía sự quỷ quyệt của giao tiếp và sự cần thiết của điệu bộ, trớ trêu và giả dối.

Một ví dụ thú vị khác trong ngón gian lận mà Collodi sử dụng là: Pinocchio hỏi cô tiên làm sao cô biết cậu nói dối. Cô tiên trả lời: “Con trai của ta, dối trá có thể bị nhận ra ngay lập tức, bởi vì chúng có hai loại. Có những lời nói dối có chân ngắn, có lời nói dối với cái mũi dài. Lời nói dối của con là một trong số những câu có cái mũi dài”.

Thật là một sự phân biệt thú vị đáng ghi nhớ! Lời nói dối có đôi chân ngắn là những lời ám chỉ gần xa mà không quá xa sự thật. Sự thật luôn dễ dàng nắm bắt khi ai đó sử dụng lời nói dối với đôi chân ngắn. Lời nói dối có chiếc mũi dài là sự dối trá rõ ràng để lừa gạt mọi người , những lời nói dối khiến người nói dối nhìn trông rất kỳ cục. Trong trường hợp khác, theo như cô tiên, dối trá là xấu bởi vì chúng gây ra các kết quả xấu với người nói chúng. Và kết luận này của cô tiên rất đáng chú ý, bởi vì đa số các lập luận chống lại sự dối trá đều từ việc dối trá là không công bằng và làm hại người tin vào chúng. Nhưng cũng có thể giống như một người Ý khác là Machiavelli, khuyên rằng, nếu tránh được dối trá thì nên tránh bởi vì chúng gây ra các kết quả tiêu cực với bản thân người nói dối. Đây cũng là quan điểm của Aesop và Aristotle.

Vào lúc cuối cùng, khi Pinocchio đã được cô tiên biến thành một cậu bé thật sự không phải bởi vì cậu học được giá trị của sự trung thực, mà như cô tiên nói trong giấc mơ của cậu: “Đây là phần thưởng cho trái tim lượng thiện của con… Cậu bé nào tử tế với ca mẹ, và lao vào giúp họ trong gian khổ, đều xứng đáng được khen ngợi và cảm kích, kể cả khi chúng không vâng lời và cư xử đúng đắn. Hãy cố gắng tử tế trong tương lai nhé và con sẽ hạnh phúc”. Pinocchio không học được bài học gì. Hãy nghĩ về cuộc đời của cậu bé khi còn là con rối “cậu tự mãn nói: “Thật kì cục khi mình lại là một con rối. Thật tuyệt khi trở thành một đứa trẻ biết cư xử”. Ở đây, rõ ràng Collodi đang chế giễu tính cách này của cậu: Pinocchio không học để trở thành một cậu bé tử tế – cô tiên đã khuyên cậu như vậy – và cậu rất vui sướng với việc không cần cố gắng mà mà vẫn trở thành cậu bé tốt. Bài học, nếu có, thì là về việc nỗ lực hết mình để trở thành cậu bé tốt – câu chuyện được đăng hàng kỳ trên các tạp chí trẻ em chủ yếu để làm hài lòng bố mẹ.

Trước khi đọc Collodi, khi tôi chỉ biết đến bản của Walt Disney, tôi đã tưởng rằng bài học đạo đức trong chuyện Pinocchio là “Sự thật sẽ giải phóng bạn”, nếu bạn nói dối, bạn sẽ bị giật dây bởi người khác, nhưng bọn khi bạn đủ dũng cảm để nói thật, hơn là lo lắng về những gì người khác muốn bạn nói và làm, bạn có thể được xác thực, có thể trở thành một cậu bé thật sự. Tôi vẫn nghĩ rằng có các nghĩ này cũng đáng tán thưởng, và tôi cho rằng hẳn là phần nào Disney cũng có ẩn ý này. Nhưng nguyên nhân khiến tôi thích nguyên bản của  Collodi hơn là ở chỗ vai trò của cậu là để răn dạy nhưng thực tế đã khiến cậu cư xử như một người hùng mà chúng ta trông đợi ở một cậu bé ngoan ngoãn. Pinocchio ngỗ ngược, dối trá, thất hứa, dính vào đủ loại rắc rối vì chủ quan, thiếu kinh nghiệm và xét đoán sai lầm (Nghe có vẻ quen nhỉ?) Nhưng cậu vẫn là một người hùng với trái tim lương thiện, cậu yêu ông Geppetto, và cô tiên quý phái đã ban thưởng cho cậu sau tất cả, đã trở thành một cậu bé như bao cậu bé khác.

Nguồn bài: The New Yorker

Người dịch: Hà Thủy Nguyên

Chúng ta – Một thế hệ lạc lõng

blogpost thumb

Nếu tôi nói với các bạn rằng chúng ta – những thanh niên sinh ra vào cuối thế kỷ 20 và lớn lên vào đầu thế kỷ 21 – là một thế hệ lạc lõng, có thể các bạn cho rằng tôi đang nói điều tiêu cực. Khi tôi nói điều đó, tôi không có  ý muốn nói chúng ta là những kẻ lạc loài, và hi vọng rằng các bạn đừng nhìn nhận điều tôi nói ở khía cạnh xấu của ngôn từ. Ngôn từ thật sự rất dễ gây hiểu lầm. Từ “lạc lõng” ở đây mà tôi muốn nói đến là một cảm giác mà tôi tin rằng rất nhiều bạn trẻ ở thế hệ của chúng ta đều cảm thấy rõ rệt: một sự đơn độc, khó có thể kết nối với xung quanh, khó tìm kiếm sự đồng cảm từ những thế hệ trước. Và không biết các bạn có nhận ra không, chúng ta gần như tách biệt hoàn toàn với những người sinh ra đầu thập niên 80 đổ về trước. Và đã bao giờ bạn tự hỏi, điều gì gây ra biến động lớn đến vậy?

Những thế hệ đi trước hình dung như thế nào về chúng ta? Có phải chúng ta là những kẻ vô tâm và thờ ơ với xung quanh? Có phải chúng ta chỉ biết chìm đắm trong chủ nghĩa tiêu dùng? Có phải thế hệ chúng ta là một thế hệ suy đồi đạo đức? Khi báo chí truyền thông mổ xẻ thế hệ chúng ta ở những câu chuyện tiêu cực, họ đã vẽ nên một chân dung không đúng với sự thật. Miếng mồi của báo chí là những câu chuyện giật gân “cướp, giết, hiếp”, và rõ ràng họ sẽ chẳng thể kiếm đủ miếng cơm manh áo bằng những câu chuyện “người tốt việc tốt” thực sự. Để viết một câu chuyện “người tốt việc tốt” hấp dẫn, cần quá nhiều kiến thức và công sức khảo cứu, điều này đòi hỏi một tinh thần trách nhiệm cao trong lương tâm của một số hiếm hoi các nhà báo, không chỉ ở Việt Nam, mà cả trên thế giới. Và các bạn có biết ai là những nhà báo chê bai chúng ta không? Họ không ở trong thế hệ của chúng ta, họ không phải đối mặt với những gì chúng ta phải đối mặt, họ không tận hưởng những thú vui theo kiểu của chúng ta, họ không làm bạn với chúng ta. Và tôi nói không ngoa, chính họ góp phần làm bố mẹ chúng ta (vốn đã không hiểu về chúng ta) giờ đây lại càng thêm phần không hiểu.

Cảm giác lạc lõng đầu tiên mà chúng ta thấy rõ rệt là ngay trong gia đình của chúng ta. Dù gia đình bạn êm đềm, yên ấm hay đầy sóng gió, thì bạn cũng vẫn luôn thấy một sự khác biệt quá lớn giữa hai thế hệ. Và điều đó tạo ra xung đột giữa hai bên, hoặc có một cách để tránh xung đột là chúng ta không thể cho các bậc phụ huynh biết được những gì chúng ta thật sự muốn làm, những gì chúng ta cảm nhận, những gì chúng ta đang suy nghĩ trăn trở. Sự khép kín đã đẩy chúng ta vào một cảm giác đơn độc triền miên. Mọi sự chăm sóc, chiều chuộng không bao giờ là đủ một khi chúng ta cứ phải khép mình để giữ một trạng thái ổn định trong gia đình. Liệu các bậc phụ huynh có hiểu được biết bao vấn đề đằng sau khuôn mặt thờ ơ hay thái độ cắm mặt vào Iphone hoặc máy tính của con cái? Nói lên điều chúng ta suy nghĩ, dám làm những mong muốn ở sâu thẳm bên trong… chúng ta phải đối mặt với sự phản đối kịch liệt. Nhẹ nhàng hơn, chúng ta sẽ bị phủ nhận rằng những điều chúng ta dự định chỉ là ảo tưởng, là không thật, là vô nghĩa. Cái gì là thật đối với đa số các bậc phụ huynh: Học hành chăm chỉ, có bằng cấp, công ăn việc làm đầy đủ, lấy vợ, đẻ con và… chết. Họ đã quá quen với việc: “dùng tiền chúng ta không có, mua những thứ chúng ta không cần, để cố vừa lòng những người chúng ta không thích” (Trích phim “Fight Club”) Đó là cuộc sống bình thường theo quan điểm của thế hệ phụ huynh chúng ta.

Không thể trách họ, họ chỉ muốn điều họ cho là tốt nhất với con cái. Nhận thức và tư duy của đa số các bậc phụ huynh được xây dựng trong một nền tảng xã hội và giáo dục đề cao chủ nghĩa vật chất. Trong thời thanh niên, họ phải chật vật kiếm sống và khẳng định vị trí xã hội của mình. Điều này khiến cho họ tin rằng mọi giấc mơ thuở thiếu thời đều là viển vông. Họ sẽ thấy vô nghĩa khi con cái mình say mê đọc sách nghiên cứu về vũ trụ, hay bỗng một ngày con mình chuyển sang ăn chay và ngồi thiền, và cũng chẳng dễ dàng gì thấy con mình nhảy Hip hop ngoài đường… Đó là còn chưa kể đến những người cha, người mẹ có lối suy nghĩ đơn giản: chỉ cần cho nó ăn ngon mặc đẹp, vật chất đầy đủ là ổn thỏa. Nếu thế giới này chỉ được xây dựng bằng vàng bạc, tiền tài, hàng hóa… có lẽ tôi nghi ngờ sự lâu dài của nó. Liệu rằng cái gì còn lại sau một cơn hồng thủy? Sẽ là nhà lầu xe hơi ư? Không! Cái còn lại là những mảnh rơi rớt của trí tuệ con người, những giá trị sống đích thực như tình yêu thương, sức mạnh ý chí, và lòng khát khao cái đẹp.

Đọc đến đây chắc sẽ có nhiều người thuộc thế hệ đi trước cười ruồi và bảo: “Đúng là tuổi trẻ nông nổi! Tuổi trẻ thời nào mà chẳng nông nổi thế!”. Đây không phải vấn đề tuổi tác, mà là vấn đề về chuyển dịch nhận thức và tư duy. Trong suốt thế kỷ 19 – 20, gần như cả thế giới đều tin rằng: con người chúng ta là sự sắp xếp của các nguyên tử, chúng ta chỉ là một dạng vật chất và tinh thần cũng từ đó mà hình thành. Với niềm tin như vậy, con người chỉ quan tâm chăm lo cho cái ăn, cái ở. Khoa học Công nghệ được đẩy cao hơn giá trị tinh thần, chủ nghĩa hiện thực được ưu ái hơn những ước vọng cao đẹp, thái độ hoài nghi được thay thế cho tình yêu thương đại đồng. Và hãy nhìn xem hai thế kỷ vừa qua: Bạo loạn, bất công, môi trường bị hủy hoại, đại chiến thế giới, đại suy thoái kinh tế, con người tuyệt vọng chìm đắm trong sắc dục, ma túy, giết chóc. Ở trong một thời đại như vậy và cũng góp phần nhúng tay vào tình cảnh hỗn loạn ấy, các thế hệ đi trước của chúng ta trên thực tế không đủ tư cách để nói rằng thế hệ chúng ta là một thế hệ suy đồi về đạo đức. Họ đã quá quen với cách tư duy tuyến tính một chiều, chỉ nhìn nhận được một dòng chảy của vấn đề. Với họ, tốt là thuần túy tốt, xấu là thuần túy xấu. Trong khi ấy, sự việc và con người nào cũng có vô vàn góc độ đánh giá. Thế hệ của chúng ta thì ngược lại, bằng một bước chuyển vô hình nào đó (mà nhiều người gọi là bắt đầu của kỷ nguyên Bảo Bình), chúng ta đã bắt đầu nhìn sự vật, sự việc và con người như một tổng thể. Điều này khiến chúng ta không quá quan trọng chuyện tốt xấu theo các quy chuẩn xã hội, và đương nhiên các bậc phụ huynh nói riêng và thế hệ đi trước nói chung không tránh khỏi sự khó hiểu, thậm chí đến mức không bằng lòng. Chúng ta được sinh ra ở thời kỳ khá đầy đủ về vật chất, và đương nhiên chúng ta đột nhiên nhận ra rằng đó không phải tất cả những thứ chúng ta cần. Chúng ta cần các giá trị tinh thần như nghệ thuật, triết học, tâm linh, những công việc thiện nguyện, khả năng gắn kết giữa người với người…

Sự khác biệt ấy khiến cho chúng ta chơi vơi trôi nổi giữa một thời đại mà cái cũ đang dần dần đi vào ngày tàn trong khi cái mới chưa thành hình. Chúng ta lạc lõng vì chúng ta đang ở giai đoạn giao thời, một sự chuyển dịch lớn của lịch sử nhân loại và chưa ai dự đoán trước được nhân loại sẽ chuyển dịch theo hướng nào. Chúng ta lạc lõng vì chúng ta muốn vươn đến đỉnh cao của các giá trị tinh thần nhưng lại bị quá nhiều lực cản của thế giới cũ. Và chúng ta đứng giữa hai con đường rõ rệt: hoặc mạnh dạn phiêu lưu theo nguồn cảm hứng mới mẻ bất chấp mọi hiểm nguy, hoặc chấp nhận vùi dập ước mơ của mình trong một thế giới an toàn nhưng cũ kỹ. Đứng giữa các lựa chọn khiến chúng ta cũng bị phân hóa, sự phân hóa này lại làm chúng ta ngày một hoang mang. Người mạnh dạn đi theo giấc mơ thì đôi khi cảm thấy mơ hồ và đơn độc, người chấp nhận đời sống xã hội an toàn thì luôn luôn ở trong tình trạng chán nản triền miên đến mức chỉ cảm giác mình như những cỗ máy biết tư duy đi lại dật dờ.

Tôi viết bài này không phải đêu kêu gọi các bạn đi theo cái mới. Tôi chỉ có hai mong muốn: Một là chia sẻ với các bạn sự đồng cảm về cảm giác lạc lõng giữa một thế giới 7 tỉ người mà chẳng có sự kết nối nào với nhau. Hai là muốn nói với những thế hệ những người đi trước rằng họ không nên mất thời gian vào việc chê bai thế hệ của chúng ta. Thật đáng tiếc vì họ không nhìn thấy  những người bạn của tôi: những người sẵn sàng xuống đường tìm kiếm những em bé lang thang và dạy cho chúng học đọc, học viết; những người bỏ hết công sức và tiền bạc để thu gom kiến thức nhân loại và tìm mọi cách để chia sẻ với mọi người; những người dám xông xáo tìm kiếm một cách tân nghệ thuật có giá trị mang tầm thời đại; những người lao đầu vào các dự án bảo vệ môi trường và cộng đồng người; những người đang cố giữ gìn nền tảng đạo đức tôn giáo bất kể sự xuống cấp của niềm tin; những người sẵn sàng rũ bỏ đời sống vật chất giả dối để lên đường đi phiêu lưu khắp thế giới cố gắng tìm kiếm một sự kết nối với chính bản thân mình và kết nối với vũ trụ… Còn rất nhiều, rất nhiều những người như thế có thể rằng tôi cũng chưa được biết tới. Và nếu ai đó nói rằng những người tôi biết chỉ là thiểu số, vậy thì có lẽ tôi đã quá may mắn được kết bạn với họ, được cùng họ chia sẻ ý tưởng về thời đại mới và ở bên họ, tôi biết rằng mình chẳng bao giờ đơn độc nữa!

Hà Thủy Nguyên

Chuyển dịch văn hóa đọc – Tất yếu của lịch sử

blogpost thumb

Đây vẫn là câu chuyện hỗn loạn văn hóa đọc ở Việt Nam, nhưng tôi xin phép được thử đưa ra một góc nhìn khác để làm lý giải xem những thiếu sót của chúng ta nằm ở đâu. Và tôi xin bắt đầu câu chuyện từ một quá khứ xa xôi: thời kỳ sơ khởi của sách để đến chúng ta có thể nhìn thấy tiến trình dịch chuyển của các loại tư duy.

Thay đổi cách đọc, thay đổi tư duy

Văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn của 2 nền văn minh: Văn minh Trung Hoa và Văn minh phương Tây. Khi chế độ khoa cử ở Việt Nam bị dẹp bỏ, giới trí thức bắt đầu hình thành thói quen đọc sách kiểu Tây phương và duy trì nó cho đến tận ngày nay. Khi bàn về văn hóa đọc, tức là chúng ta đang bàn đến văn hóa đọc chịu ảnh hưởng từ Châu Âu, vậy thì trước tiên chúng ta cần tìm hiểu xem tiến trình thay đổi tư duy của nền văn minh này như thế nào.

Giống như tất cả các nền văn hóa khác, người Châu Âu cổ đại đều truyền đạt mọi tư tưởng, kinh nghiệm, nghệ thuật của mình thông qua hình thức truyền khẩu.Mặc dù những di chỉ chữ viết đầu tiên được tìm thấy có niên đại cách đây 75.000 năm, nhưng chữ viết chỉ thực sự hữu ích khi các vấn đề về thương mại, quản lý hộ tịch trở nên quan trọng ở một xã hội văn minh hơn. Sách ra đời ban đầu nhằm mục đích lưu trữ những thông tin thực tế đó. Cũng với mục đích này, văn minh Hy Lạp – La Mã (Hy-La) với dân số đông nhất và cũng là trung tâm giao thương của khu vực Địa Trung Hải, đã giản lược và phát minh ra bảng chữ alphabet có tính chất tượng thanh mà chúng ta đang sử dụng hiện nay vào khoảng 1000-400TCN.Sự kiện thư viện Alexandria thành lập đánh đánh bước phát triển nhảy vọt về số lượng sách vở lưu trữ các loại thông tin khác nhau như địa lý, chính trị, khoa học, tư tưởng triết học, nghệ thuật… Văn bản thơ ca được tìm thấy đầu tiên là hai tác phẩm sử thi “Illiad” và “Odyssey” của Homer vào khoảng 850TCN. Sau này, khi nhà thờ Công giáo thay thế cho văn minh Hy-La, đặc quyền lưu trữ thông tin thuộc về các tu viện với nhiệm vụ chính là sao chép Kinh Thánh (Cựu ước và Tân ước).

Tuy nhiên, cho đến nay, ít người biết rằng những văn bản thời kỳ đầu đó vô cùng khó đọc bởi giữa các từ không hề có khoảng cách, dấu chấm-phẩy để ngắt câu. Với điều kiện khó khăn như vậy không cho phép người viết sách có những diễn dịch và lập luận dài dòng. Họ buộc phải sử dụng các loại hình tượng để mô tả ngắn gọn nhất những gì mình được truyền đạt. Có lẽ đó là lý do của việc các tác phẩm thời kỳ Hy-La cho đến Kinh Thánh đều được viết dưới dạng thơ ca và sử dụng rất nhiều dạng biểu tượng. Bên cạnh đó, hỗ trợ cho việc đọc loại sách này, cách viết tạo nhịp điệu đã trở thành một quy ước. Để đọc và hiểu được ít nhiều các tác phẩm này, người đọc sách thời ấy buộc phải rèn luyện kỹ năng giải mã các biểu tượng và khiến cho dạng tư duy hình tượng phát triển mạnh.

Dấu cách được phát minh vào thế kỷ thứ 7 bởi một tu sĩ Ai Len đã làm thay đổi cách đọc sách của người xưa. Trước đây với các văn bản cổ, họ buộc phải đọc diễn xướng thì này họ đã đọc sách trong im lặng, đòi hỏi một sự tập trung cao độ và tư duy liền mạch. Đến thế kỷ 13, sách đã được chia chương, chia đoạn; dấu chấm-phẩy đều được ra đời trong thời kỳ này. Những quyển sách của thế kỷ 14 đã có kết cấu gần giống với hiện đại. Những phát minh này cho phép người viết tha hồ diễn dịch và thể hiện cấu trúc ngôn ngữ của mình. Để nắm bắt những dạng thông tin này đầy đủ, người đọc cần có một tư duy liền mạch và logic. Cách đọc sách này duy trì với số đông cho đến nửa cuối của thế kỷ 20.

Sự phát triển của báo chí truyền thông và đặc biệt là Internet đã phá vỡ tư duy đọc sách kiểu truyền thống. Để tiếp nhận được nhiều nhất có thể lượng thông tin đồ sộ của xã hội hiện đại, chúng ta không thể đọc theo lối hình tượng hay diễn dịch liền mạch. Chúng ta buộc phải rèn luyện kỹ năng lướt nhanh và sẵn sàng cởi mở với nhiều dạng thông tin khác nhau. Điều này đã hình thành tư duy phân mảnh để chúng ta có thể thích ứng với thời đại mới. Hiện nay, chỉ cần một vài cú nhấp chuột, chúng ta có thể tiếp cận cùng một lúc rất nhiều kiến thức khác nhau, đồng hiện và móc nối liên miên. Nếu không thích dạng kiến thức phân mảnh này, chúng ta chỉ cần lần mò bằng những từ khóa có mục đích và chắc chắn sẽ tìm được các cuốn sách, các tư liệu nghiên cứu chuyên sâu rải rác trên khắp thế giới. Với sức mạnh và sức nhanh của kết nối toàn cầu, càng ngày hình thức đọc kiểu cũ càng bị lạc hậu và bỏ rơi. Ở thế giới Internet, người ta không đọc lần mò từ chữ, từng đoạn nữa; mà cần một khả năng đúc rút tìm ra quy luật giữa một mớ dữ liệu hỗn độn. Qủa là thật dễ, mà cũng không hề dễ.

Không có nghĩa rằng sự xuất hiện của tư duy này là sự biến mất của tư duy kia.Trên thực tế, cả ba hình thức tư duy kể trên đều song song tồn tại trong suốt tiến trình lịch sử văn minh loài người, tuy nhiên tùy theo từng điều kiện mà dòng chảy chính của văn hóa đọc sẽ có các hình thái khác nhau. Cho nên, các bước chuyển này là một tất yếu xảy ra khi những phát minh về công nghệ lần lượt ra đời. Mỗi hình thức tư duy đều có những ưu – nhược điểm khác nhau, nên đề cao loại này và phủ nhận cái kia là cách làm của những người cảm tính và cố chấp, không phát triển toàn diện.

Tình trạng hỗn loạn sách ở Việt Nam

Ở Việt Nam có hai loại tư duy phát triển, đó là tư duy hình tượng và tư duy phân mảnh. Biểu hiện cụ thể nhất của sự phát triển tư duy hình tượng đó là những tác phẩm thi ca nở rộ và nổi trội hơn rất nhiều so với truyện ngắn và đặc biệt là tiểu thuyết. Sở dĩ có hiện tượng này là bởi Việt Nam ảnh hưởng mạnh mẽ của Trung Hoa- một nền văn minh của chữ tượng hình. Hơn nữa các tác phẩm của Trung Hoa lưu truyền sang Việt Nam đa phần là thơ từ và các bài văn biền ngẫu. Tuy nhiên, ở Trung Hoa vẫn phát triển tư duy liền mạch logic mà biểu hiện là các tác phẩm tiểu thuyết Minh Thanh đã đạt tới đỉnh cao. Trong khi ở Việt Nam, tác phẩm tiểu thuyết lớn nhất thời Trung đại chỉ có “Hoàng Lê nhất thống chí” vẫn còn mang đậm màu sắc của chép sử, chủ yếu ở dạng liệt kê thông tin. Hơn nữa Việt Nam là một nước bé, nằm ở vùng giao thương buôn bán với rất nhiều quốc gia như Trung Quốc, các nước Đông Nam Á và trên tuyến đường thủy nối sang Tây Phương, cho nên người Việt có kỹ năng tiếp nhận thông tin rất nhanh, đó là dạng của tư duy phân mảnh.

Tuy nhiên, do thiếu khả năng logic liên kết, nên môi trường thông tin ở Việt Nam bị rơi vào tình trạng hỗn loạn và thiếu tính học thuật. Đã từng có thời kỳ khi văn hóa Pháp vào Việt Nam, rất nhiều nhà nghiên cứu như Phạm Quỳnh, Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo… đã cố gắng gây dựng nền học thuật ở Việt Nam. Công cuộc này bị gián đoạn trong suốt thời gian chiến tranh. Sau chiến tranh, công việc lại được các nhà nghiên cứu sau này tiếp bước, chưa đạt được thành tựu gì nhiều thì lại bị làn sóng tư duy phân mảnh ồ ạt của thế giới dội vào. Vậy là cho đến nay, công cuộc hình thành và phát triển loại tư duy này ở Việt Nam vẫn chưa được hoàn thiện. Đáng lo ngại hơn nữa là hiện nay, thậm chí kiểu tư duy hình tượng cũng dần bị thui chột vì lối sống gấp gáp không cho phép chúng ta có thời gian ngồi lần mò, chiêm nghiệm và hưởng thụ vẻ đẹp của ngôn từ. Trong khi ấy, trên thế giới, những tác phẩm từ thế kỷ 18 đến nay không hề được xây dựng theo một dạng tư duy mà để đọc được chúng đòi hỏi một sự kết hợp tinh vi. Thiếu một trong số những kỹ năng tư duy này sẽ khiến chúng ta không thể tiếp nhận được đầy đủ và đúng đắn những gì được truyền tải trong một quyển sách cận đại và hiện đại. Trong khi rõ ràng, chúng vẫn chi phối đời sống của chúng ta một cách vô hình.

Đến đây, chắc hẳn nhiều người sẽ đặt ra một câu hỏi: Liệu tất cả chúng ta đều cần tất cả các kỹ năng tư duy nói trên? Đúng là mỗi người chúng ta không cần thật!Nhưng một xã hội văn minh thực sự thì cần cả ba kỹ năng trên được phát triển một cách đồng đều. Sự phát triển này không được định giá bằng số người sử dụng mà bằng chất lượng và hiệu quả của việc sử dụng này đến đâu. Bởi rõ ràng tư duy hình tượng giúp chúng ta có các khả năng liên tưởng, tưởng tượng, phong phú thêm đời sống tinh thần; tư duy liền mạch giúp chúng ta có khả năng logic, nhìn được cấu trúc và tổng thể của các vấn đề; tư duy phân mảnh giúp chúng ta khả năng nhanh chóng và cởi mở thu lượm nhiều loại dữ liệu khác nhau. Một xã hội sẽ như thế nào nếu thiếu đi một trong ba điều đó.

Với tình trạng Việt Nam hiện nay, loại tư duy thứ ba đang chiếm ưu thế mạnh mẽ tới mức trở thành ô nhiễm thông tin, mà biểu hiện là đời sống tinh thần xuống cấp và các luồng dư luận báo chí đang chi phối cộng đồng quá nhiều. Chúng ta cần lắm một lớp trí thức kiểu mới, phát triển đồng đều cả ba kỹ năng tư duy trên để điều phối và giữ ổn định sự ra vào của các luồng thông tin, các luồng văn hóa-tư tưởng.

Không còn cần thiết nữa những lời hô hào “nâng cao văn hóa đọc” theo kiểu đọc các sách kinh điển, phủ định thực tại hay kiểu phản ứng của giới trẻ là chê bai những hình thức đọc sách cũ là chậm tiến. Đã đến lúc kiểu tư duy truyền thống và tư duy hiện đại được kết hợp với nhau để cùng xử lý vấn đề hỗn loạn hiện nay, thiết lập một môi trường hàn lâm thật sự nhưng vẫn cởi mở với những thử nghiệm và các dòng tư tưởng mới. Một xã hội đa chiều thật sự cũng cần những bộ óc đa chiều.

Hà Thủy Nguyên

Bài đã đăng trên Tạp chí Tia Sáng:https://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&News=5623&CategoryID=41

“CHÍNH TRỊ LUẬN” CỦA ARISTOTLE VÀ SỰ PHÊ PHÁN CÁC MÔ HÌNH XÃ HỘI

blogpost thumb

I – Góc nhìn chính trị của Aristotle

“Chính trị luận” của Aristotle là một tác phẩm kinh điển mang tính chất đột phá trong lịch sử triết học và chính trị học không phải ở mức độ liệt kê quy mô mà ở tầm nhìn. Trước Aristotle, chính trị chỉ đơn thuần được xem như mối quan hệ giữa người cai trị và người bị trị trong một quốc gia. Thậm chí với Plato, người thầy của Aristotle, chính trị vẫn là một thứ mơ hồ được đóng khung trong mô hình nhà nước lý tưởng. Aristotle thì khác, ông là một triết gia hiếm hoi trong lịch sử thế giới thành công trong vai trò chính trị – là người thầy, cố vấn cho vị hoàng đế vĩ đại nhất Hy Lạp cổ đại: Alexadre Đại Đế. Bởi thế, ông nhìn chính trị với con mắt của người trong cuộc và thấy rằng chính trị là một lĩnh vực tổng thể:

“Cũng giống như trong các ngành khác của khoa học, chính trị cũng vậy, một hợp chất luôn luôn có thể được phân giải ra thành những phần tử đơn giản hay nhỏ nhất của tổng thể. Do đó, chúng ta phải xem xét các phần tử cấu thành nhà nước, hầu có thể thấy được các luật lệ khác nhau của các loại chính quyền khác nhau như thế nào, và có thể rút ra được một kết luận khoa học nào chăng về mỗi loại chính quyền”.

Trước khi là một triết gia, một nhà chính trị, Aristotle đã từng theo học học viện của Plato, và chịu ảnh hưởng trước tác cuối cùng của thày mình là “Luật pháp”. Nhưng sau khi Plato qua đời, Aristotle không phục người kế nhiệm học viện, nên đã rời bỏ Athens, du hành đây đó, thử nghiệm áp dụng tri thức bản thân trong suốt 12 năm. Sau đó, ông và người bạn thân là Xenocrates cùng với một số triết gia khác đã thành lập một Học viện chính trị tại đô thành Troad của vị vua độc tài Hermias. Ông trở thành bạn thân của Hermias và được vua gả cháu gái. Tại đâu, ông hiểu rõ hơn về chế độ quân chủ và hiểu thêm được các nguyên tắc thương mại, ngân hàng từ đô thành này.

Một thời gian sau, Aristotle được vua Philip của xứ Macedonia mời đến Pella để dạy học cho hoàng tử Alexandre. Những tài liệu còn sót lại cho biết, Aristotle đã gửi cho Alexandre hai bản luận cương về “Thuật làm vua” và “Cai trị các thuộc địa”. Sau khi Alexandre thành công, Aristotle trở về Athens và mở học viện Lyceum, thắt chặt mối quan hệ với Antipater – người đề xướng tinh hoa trị (Oligarchy hay còn gọi là Aristocracy).

Sau khi Aristotle qua đời vào năm 322 TCN, tư tưởng chính trị của ông vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến chính trị Athens. Bản hiến pháp của Athens do Antipater soạn thảo tiếp thu quan điểm về quyền đầu phiếu giới hạn trong số dân Athens có tài sản từ 2000 drachmas trở lên, nghĩa là giới hạn trong giới trung lưu. Sau đó, Demetrius, một người học trò của Aristotle lên cai trị Athens và biến những gì Aristotle đã dạy tại Lyceum.

Do có quá trình nghiên cứu về tự nhiên học, siêu hình học và đề xướng ra Logic học, Aristotle viết “Chính trị luận” với cái nhìn quy nạp, đi từ nhỏ đến lớn, từ phần tử đến tổng thể, từ cá nhân đến xã hội, từ cụ thể đến trừu tượng. Lối tư duy này trái ngược hẳn với Plato thày ông, người đã đề xướng chủ thuyết lý tưởng.

  1. “Con người là một sinh vật mang tính chính trị”

“Con người là một sinh vật mang tính chính trị” là câu nói nổi tiếng của Aristotle mà bất cứ ai quan tâm đến chính trị đều thấm thía. Điều đó có nghĩa là, con người khác với con vật ở chỗ có thể ý thức được vai trò của mình trong cộng đồng, Con vật tương tác với nhau do bản năng, còn con người tương tác với nhau không chỉ có bản năng mà còn có ý thức. Tính ý thức ấy chính là tính chính trị.

Trong cộng đồng người, Aristotle cho rằng việc phân chia người cai trị và kẻ bị trị là điều tự nhiên. “Những phần tử có khả năng, nhờ sự khôn ngoan biết tính toan, lo xa, dĩ nhiên trở thành phần tử cai trị, còn những phần tử mà khả năng chỉ do sức mạnh của thể chất mang lại, để làm những gì mà phần tử kia hoạch địch, là phần tử bị trị, đương nhiên ở trong tình trạng nô lệ.” Đây là một định nghĩa sâu sắc về người tự do và nô lệ. Và cho dù các xu thế chính trị mới đề cao giá trị bình đẳng thường bài trừ quan niệm về nô lệ này của Aristotle nhưng thực tế vẫn không thể phủ nhận: người biết tư duy thì có thể có tự do, kẻ không tư duy chỉ biết răm rắp làm theo đó chính là nô lệ. Mối quan hệ phụ thuộc này biểu hiện rõ ngay từ các phần tử nhỏ của xã hội là gia đình, rồi đến các làng mạc. Aristotle phân tích rằng, mối quan hệ giữa người cai trị và bị trị xuất phát từ trong gia đình, tới làng mạc chính là tiền đề cho việc một quốc gia cần có vua cai trị, và ngay cả thần thánh cũng cần tới một vị vua để cai trị.

Từ sự mở rộng và phát triển của làng mạc, nhà nước (polis) ra đời một cách tự nhiên, một bước tiếp theo của gia đình, làng mạc. “Và như thế, nếu các hình thức ban đầu của xã hội là tự nhiên, thì nhà nước cũng vậy, vì nhà nước là kết quả cuối cùng của mọi xã hội, và tính tự nhiên của sự vật chính là chung cục của nó. Vì ta gọi là tự nhiên khi một sự vật được phát triển đầy đủ tới dạng cuối cùng của nó, dù đó là một con người, một con ngựa, hay một gia đình.” Vậy nên, nhà nước là một tất yếu trong bước phát triển nhân loại. Aristotle cho rằng bất cứ ai một cách tự nhiên, chứ không phải do hoàn cảnh khách quan xô đẩy, lại “chọn sống ở ngoài cộng đồng chính trị, thì kẻ đó hoặc là chẳng ra gì, hoặc là một siêu nhân hơn người.” Trong suốt những năm từ 1960 đến nay, phong trào vô chính phủ cực đoan đã cổ vũ lối sống tách biệt khỏi cộng đồng chính trị. Và theo quan niệm của Aristotle những người nằm trong số “chẳng ra gì” hoặc “siêu nhân”, mà tôi tin rằng gần như toàn bộ là “chẳng ra gì”.

Một lập luận mang tính nghịch lý mà rất nhiều người đề cao quyền tự nhiên của con người hẳn sẽ thấy bất bình khi nghe đó là: “Nhà nước hiện hữu bởi tự nhiên và có trước nhân nhân. Chứng cứ của cả hai lập luận này là sự kiện nhà nước là tổng thể, còn cá nhân là cá thể. Mọi cá nhân không thể nào tự túc khi sống cô lập, bởi vì mọi cá nhân là vô vàn các cá thể cùng lệ thuộc vào cái tổng thể, là cái mà chỉ có nó mới đem lại sự sung túc cho tất cả.” và “Cái tổng thể luôn nhất thiết phải hiện hữu trước cá thể theo tự nhiên. Nếu cả cơ thể bị tiêu hủy, thì sẽ chẳng còn cái chân hay cái tay nữa, ngoại trừ theo cái nghĩa mơ hồ mà người ta thường dùng cùng một từ để chỉ các vật khác nhau, như khi ta nói về một cái tay bằng đá, vì một cái tay khi bị tiêu hủy (khi cả thân thể bị tiêu hủy) thì hơn gì một cái tay bằng đá đâu?””

Nếu chúng ta gạt bỏ các định kiến chính trị ngày nay, chúng ta sẽ nhận ra rằng đây là vấn đề cốt lõi của thế giới hiện đại: cuộc đấu tranh giữa hệ thống và tính cá nhân. Hệ thống tổng thể sẽ không dễ dàng sụp đổ khi có vài cá thể tách khỏi. Hệ thống sụp đổ thì chắc chắn cá thể trong hệ thống sẽ không tồn tại nữa, và theo Aristotle thì các cá thể đó đã “mất khả năng thực thi chức năng”. Quan điểm hệ thống có trước cá nhân dễ dàng được Công giáo và các chính trị gia chấp nhận, bởi  nó tạo ra ràng buộc chặt chẽ giữa người dân và nhà nước. Thế nhưng, cái cơ chế ràng buộc ấy có thành công hay không lại lệ thuộc rất nhiều vào việc họ có hiểu đúng kiến giải này của Aristotle hay không. Mặc dù cá nhân lệ thuộc nhiều vào hệ thống và ở trong hệ thống, nhưng không có nghĩa rằng hệ thống có quyền triệt tiêu mọi yếu tố cá nhân. Bởi hơn ai hết, Aristotle cổ vũ cho các công dân tự do, biết tư duy, chứ không phải những cá nhân nô lệ cho hệ thống, chỉ biết phục tùng và tuân theo. Ở đây, ông đặt ra mối ràng buộc này, có nghĩa rằng con người không thể tách khỏi cộng đồng người, không có nghĩa rằng cộng đồng có quyền áp đặt cho từng cá nhân.

Hệ thống xã hội mà Aristotle nhắc đến không phải sự toàn trị, mà là luật pháp và công chính. Đó chính là cột trụ quan trọng nhất của nhà nước. Con người bị tách khỏi luật pháp và công chính thì hoàn toàn có thể trở thành “động vật xấu xa nhất. Bất công trở nên tệ hại hơn đó là là sự bất công được vũ trang”. Một nhà nước khi đã mất đi luật pháp và sự công chính, tức là cột trụ sụp đổ, và tổng thể đó đã bị hủy hoại. Những kẻ trái pháp luật trong hệ thống đó đã là đáng sợ, nhưng đáng sợ hơn cả là những kẻ trái pháp luật được trang bị vũ lực, có quyền dẫm đạp lên sự công bằng.

Từ điểm nhìn này, Aristotle đã đưa ra các nguyên tắc trong quản trị từ gia đình đến nhà nước. Tất cả đều dựa trên sự công chính.

  1. Vấn đề người cai trị và kẻ bị trị

Aristotle định nghĩa về một hộ gia đình như sau: “Thành viên của hộ là tất cả những người sống trong cùng một căn nhà, và một hộ đầy đủ gồm có nô lệ và những người tự do”. Đừng vội cho rằng “nô lệ” mà Aristotle nhắc đến là do ảnh hưởng của chủ nghĩa nông nô và vội bài trừ nó. Hãy quay lại với định nghĩa về người tự do và nô lệ của Aristotle, chúng ta sẽ thấy rằng nô lệ vẫn tồn tại cho đến ngày nay, chỉ khác về tên gọi. Nô lệ, đơn giản là những người không có tư duy độc lập.

Ở thời đại của Aristotle, nô lệ là một tài sản sống, và ông xếp mối quan hệ giữa chủ nhân – nô lệ là quản lý tài sản, cùng với các tài sản vô tri khác. Những người tự do luôn cần nô lệ để phục tùng mình. Và nô lệ chỉ không còn cần thiết khi các tài sản vô tri khác có thể tự vận hành. Vậy thì, việc duy trì trạng thái chủ nhân – nô lệ có phải là một việc tự nhiên không? Ông khẳng định: “Sự việc có kẻ sinh ra để cai trị và kẻ sinh ra để bị trị là một sự việc không những cần thiết mà còn mang lại lợi ích nữa; có những kẻ từ khi lọt lòng mẹ đã được lựa ra để cai trị và những kẻ khác bị trị.”

Ông cho rằng theo tự nhiên, con người có linh hồn và thể xác và linh hồn điều khiển thể xác. Chỉ trong vài trường hợp thể xác điều khiển linh hồn, đó là phản tự nhiên, và nảy sinh cái ác. Những người có sức khỏe và làm việc tay chân thì cần phải bị cai trị bởi những người có tư duy, không những trong quy mô hộ gia đinh mà còn là quy mô quốc gia. Một điểm đặc biệt là Aristotle không đóng khung vấn đề tự do – nô lệ trong danh phận và địa vị xã hội. Hết lần này đến lần khác, ông khẳng định, một cách bẩm sinh, người tự do là độc lập và nô lệ thì lệ thuộc. Đó là do tự nhiên sinh ra không phải do xã hội quy định. Và đương nhiên những người tự do bị rơi vào thân phận nô lệ sẽ không ngừng dành lại tự do của mình, cũng như người nô lệ ở trong thân phận tự do thì vẫn cứ tiếp tục làm nô lệ. Và hiện trạng trái tự nhiên này sẽ gây ra nhiều thiệt hại và gây ra thù nghịch, mâu thuẫn quyền lợi.

Xét về bình diện nhà nước, quan hệ cai trị kiểu chủ nhân – nô lệ này là bất khả thi. Bởi vấn đề của một vị vua phải đối mặt không phải là quản lý những người bẩm sinh là nô lệ mà quản lý những người bẩm sinh là người tự do. Và bởi thế, quản lý nhà nước vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật, và không phải ai cũng có thể đảm nhiệm công việc này.

 

II – Các mô hình nhà nước lý tưởng

  1. Mô hình của Socrate và Plato

Aristotle cho rằng vấn đề cốt lõi của quản trị nhà nước đó là mức độ công – tư giữa công dân và nhà nước, tức là: “Công dân của một nước hoặc có chung mọi thứ, hoặc không có chung thứ gì hết, hoặc là chỉ có chung một số điều nào đó thôi.” Ông phân tích việc sở hữu tư hoàn toàn là điều không thể, bởi “cơ cấu chính trị là một cộng đồng, và cộng đồng thì tối thiểu phải có một chỗ chung”. Ông cũng rất phản đối mô hình của Socrates được Plato kể lại trong cuốn “Cộng hòa”, đó là một mô hình mà ở đó “mọi công dân đều có chung của cải vật chất, và chung cả vợ và con nữa”

Nguyên nhân phê phán mô hình nhà nước Socrates mà ông đưa ra chính là những vấn đề rất thực tế. Socrates cho rằng một nhà nước hoàn hảo là phải đồng nhất, nhưng sự đồng nhất này đi ngược lại tính đa dạng, và bởi thế nó không còn là quốc gia nữa. Aristotle lập luận: “Để tiến tới đồng nhất thì quốc gia phải trở thành một gia đình, và từ gia đình muốn đồng nhất hơn, thì phải rút lại còn cá nhân”. Tức là cơ hội cho độc tài chuyên chế, tức là “phá hoại quốc gia”. Aristotle khẳng định lại: “Quốc gia không phải chỉ là sự tập hợp của nhiều người mà là nhiều người khác nhau, vì sự đồng dạng không tạo thành quốc gia.” Vì vậy, nhiệm vụ của chính trị là đem lại phúc lợi cho quốc gia chứ không phải biến tất cả mọi người thành đồng nhất.

Hơn nữa, vấn đề quan trọng khiến sở hữu chung làm lụn bại quốc gia, đó là, khi tài sản là của chung thì sẽ không ai bảo quản, giống như cha ông chúng ta thường nói “cha chung không ai khóc”. Và một khi tất cả là của chung, tất cả đều bình đẳng theo cách Socrates muốn thì mối quan hệ gia đình, thân nhân sẽ đổ vỡ, tạo điều kiện cho cái ác và bạo lực hoành hành. Một người sẽ không dám làm điều ác với người thân của mình, nhưng sẽ dễ dàng làm điều ác hơn nếu nạn nhân chỉ đơn thuần là người dưng. Do đó, một quốc gia không nên và chắc chắn không thể là một tập hợp đồng nhất với ý tưởng rằng tất cả đều là của chung.

Sở hữu chung, đặc biệt là sở hữu đất đai sẽ là tiền đề gây ra nhiều bất công. Theo lập luận của những người đề cao sở hữu chung đều lập luận rằng đất không của riêng ai, do đó đất đai nên là sở hữu công. Thế nhưng việc chia chác hoa lợi trên mảnh đất thật không dễ dàng, dễ bị ơi vào tình trạng kẻ làm nhiều mà hưởng ít hoặc kẻ làm ít mà hưởng nhiều. Do đó, tài sản nên thuộc sở hữu tư để mỗi người sở hữu chúng đều phải chịu trách nhiệm.

Và nếu sự chia sẻ diễn ra, thì đó không nên là ép buộc mà đến từ lòng tốt tự nhiên. Aristotle cho rằng “bạn bè chia sẻ với nhau mọi điều”. Ở Athens và Sparta, tình bạn được coi trọng. Người dân đều có sở hữu tư, nhưng luôn dành một phần để bạn bè sử dụng, và một phần khác cho người khác dùng chung. Nếu trên đường đi, ai đó thiếu thốn cái gì, thì có thể tự do lấy thứ đó ở bất cứ đâu trên dường. Điều quan trọng của nhà lập pháp, theo Aristotle là phải “tạo ra lòng từ thiện trong mỗi công dân để họ sẵn lòng chia sẻ với nhau”. Những vấn nạn xảy ra trong xã hội sở hữu tư không phải do hệ thống ấy tạo ra, mà là do bản năng xấu xa của con người chưa được gột bỏ. Và bản năng này, trên thực tế, có nguy cơ bùng phát mạnh mẽ hơn ở những xã hội chỉ có sở hữu công.

Vấn đề là, về mặt tự nhiên, con người sinh ra đã ở vị thế hoặc là cai trị hoặc là bị trị, hoặc là người tự do, hoặc là nô lệ. Xã hội Cộng hòa mà Socrates vẽ ra làm lẫn lộn người cai trị và người bị trị, khiến người bị trị phải tư duy như người cai trị, và người cai trị bị chậm lại bởi cái ách nặng nề của kẻ bị trị khoác lên. Và lúc đó, nông dân không làm việc của nông dân, trí thức không làm việc của trí thức.Tất cả điều đó chính là sự bất ổn không phải chỉ ở giai cấp thấp mà cả ở giai cấp cao hơn. Aristotle có đề cập đến một mô hình khá bình đẳng giữa người cai trị và người bị trị, đó là xã hội tại đảo Crete: “nô lệ cũng được hưởng mọi quyền lợi như chủ nhân, ngoại trừ quyền được học tập thể lực và quyền mang vũ khí”.

Phê phán Socrates, tức là Aristotle đã phê phán chính thầy mình là Plato. Sự phê phán này đến từ logic và thực tiễn chính trị mà thày ông là Plato không có nhiều kinh nghiệm. Trái lại với sự thành công của Aristotle, Plato luôn thất bại trên con đường chính trị. Plato chưa bao giờ tham gia vào công cuộc điều hành một quốc gia, nên những vấn đề ông và thày ông là Socrate đặt ra chỉ đơn thuần là chiêm nghiệm và tính toan. Plato khác với Socrate ở điểm, ông không cực đoan với ý tưởng sở hữu công, ông cho phép sở hữu tư nhưng phải tuân thủ các chuẩn mực và giới hạn. Ví dụ như, người dân không được phép có số tài sản quá gấp 5 lần mức quy định. Aristotle cho rằng khi đặt ra giới hạn này, Plato không lường trước được rằng việc giới hạn tài sản sẽ dẫn đến việc giới hạn con cái hoặc một gia đình sẽ bị bần cùng hóa vì giới hạn tài sản không tương xứng với số con. Cùng thời với Plato và Aristotle, một số thành bang cũng xử dụng phương pháp bình đẳng hóa sở hữu tài sản như vậy với hị vọng sẽ giảm thiểu tội ác. Việc này gây ra hiện trạng là dân chủ quá mức, khiến ai cũng được phép trở thành người cai trị. Hơn nữa, Aristotle cho rằng, tội ác gây ra không phải bởi vì kẻ yếu thế muốn được bình đẳng, mà là vì lòng tham. Và không có mức bình đẳng nào thỏa mãn được họ. Cuộc cải cách chính trị đích thực không phải là tạo ra bình đẳng mà là nâng cao ý thức tinh thần của con người vượt lên trên lòng tham.

  1. Mô hình của Hippodamus

Hippodamus của xứ Miletus là người phát minh ra nghệ thuật quy hoạch thành phố, và đã quy hoạch thành phố Piraeus. Hippodamus có tham vọng là quy hoạch một quốc gia có 10.000 dân. Ông chia làm ba phần cho ba lớp người: dân thợ, nông dân và lực lượng vũ trang. Đất đai cũng chia thành ba phần: đất tế tự, đất nuôi quân, đất sinh sống và canh tác. Pháp luật chia thành ba bộ phận chính là: ẩu đả, gây thương tích và án mạng. Do đó, ông duy trì duy nhất một tòa án tối cao để “tái thẩm những trường hợp tòa dưới đã xét xử không đúng.” Ông đề cao việc ghi chép chi tiết về tình trạng của một vụ xét xử, tức là nếu có tội thì ghi là có tội, vô tội thì ghi là vô tội, không thể đi đến kết luận cũng phải ghi là không thể kết luận. Ông phản đối cách biểu quyết của hội đồng để đi đến kết luận ai đó có tội hoặc không.

Hippodamus đặc biệt tưởng thưởng cho những người đưa ra các sách lược cho quốc gia. Ông cũng chăm lo đến phúc lợi xã hội, đặc biệt là với các gia đình tử sĩ. Tầng lớp quan lại do dân bầu ra, và có trách nhiệm chăm lo cho lợi ích cộng đồng.

Aristotle phê phán cách phân chia công dân thành ba loại, và cho tất cả các quyền bình đẳng. Ông cho rằng không thể có sự bình đẳng giữa ba loại người này. Bởi thợ thuyền và nông dân do không được mang vũ khí, nên không có gì khác là nô lệ của giai cấp chiến binh. Và do yếu thế như vậy, hai loại người kể trên không có quyền lực để tham dự vào chính sự. Cũng vì không thể tham dự vào chính sự, họ không thể trung thành với quốc gia. Ngoài ra, hệ thống tòa án của Hippodamus dẫn đến tình trạng độc tài trong phiên tòa, dễ dẫn đến tham nhũng và chạy án.

Ông không giấu được sự mỉa mai với việc vinh danh người đưa ra sách lược cho đất nước, ông cho đó là rỗng tuếch. Vì đó là cơ hội cho “những kẻ chỉ điểm tố cáo những người có tư tưởng cải cách là âm mưu làm loạn.” Hơn nữa, người ta sẽ dễ dàng đưa ra các đề xuất mà không tính toán đến các khía cạnh thực tiễn trong thay đổi. Aristotle phân tích rằng, thay đổi là tốt trong nghệ thuật và khoa học, nhưng với chính trị đó là vấn đề khác. Bởi một nhà cầm quyền có thể ra chính sách nhưng người dân lại lệ thuộc vào tập quán, và luật pháp cần rất nhiều thời gian để có thể thay đổi tập quán, có thể gây ra rất nhiều xáo trộn.

  1. Mô hình của Sparta, Crete và Carthage

Tại Sparta, nông nô luôn luôn tìm cách nổi loạn, trong khi ở Crete, mối quan hệ chủ nô khá ổn định. Tại sao lại có sự khác biệt này?

Sparta là một thành bang cho phép phụ nữ sống phóng túng. Và khi phụ nữ sống phóng túng  thì nền tảng luật pháp cũng lung lay. Hậu quả của việc này đó là sự sùng phụng của cải, và đặc biệt là người chồng bị vợ chi phối. Mỉa mai là, đây là hiện trạng thường thấy trong các dân tộc hiếu võ, ngoại trừ người Celt và một số dân tộc cho phép đồng tính luyến ái nam.

Một vấn đề nữa khiến Sparta suy yếu đó là cơ quan Giám sát viện. Bình luận về cơ quan này, Aristotle kết luận ngắn gọn như sau: “Đây là cơ quan quyền lực cao nhất, nhưng Giám sát viện lại do toàn dân bầu ra trong đám thứ dân, cho nên các chức vụ này dễ rơi vào tay của những người nghèo túng, và người nghèo thì lại dễ bị hối lộ.” Thậm chí, hội đồng trưởng lão của Giám sát viện lại được duy trì đến hết đời, đây là việc phản khoa học vì khi hội đồng này già đi sẽ không thể quản lý tốt được.

Aristotle cực lực phản đối cơ chế bầu cử của Sparta. Bởi vì những người tài thì bị ấn định vào chức vụ, còn ai muốn được bầu thì phải tự ứng cử. “Ở đây cũng như trong những phần khác của hiến pháp, hiển nhiên nhà lập pháp cho thấy ý định của mình là muốn công dân phải có lòng khát khao danh vọng và chức vụ, và ấn định đó là một tiêu chuẩn mà một trưởng lão cần phải có, vì chẳng có ai tự ra ứng cử nếu không muốn có danh vọng. Tuy nhiên, tham danh và tham lợi, hơn bất cứ nhiệt tình nào khác của con người, chính là động lực đưa đến tội ác.”

Thứ duy nhất Sparta coi trọng đó là đức tính duy nhất: đức tính quân nhân. Còn lại, mọi thứ đều tệ hại. Và đó là lý do khiến ngân khố của Sparta luôn thiếu vì phải lo chiến phí, dân thì trốn thuế, quan chức thì móc ngoặc với các thế lực bên ngoài. Tất cả đều dẫn đến một Sparta ngày càng suy thoái.

Crete khá tương đồng với Sparta. Aristotle cho rằng bản hiến pháp của Sparta là bản sao chép lại của Crete. Điểm đặc biệt của Sparta và Crete đó là cả hai thành bang này thực hiện chính sách bữa ăn chung. Ở Sparta, người dân phải trả tiền cho bữa ăn chung. Còn ở Crete thì mọi hoa lợi tập trung lại rồi được chia làm ba phần: tế lễ, công quỹ và bữa ăn chung. Crete khuyến khích mối quan hệ đồng tính và đàn ông hạn chế ở chung với vợ để giảm dân số. Nhờ thế, dù gặp phải tất cả các rắc rối như ở Sparta nhưng Crete vẫn khôn khéo cheo chống.

Mô hình của Carthage  tốt hơn nhiều so với Sparta và Crete dù có chung một cơ cấu chính trị. “Điều này được chứng minh bởi dân thường Carthage luôn trung thành với hiến pháp và người Carthage chưa bao giờ có cuộc nổi loạn đáng kể nào, và chưa hề bị cai trị bởi một bạo chúa.”

Điểm khác biệt: Sparta lựa chọn người giám sát theo bốc thăm, còn Carthage chọn quan chức theo tài năng. Vua của Carthage không cha truyền con nối như Sparta mà vua được bầu bởi gia tộc nổi trội trong từng giai đoạn, và dựa trên tài năng chứ không phải tuổi tác.

Hiến pháp của Carthage dù được xây dựng dựa trên quyền lợi của quý tộc, nhưng chính quyền khá linh động trong từng hoàn cảnh: hoặc dân chủ, hoặc tinh hoa trị. Tùy từng vấn đề, họ có thể đưa ra công chúng để bàn thảo  hay không. Và khi người dân không đồng tình, người dân có thể tự do phản đối. Tuy nhiên, về căn bản, Carthage vẫn là một mô hình điển hình cho tinh hoa trị.

Mặc dù có nhiều ưu điểm, nhưng nền chính trị Carthage cũng không tránh khỏi các khuyết điểm của thể chế tinh hoa trị. Thể chế tinh hoa trị tạo ra cơ hội cho  kẻ giàu dễ dàng mua được các chức vị cao, thậm chí là chức vua. Hơn nữa, hiến pháp cho phép một người giữ nhiều chức vụ, khiến cho công việc chồng cheo và khó hoàn thành nốt, tệ hơn, có thể dẫn đến chuyên quyền. Carthage rất khôn khéo, để tránh các tệ nạn này, họ thực hiện di dân tới định cư ở các thuộc địa. Vấn đề còn lại là ở chỗ, nhà cầm quyền phải đưa ra các phương sách để phòng ngừa nổi loạn từ chính những thuộc địa ấy.

 

III – Các cột trụ của nhà nước

  1. Nhà nước là gì?

Aristotle đưa ra một quan điểm bao quát hơn so với các chính trị gia cùng thời với ông về nhà nước. Nhà nước, theo định nghĩa của ông, “là một hỗn hợp do nhiều bộ phận tạo thành; những bộ phận đó chính là công dân.” Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, ai là công dân. Bởi trong mỗi một thể chế khác nhau, công dân lại khác nhau. Ông cho biết, một công dân ở thể chế dân chủ thì không phải là công dân ở chế độ quả đầu. Ông cho rằng công dân không có nghĩa là một người dân sống ở một quốc gia nào đó. Định nghĩa của Aristotle về công dân là: “Người công dân chỉ cần có một đặc tính duy nhất là người có quyền tham gia vào việc thực thi công lý và đảm nhiệm các chức vụ trong chính quyền.””

Do mỗi chính quyền có một mô hình khác nhau thì công dân lại giới hạn trong các nhóm khác nhau. Ở xã hội dân chủ, người dân thường có thể là công dân. Nhưng ở các xã hội độc tài, dân không có quyền tham chính, nên không thể gọi là công dân. Và nhà nước chỉ hình thành khi “các công dân hợp lại nhằm đạt tới mục đích đời sống”.

Aristotle cũng đặt ra một vấn đề gây nhiều tranh cãi, ngay cả với tình trạng nước ta hiện nay: Một người dân tốt liệu có phải là một công dân tốt hay không? Ông khẳng định hai việc này rất khác nhau. Công dân có trách nhiệm giữ cho xã hội được an toàn, vận hành tốt, giống như người thủy thủ có trách nhiệm giữ cho con tàu phải giữ đúng hải trình và cập bến an toàn. Nên người công dân tốt không nhất thiết phải có đức tính tốt. Nhưng tất cả mọi người nếu là công dân tốt thì nhà nước đó là tuyệt hảo.Tục ngữ cổ Hy Lạp có câu: “Kẻ nào chưa từng vâng lời, không thể trở thành một người chỉ huy giỏi”. Đó là khi “biết cách cai trị như một người tự do và biết cách vâng lời như một người tự do”. Điều này đúng với mọi kẻ mong muốn mình trở thành kẻ cai trị vĩ đại. Bởi không biết tuân phục thì không có cái nhìn bên trong của hệ thống, và bởi thế không hiểu về hệ thống đủ để thay đổi nó. Để trở thành một lãnh đạo giỏi, cần có cả hai đức tính: công dân tốt và người tốt.

 

  1. Chế độ quả đầu, Chế độ dân chủ và Pháp luật

Aristotle phân tích rằng “hiến pháp và chính quyền có cùng một nghĩa, và chính quyền, tức là quyền uy tối thượng trong một nước, phải nằm trong tay của một người, hay của một vài người, hay thuộc về nhiều người.” Những nước mà quyền lực nằm trong tay một người hay nhóm người, theo Aristotle, đó là “hủ bại”. Bởi người dân, chỉ khi là công dân thì mới tham gia vào chính sự.

Hiến pháp có vai trò cốt lõi để xem xét cơ cấu chính quyền. Thông qua Hiến pháp, ta có thể biết được cơ cấu chính quyền nào “gần với cơ cấu lý tưởng nhất, trong hoàn cảnh lý tưởng nhất” và xem cách thực thi hiến pháp trên các quốc gia. Một nhà lập pháp cần phải phân tích và chọn lựa cơ cấu chính trị dựa trên thực tế, bởi theo Aristotle, các nhà tư tưởng chính trị thường không có thực tế.

Aristotle vạch ra một sự phân biệt sẽ gây chấn động với chúng ta ngày nay như sau: “ta thấy có ba mô hình đúng đắn: quân chủ, tinh hoa trị và chính quyền theo hiến pháp; và ba mô hình hủ bại – bạo chúa, quả đầu và dân chủ.” Ông không đồng ý với lập luận của thày ông là Plato rằng “khi mọi thể chế đều tốt thì chế độ dân chủ là chế độ xấu nhất, nhưng khi mọi chế độ đều xấu hết, thì chế độ dân chủ là chế độ tốt nhất”. Về căn bản, các mô hình nhà nước thời đó vẫn được chia thành hai loại: quả đầu (tức nhóm thiểu số nắm quyền) và dân chủ (tức nhóm đa số nắm quyền). Aristotle thì không chia như vậy, ông phân loại theo kiểu: cơ cấu nào tử tế và cơ cấu nào hủ bại

Quyền lực khi tập hợp vào cá nhân thì gọi đó là quân chủ, mà hình thức “hủ bại” là bạo chúa. Quyền lực tập trung vào một nhóm người thì gọi đó là tinh họa trị, và hình thức “hủ bại” là quả đầu. Quyền lực cho nhiều người, ta gọi đó là dân chủ. Nhưng cả ba thể chế này, Aristotle đều cho rằng không hề quan tâm đến quyền lợi của quốc gia, bởi vì “Bạo chúa hủ bại vì nhà vua chỉ chăm lo quyền lợ của vương thất, quả đầu chỉ lo cho quyền lợi của kẻ giàu, và dân chủ chi lo cho quyền lợi của dân nghèo”

Sự khác biệt giữa quả đầu và dân chủ nhiều người cho rằng ở vấn đề thiểu số cầm quyền hay đa số cầm quyền. Sự khác biệt nằm ở tài sản, và sự khác biệt này luôn đặt ra các vấn đề về bình đẳng. Nếu chế độ dân chủ được sử dụng, tức là số đông cầm quyền. Liệu có thể lấy tài sản của người giàu để chia cho người nghèo không? Chắc chắn là không. Và đương nhiên, nếu nhóm giàu có cầm quyền, lòng tham sẽ khiến họ nhân danh nhiều thứ để tước đi tài sản của người dân. Cả hai chế độ này đều bỏ qua một vấn đề cốt lõi trong xã hội, đó là đạo đức. Bởi để một xã hội vận hành, không đơn giản chỉ dựa trên việc nhóm nào cầm quyền, mà còn dựa vào cột trụ đạo đức.

Tuy nhiên, dù không thích tình trạng số đông nắm quyền, nhưng ông vẫn phải thừa nhận số đông sẽ ưu việt hơn thiểu số tài năng. Bởi vì, một tập hợp những người dân làng nhàng, khi được tổ chức tốt sẽ có khả năng thực thi tốt hơn. Đương nhiên, không thể tránh khỏi nguy cơ những kẻ dốt nát sẽ dễ dàng tham chính. Nhưng nếu không cho những kẻ dốt nát ấy tham chính thì chính quyền còn phải đối mặt với nguy cơ nguy hiểm hơn, đó là đẩy những kẻ dốt nát ấy vào tình trạng đối nghịch và phản loạn. Chính quyền dân chủ, tạm thời là ưu việt, nhưng vẫn có rất nhiều vấn đề, mà vấn đề chủ chốt chính là dân trí. Vì đám đông với dân trí thấp sẽ tạo ra một thể chế với các lựa chọn sai lầm, những cuộc đấu tố kinh hoàng.

Vậy thì, dù là chế độ quả đầu hay dân chủ, các quy định về pháp luật là thước đo quan trọng hơn cả. Pháp luật sẽ bù đắp được những khiếm khuyết của dân trí ở chế độ dân chủ và ràng buộc được nhóm lợi ích lam quyền ở chế độ quả đầu. “Từ đó, ta có thể suy ra rằng một chính quyền được thiết lập đúng đắn sẽ nhất thiết có luật pháp công chính, còn những chính quyền được thiết lập sai lầm thì sẽ có bất công.

Cũng giống như mọi nhà chính trị, Aristotle cho rằng luật pháp bình đẳng với tất cả mọi công dân. Nhưng ông cũng cho rằng luật pháp bình đẳng này  chỉ có tác dụng với những người có tài năng hạng trung, ngang bằng với nhau về khả năng. Luật pháp không có tác dụng với người siêu tuyệt, bởi lấy một thứ pháp luật cho người hạng trung để kiểm soát người bậc cao, đó là không thể.

“Nếu có người nào hay một số người nào, dù không đủ số để tạo thành một quốc gia đầy đủ, nhưng tài năng và đức độ siêu tuyệt hơn tất cả mọi người cộng lại, thì kẻ đó hay nhóm người đó không thể được coi là một phần tử của quốc gia nữa. Bởi vì đối với họ đó là điều bất công nếu được đối xử bình đẳng như những người khác có tài năng và đức độ kém hơn. Những người siêu tuyệt như vậy chỉ có thể là thần thánh chứ không thể là người. Như thế, ta thấy rằng luật pháp chỉ liên quan tới những người bình đẳng về tài năng và gia thế, còn đối với những người siêu tuyệt như vậy thì không có luật lệ nào ràng buộc họ. Chính họ là pháp luật. Và thật lố bịch khi có những người đòi làm luật để kiềm chế họ, vì họ sẽ trả lời như trong truyện ngụ ngôn về con sư tử và đàn thỏ của Anthithenes: Khi đàn thỏ đòi bình quyền cho mọi loài súc vật, sư tử hỏi rằng các ngươi có nanh vuốt không mà đòi hỏi bình quyền?’’

Ở các chế độ dân chủ thời cổ Hy Lạp, nhiều người hùng tài ba đã bị đẩy ra nước ngoài. Trong truyền thuyết cũng nhắc đến đoàn thuyền Augonaut đã bỏ Hercules lại, không cho chàng về Argo vì sợ tài năng của chàng sẽ lấn át tất cả. Các chính quyền, dù ở chế độ nào vẫn không thể đưa ra một chính sách hợp lý với các phần tử vượt trội này. Chỉ có hai cách, hoặc đẩy họ đi, hoặc để họ làm vua cho tới chết. Bởi một bậc siêu thuyệt thì xứng đáng được làm vua. (Ở xã hội ngày nay, các bậc siêu tuyệt có lẽ sẽ không thể làm vua, vì họ sẽ bị đưa vào các phòng thí nghiệm để theo dõi và nghiên cứu)

  1. Các mô hình quân chủ

Theo cách nhìn nhận của Aristotle, mô hình quân chủ là mô hình đúng đắn nhất của chính quyền. Nhưng mô hình quân chủ, ngay thời bấy giờ cũng được chia ra làm rất nhiều loại.

Quân chủ được lập nên bởi pháp luật (mô hình tại Sparta) được xem là mẫu mực nhất. Quyền lực của nhà vua không được xem là tuyệt đối, trừ trường hợp xuất chinh hoặc các vấn đề tôn giáo. Vị vua này có thể do kế vị hoặc do dân bầu.

Mô hình quân chủ chuyên chế được nhiều quốc gia phương Đông (ý nói khu vực Lưỡng Hà và Ai Cập) áp dụng. Các vị vua thường coi người dân là nô lệ. Nhưng chế độ này, theo Aristotle đánh giá là ”bền vững và không sợ bị lật đổ vì được xem là hợp pháp và đời cha xuống đời con”. Tại đây, người dân tô vinh vua của họ thật sự, cấm vệ quân cho vua được tuyển từ dân; khác hẳn với chế độ bạo chúa, cấm vệ quân thường là lính đánh thuê và dân bị cưỡng bức tuân phục.

Mô hình quân chủ độc tài (Aesymnetia), tồn tại ở Hy Lạp thời cổ. Mô hình này có thể gọi là “quả đầu qua bầu cử”, tức là người dân bầu lên vị vua của mình, tùy theo nhiệm kỳ, nhiệm vụ hoặc trọn đời.

Mô hình quân chủ thế tập ở Thời đại anh hùng trong khu vực Địa Trung Hải. Các vị vua có truyền thống cha truyền con nối với quyền lực bao trùm. Nhưng dần dần, các vị vua này giao lại một số đặc quyền cho dân, còn mình giữ vai trò tế tự hoặc khi viễn chinh.

 

 

  1. Mô hình Tinh hoa trị và Hiến định

Aristotle dành rất nhiều ca ngợi cho mô hình Tinh hoa trị (ở bản dịch ghi là mô hình quý tộc). Ông định nghĩa mô hình này như sau: “Một chế độ chỉ được gọi là tinh hoa trị một cách đúng đăn nếu đó là một chế độ điều hành bởi những người tài đức nhất, hiểu theo nghĩa tuyệt đối, chứ không phải là những người tài giỏi theo một tiêu chuẩn nào đó.

Mô hình Hiến đình là mô hình phức hợp giữa chế độ quả đầu và chế độ dân chủ. Mô hình Hiến định được quy định bởi hiến pháp chung, thỏa thuận giữa nhóm đa số và nhóm thiểu số. Do đó các chính sách sẽ không hoàn toàn đi theo quyết định của số đông, bởi số đông có thể đưa ra các quyết định sai lầm.

Mô hình Tinh hoa trị là một mô hình hoàn hảo nhưng quá khó để đi theo bởi rất khó để khẳng định tài năng và đức độ của một người vượt trội. Trên thực tế, chưa có một nhà nước nào đạt đến Tinh hoa trị. Thông thường, các nhà nước sẽ chuyển sang hệ thống Hiến định. Hệ thống hiến định hướng con người đến sự trung dung. Tức là, “một đời sống hạnh phúc là một đời sống theo đức hạnh và có đủ phương tiện vật chất để sinh sống, và đức hành là số trung bình cộng hay sự trung dung, thì đời sống trung dung và có số trung bình mà ai củng có thể đạt được phải là đời sống tốt đẹp nhất.

Mô hình Hiến định được xây dựng bởi lớp trung lưu, không quá giàu cũng không quá nghèo. Aristotle phân tích rằng những người quá giàu hoặc quá vượt trội về tài năng sẽ không có khả năng lý trí, dễ phạm tội lớn. Những người quá nghèo sẽ bị lòng tham và sinh tồn chi phối, cũng không thể có khả năng lý trí, dễ trở thành lưu manh. Vì vậy, những người ở giữa, tức giai cấp trung lưu, nên chiếm đa số, như thế tình trạng bình đẳng sẽ dễ dàng diễn ra hơn.

Ông kết luận: “Một nước được thành lập bởi đa số công dân thuộc thành phần trung lưu chắc chắn phải là một nước có chế độ chính trị tốt nhất bởi vì họ cũng giống như những sợi chỉ dệt thành tấm vải quốc gia. Thành phần công dân trung lưu là thành phần ổn định và chắc chắn nhất của một nước, vì họ không như người nghèo thèm thuồng tài vật của hàng xóm, mà cũng không ai thèm thuồng của cải thuộc vào loại thường thường bậc trung của họ, vì người nghèo ham muốn tài vật của người giàu. Họ cũng chẳng thèm âm mưu hại lẫn nhau, mà cũng chẳng có ai thèm âm mưu làm hại đến họ, cho nên , họ sống một đời sống an toàn.” Tất cả những điều ấy khiến giai cấp trung lưu đóng vai trò quyết định. Hoàn hảo nhất là giai cấp trung lưu chiếm đa số, còn nếu không tối thiểu phải đông hơn một trong hai nhóm đối nghịch là giàu và nghèo. Khi ấy, sự quyết định của giai cấp trung lưu sẽ đóng vai trò then chốt trong cán cân chính trị và ngăn không cho các phần tử cực đoan thống trị.

Trên thực tế, mô hình trung dung này cũng rất khó thực hiện. Như Aristotle thống kê thì chỉ có duy nhất một vị vua thực hiện được, có thể là Theramenes, lãnh đạo Athens năm 411TCN. Tại Athens bấy giờ, quyền lực chính trị nằm trong tay 5000 công dân có khả năng tự chiến đấu. Một giả thuyết khác đặt ra thì chế độ trung dung đó chính là do Nhiếp chính  của Alexandre Đại đế là Antipater, bạn thân của Aristotle thực hiện tại Hy Lạp. Tôi cho rằng, người mà Aristotle nhắc đến khả năng là Antipater, bởi vì Antipater và Aristotle thường xuyên chia sẻ tầm nhìn chính trị, nên việc hai người cùng hướng tới mô hình trung dung này là điều dễ hiểu.

 

  1. Các cuộc Cách mạng

Các cuộc Cách mạng, như Aristotle nói, đều đến từ việc các nhóm giàu và nghèo cảm thấy bị đối xử bất bình đẳng. Trong khi ấy, những người có tài xuất chúng mới thực sự là người bị đối xử bất bình đẳng thì họ  lại ít khi nổi loạn. Còn những người xuất thân danh giá thường có xu hướng nổi loạn hơn. Các cuộc Cách mạng được chia làm hai loại. Một là nhằm thay đổi hiến pháp, tức là thay đổi cơ chế và mô hình chính trị. Ở mức độ nhẹ hơn, Cách mạng sẽ góp phần thay đổi một phần nào đó trong Hiến pháp. Hai là loại Cách mạng chỉ nhắm vào những cơ quan của chính quyền.

Đối với quan chức, danh vọng và đấu đá phe cánh là nguyên nhân dẫn đến nổi loạn. Với tình trạng chia bè kết cánh này, các phe sẽ đi ngược lại với hiến pháp để kiếm lợi, đục khoét công quỹ hoặc bóc lột người dân. Một nhóm cảm thấy ghen tị vì danh vọng và quyền lực không bằng nhóm khác có thể dẫn đến nổi dậy.

Một nguyên nhân đối nghịch với tự mãn về danh vọng đó là sự sợ hãi. Sự sợ hãi có thể đến từ hai phía, và thường là sợ hãi mình bị tước quyền, không được đối xử bình đẳng. Người giàu nổi loạn vì sợ đám đông dân chúng sẽ triệt hạ họ hay người nghèo nổi loạn vì sợ chính quyền tước đoạt các quyền lợi… tất cả đều đến từ sự sợ hãi.

Nguyên nhân nghiêm trọng nhất của Cách mạng là do khác biệt sắc tộc. Nên nhớ rằng khu vực Địa Trung Hải là một trong các khu vực phức tạp nhất về sắc tộc trên thế giới. Nếu dân nhập cư nhiều mà chưa có đủ thời gian để các sắc dân học cách tồn tại với nhau thì đó chính là nguyên nhân dẫn đến nổi loạn.

Lãnh thổ có thể cũng là vấn đề dẫn đến nổi loạn. Khi một quốc gia quá rộng và quá nhiều khu tự trị, chính quyền trung ương sẽ không thể thâu tóm được, dần dần hình thành nên sự không tương đồng, và cuối cùng là ly khai, có ly khai là sẽ có nổi loạn.

Nhưng cho dù là nguyên nhân gì thì điểm mấu chốt dẫn đến nổi loạn đa số đều đến từ những va chạm rất nhỏ của các nhóm quyền lợi, như một giọt nước tràn ly. Những cuộc nổi loạn này sẽ thường dẫn tới thay đổi mô hình xã hội một cách đột nngôt, đảo qua giữa hai thái cực. Tình trạng này dễ dàng diễn ra khi tầng lớp trung lưu không đủ đông để giữ cân  bằng.

Ở chế độ dân chủ, tình trạng nổi loạn gây lật đổ thường đến từ sự thật. Ở các xã hội dân chủ, thuật hùng biện và tranh biện rất phát triển. Thuật này là cách thức để các chính trị gia thuyết phục người dân tín nhiệm mình. Nhưng khi sự thật bị lật tẩy, người dân ý thức rằng tất cả chỉ là lừa mị, họ sẽ nổi dậy.

Ở chế độ quả đầu, tình trạng nổi loạn và lật đổ thường đến từ chính nội bộ. Các nhóm quyền lợi trong chính quyền sẽ không bao giờ vừa lòng với những vị trí họ có. Vậy nên, tranh chấp quyền lực chắc chắn sẽ diễn ra.

Ở chế độ tinh hoa và pháp định thì thường bị lật đổ do không giữ được các nguyên tác công chính. Nếu hiến pháp chung của người giàu và người nghèo không được tôn trọng thì nguy cơ bất bình đẳng sẽ diễn ra. Chắc chắn một nhóm sẽ nổi dậy để chống lại nhóm đang thắng thế.

 

  1. Làm thế nào để duy trì độc tài

Chế độ độc tài những tưởng sẽ khiến người dân bức xúc mà nổi dậy, nhưng thực ra các triều đại độc tài đều duy trì khá lâu. Hiện nay, chúng ta đều mặc định rằng độc tài là xấu, còn dân chủ là tốt. Nhưng Aristotle thì khác, ông cho rằng đó chỉ là hai mặt của một vấn đề mà thôi, vì ông cho rằng dân chủ mà cực đoan quá mức sẽ dẫn đến độc tài.

Nguyên nhân một nhà độc tài bị lật đổ chính là lòng oán ghét và sự khinh miệt của người dân. Chính trong chế độ độc tài, người làm vua lại càng phải chăm lo nhiều hơn cho lòng dân. Vậy thì làm thế nào để có được lòng dân?

Aristotle đề xướng: “Quyền lực của nhà vua càng bị giới hạn chừng nào thì quyền lực càng giữ được nguyên vẹn, bởi vì như vậy thì sự cai trị của nhà vua sẽ ôn hòa và không bị dân ghen ghét.

Những nhà độc tài cực đoan sẽ luôn triệt hạ những người vượt trội, có chí khí, cấm hội họp, cấm ăn chung, dạy học và giám sát người dân bằng mọi cách. Văn học nghệ thuật trong xã hội độc tài cực đoan cũng bị cấm. Chính quyền sẽ luôn gây cản trở trong việc quen biết và trao đổi giữa người dân. Từ vấn đề giám sát người dân để ngăn ngừa nổi loạn đã hình thành nên lớp người chỉ điểm, xuất hiện trong các cuộc hội họp. Chính kẻ chỉ điểm này là thứ đáng sợ nhất gây chia rẽ trầm trọng giữa nhà độc tài và người dân, bởi chúng khiến cho người dân e ngại, không dám nói lên sự thật.

Để độc tài duy trì quyền lực tốt hơn, chính quyền luôn phải gây ra chia rẽ dẫn đến tranh cãi trong người dân. Hoặc đơn giản hơn là khiến dân bị bần cùng hóa (nhưng không quá mức), vừa đủ để người dân luôn luôn phải lo kiếm sống mà không có tâm sức để làm loạn nữa. Một xã hội độc tài thường sẽ đề cao thái quá quyền lực của người phụ nữ, để người phụ nữ đóng vai trò chủ chốt trong gia đình, như thế người vợ sẽ báo cáo với chính quyền về tình trạng của người chồng nếu người chồng có ý định làm loạn. Và đương nhiên, không có chỗ cho những tư duy độc lập trong một xã hội độc tài, bởi nhà độc tài chỉ cần những người biết nghe lời và đặc biệt trọng dụng kẻ nịnh hót.

Đúc rút lại nguyên tắc để duy trì độc tài, Aristotle tổng kết các chính sách ấy như sau:

“Đó là làm mất phẩm giá của thần dân, vì những người có ý chí thấp kém thì sẽ chẳng dám âm mưu chống lại ai; tạo sự nghi kỵ giữa đám thần dân với nhau, vì chẳng ai dám lật đổ nhà độc tài cho đến khi người dân bắt đầu có sự tin tưởng lẫn nhau; đó cũng là lý do tại sao nhà độc tài luôn tìm cách đàn áp người tốt vì không những không thể cai trị họ một cách độc đoán, mà còn vì họ luôn trung thành với nhau; nhà độc tài muốn cho thần dân của mình không có khả năng hành động, bởi vì chẳng ai lại đi làm một việc bất khả thi. Nếu họ bất lực thì họ sẽ không nghĩ đến cánh lật đổ nhà độc tài.”

Nếu chỉ bằng các phương thức hạn chế như vậy, nhà độc tài sẽ không thể duy trì quyền lực tốt, họ cần các cách thức khác để tạo hình ảnh, tạo phong thái của một vị vua, chúng ta vẫn gọi đó là “mị dân”. Ví dụ như: quan tâm đến công quỹ và tỏ ra minh bạch công quỹ; thu thuế của người dân là vì lợi ích chung; luôn phải tỏ ra uy nghiêm; tránh say mê phụ nữ và hưởng lạc. Những nhà độc tài thường tỏ ra “là một người phục vụ Thượng Đế một cách nhiệt thành” để lấy niềm tin của dân chúng, khiến dân chúng tin rằng ông ta đang đại diện cho Chúa. Ở các xã hội độc tài, các vị vua cần phải trọng dụng người có tài tới mức các tài năng sẽ trung thành với quốc gia. Đối với cả hai giai cấp giàu nghèo, nhà độc tài luôn tỏ ra là công bằng, và lực lượng nào mạnh hơn thì sẽ được lựa chọn để sát nhập.

Chuyển từ quân chủ sang độc tài, theo như Aristotle nói, là bước đầu dẫn đến sụp đổ. Nhưng độc tài khi không thực hiện các chiêu trò mị dân thì chắc chắn sẽ sụp đổ.

 

IV- Giáo dục và lý tưởng chính trị

  1. Quốc gia lý tưởng

So với các phần trước, thuần túy về mô hình chính trị và lập luận thì ở chương về giáo dục, Aristotle trở lại với các chiêm nghiệm về cuôc sống:

“Những ai muốn tìm hiểu mô hfinh chính quyền nào là mô hình tốt đẹp nhất, trước hết phải xác định xem một cuộc đời đáng sống nhất là một đời sống như thế nào. Khi ta còn chưa biết chắc về điều này, thì ta cũng không biết chắc được cái mô hình chính quyền nào là tốt đẹp nhất. Tuy nhiên trong trật tự của thiên nhiên, ta có thể đoán được những người sống một đời sống tốt đẹp là những người được sống trong một chính thể tốt dẹp nhất mà hoàn cảnh cho phép. Do đó, trước hết, ta nên xác định thế nào là một cuộc đời đáng sống, và xem xét một đời sống như vậy có phải là một đời sốn tốt đẹp nhất cho cả cá nhân và chế độ hay không?

Aristotle kết luận, những người còn độc ác và tham lam thì không thể có cuộc sống hạnh phúc. Chỉ những người có đức hạnh, tức là những người có đời sống tinh thần cao, mới có được hạnh phúc. Vậy thì, một xã hội được gọi là tốt đẹp một cách lý tưởng là xã hội đạt tới các đức hạnh tinh thần và người dân có đầy đủ thể chất, vật chất để thực hiện những đức hạnh đó.

Hạnh phúc của các cá nhân cũng phản ánh lên hạnh phúc của một quốc gia. Khi một quốc gia đề cao sự giàu có của vật chất tức là các cá nhân của quốc gia ấy cũng đang quan niệm rằng sự giàu có mang lại hạnh phúc. Tương tự như thế với uy quyền hay đức hạnh. Một chính quyền khôn khéo sẽ biết cách điều phối các quan điểm về hạnh phúc để thích hợp với tất cả các cá nhân. Và quan trọng, những người nắm chính quyền phải là người đề cao đức hạnh chứ không phải là vật chất hay uy quyền.

Có một mâu thuẫn trong vấn đề đức hạnh, đó là tự do và đời sống chính trị. Luôn có mâu thuẫn giữa hai đời sống này, và phe nào cũng có đủ lập luận để thuyết phục rằng đời sống ấy là đáng sống nhưng Aristotle thì cho rằng người thật sự có tài đức siêu tuyệt là người vừa có đức hạnh vừa có khả năng hành động.

Trong phần này, Aristotle đưa ra một định nghĩa về một quốc gia lý tưởng, rất khác biệt với các tư duy chính trị thời bấy giờ. Quan niệm về một quốc gia tốt của thời bấy giờ về một quốc gia mạnh đó là phải có dân số đông và lãnh thổ rộng lớn, nhưng một quốc gia chỉ có thể phát triển tốt nhất khi nó được tận dụng tất cả các tính năng và vai trò của nó. Một nước đông dân thường dẫn khó cai trị bằng pháp luật và dễ dẫn đến bất ổn. Diện tích lãnh thổ của một quốc gia không cần quá lớn, nhưng đất đai phải đủ để cung cấp nông phẩm và dân sống thoải mái.

Địa thế của một quốc gia được gọi là lý tưởng khi nó đủ hiểm trở để ngăn giặc nhưng đủ thuận tiện cho dân cư đi lại, và đặc biệt là dễ quan sát. Thủ đô của một quốc gia thì cần phải ở chỗ thuận tiện giao thông cả đường bộ và đường thủy, để có thể vừa là trung tâm quân sự vừa là trung tâm thương mại.

Aristotle rất phản đối các quan điểm biến quốc gia của mình thành địa điểm buôn bán của bốn phương. Giao thương buôn bán với nước ngoài quá nhiều sẽ khiến việc cai trị gặp khó khăn và các nguy cơ về quốc phòng. Đương nhiên, một nước có cảng biển sẽ thuận tiện cho phát triển và phòng thủ hơn nhiều so với một nước không có cảng. Việc trao đổi buôn bán các mặt hàng với nước ngoài cũng là điều cần thiết, nhưng không nên để các mặt hàng nước ngoài lấn lướt hàng nội địa. Ông cho rằng: “Thực ra một nước nên trở thành một thị trường để đáp ứng nhu cầu của chính mình, chứ đừng nên trở thành một thị trường cho những nước khác vào buon bán. Những nước trở thành thị trường cho thế giới buôn bán là những nước nhằm tìm kiếm lợi nhuận, nhưng một nước không nên tìm kiếm những lợi nhuận như vậy, bởi thế, một quốc gia không nên biến mình thành nơi thị tứ cho thế giới”. Thiết kế tường thành ở cảng biến phải có tính phòng thủ cao và các luật lệ phải chặt chẽ để chắn những ảnh hưởng xấu do nước ngoài mang đến.

Chất lượng dân cư cũng là yếu tố Aristotle coi trọng, mà giá trị ông đề cao chính là lòng yêu chuộng tự do và sự khôn ngoan. Ông cho rằng, người dân ở phương Bắc sống tự do nhưng thiếu khôn ngoan, còn người dân ở phương Đông khôn ngoan nhưng thiếu đi nhiệt huyết, vì thế, người Hy Lạp ở giữa, có được đặc tính ở cả hai.

Việc phân chia giai cấp được Aristotle ủng hộ. Ông cho rằng công dân thì nên cho sở hữu đất đai và vũ trang để họ tự bảo vệ đất của mình. Nhưng các công dân đó thì không nên làm nghề nông. Để làm nghề nông, tốt nhất là đi bắt người chủng tộc khác thấp kém hơn, quen với đời sống nô lệ để làm nghề nông.

Cũng trong chương này, ông giới thiệu rất nhiều các mô hình về quy hoạch đô thị theo kiểu Hippodamus, quy hoạch chiến lũy, hải cảng, cách thiết kế các địa điểm ăn chung…v…v… Nhưng quan trọng hơn hết, để điều hành các đô thị ấy, pháp luật cần phải công chính.

Ông không cho rằng một nhà cầm quyền nên kéo dài quyền lực của mình mà nên thay đổi theo nhiệm kỳ, vì trên thực tế người cai trị đa phần cũng chẳng khá hơn người dân là mấy. Thay phiên nhau làm quan, làm dân thường… là cách thức để hệ thống vận hành trơn tru hơn, tránh tình trạng kẻ bất tài nắm quyền lâu dài.

Aristotle khác với Hippodamus, ông luôn chia sự vật và sự việc thành hai thái cực. Tinh thần con người, theo ông được chia thành lý trí và lý tính (thường chúng ta hay nhầm hai khái niệm này với nhau). Lý trí là tư duy, còn lý tính cao hơn cả lý trí bởi đó thứ dẫn hướng hành động và tư duy. Đời sống con người cũng được chia làm hai loại là ”công việc và thư nhàn, hay chiến tranh và hòa bình”. Việc một ai đó lựa chọn hành động như thế nào là dựa trên sự dẫn dắt của lý tính. Người dân trong một nước lý tưởng phải có khả năng chiến đấu trong chiến tranh và khả năng thư nhàn trong hòa bình, họ phải vừa là một công dân tốt và hướng tới việc là một người tốt.

  1. Giáo dục

Aristotle đồng ý với các nhà lập pháp khác về vấn đề giáo dục tuổi trẻ nên là mối quan tâm hàng đầu, vì khi giáo dục xuống cấp thì cơ cấu chính trị sẽ bị phá vỡ. Nền giáo dục là công cụ của nhà cầm quyền để phục vụ mô hình chính trị, và do đó phản ánh toàn bộ đặc tính của mô hình ấy. Do đó, một nền chính trị tốt chắc chắn sẽ có mô hình giáo dục tốt.

Aristotle cổ vũ mô hình giáo dục công lập và phản đối giáo dục tư nhân, vì giáo dục tư nhân không nhắm đến “những điều mang lại lợi ích chung cho mọi người”. Không thể lập luận rằng vì mỗi cá nhân khác biệt nên giáo dục khác nhau được, vì một phần tử không thể tách khỏi cộng đồng. Vấn đề ở chỗ, nền giáo dục công lập này nên được tổ chức như thế nào và hướng tới cái gì. Người dân kỳ vọng nền giáo dục hướng tới điều hữu ích trong cuộc sống, nhưng có phải điều hữu ích nào cũng nên được dậy hay không? Có điều hữu ích hạ tiện và có điều hữu ích cho người tự do. Aristotle cho rằng chỉ nên dậy cho trẻ những ngành nghệ thuật hay khoa học giúp cho thể chết và tâm trí trở nên cao cả. Ông bài trừ việc dậy những gì giúp trẻ con sau này lớn lên đi làm nghề nhận lương, vì cho rằng những thứ đó làm thui chột cả thể chất và tinh thần.

Thời bấy giờ ở Hy Lạp thường có 4 môn học: đọc viết, thể dục, âm nhạc và hội họa. Trong 4 môn học này, đọc viết và vẽ được xem là hữu ích cho cuộc sống, còn thể dục là để rèn luyện lòng can đảm. Riêng âm nhạc, ông cho biết, nhiều người vẫn hoài nghi về độ hữu ích, thậm chí còn bị xem là giải trí. Aristotle khẳng định lại, âm nhạc rất cần thiết, cần thiết cho sự thư nhàn, và “nguyên tắc đầu tiên của mọi hành động là sự thư nhàn””, thậm chí, sự thư nhàn còn quan trọng hơn cả nghề nghiệp. Thư nhàn là lúc để có những trải nghiệm tinh thần và hướng tới điều cao cả hơn. Môn đọc viết không nên chỉ coi như việc hữu ích trong xã hội mà là phương tiện để thu thập thêm nhiều kiến thức. Tương tự như vậy, hội họa không chỉ dừng ở phân biệt thật giả để tránh bị lừa gạt khi mua bán, mà nên tập cho chúng khả năng quan sát và trình độ thẩm mỹ. Bởi thế, nếu cái học chỉ hướng tới sự hữu ích thi vẫn cứ là thấp kém, cái học phải hướng tới tự do và thăng hoa.

Aristotle còn dành hẳn một chương để bàn về âm nhạc, về việc tại sao phải giáo dục âm nhạc trong nhà trường. Âm nhạc với ông, không phải đơn thuần là trò “tiêu khiển và thư giãn” như “ngủ nghê và uống rượu”. Ông cho rằng “âm nhạc dẫn đến việc hình thành đức hạnh, vì âm nhạc có thể uốn nắn được tâm trí và làm cho ta cảm được niềm vui thú thực sự”, và hơn cả thế, “âm nhạc làm tâm hồn ta hân hoan”. Đó chính là “cứu cánh hoàn hảo”, là lý do quan trọng để bộ môn âm nhạc tiếp tục ngự trị nền giáo dục. Ngoài ra, “Tiết điệu và âm điệu của âm nhạc mô phỏng được sự dịu dàng và phẫn nộ, cũng như sự can đảm và twj chủ, cũng như tất cả những tính cách tương phản với đức tính này, những tính cách rất giống với tình cảm thực sự ta từng cảm nhận được, vì khi nghe những âm điệu như vậy, tâm hồn ta cũng thay đổi theo.”

Điểm đặc biệt của các chương bàn về giáo dục của Aristotle đó là ông nói rất nhiều về âm nhạc và chơi đùa. Ngay sau chương bàn về âm nhạc, ông lại dành một chương khác về việc có nên dậy trẻ con tập nhạc và chơi đùa không. Aristotle đồng ý với việc dậy trẻ em thực tập nghệ thuật, nhưng ông phản đối việc trẻ em tập đến mức độ chuyên nghiệp, bởi nghệ thuật chuyên nghiệp thì không hướng con người ta đến giá trị tinh thần nữa mà là để mua vui. Và chính sự chuyện nghiệp ấy lại tạo nên sự thô lậu.

Đọc các chương về giáo của của Aristotle, ta có thể tổng kết lại rằng, mô hình lý tưởng của ông dường như không phải chỉ thiên về trau dồi kiến thức mà quan trọng là tăng khả năng thẩm mỹ và đặc biệt là bay bổng cùng âm nhạc. Các ý tưởng về việc giáo dục âm nhạc của ông đã kết thúc  cuốn “Chính trị luận” ở một thang bậc cao vời vượt trên cuộc sống.

Hà Thủy Nguyên

Hôm qua - hôm nay

blogpost thumb

Hôm qua… những tia lửa vò xé như không gian. Luồng khí xám xâm lấn dần bầu trời tưởng như vô cùng vô tận. Ngẩng đầu dậy, ta chỉ thấy một màu đen kịt… Mây đen… Gió cũng đen… Và những khuôn mặt người cũng nhuốm màu u ám…

Hôm qua… mưa ồn ào kéo đến từ đường chân trời quất vào ta những đòn roi lạnh lẽo… Nhưng lạ thay, dưới cơn mưa bão, trận chiến của những kẻ điên cuồng đột nhiên gián đoạn, bởi có thứ vũ khí nào sắc lạnh hơn những giọt mưa?

Hôm qua… ráng trời chiều rực lửa. Cả vùng trời cháy ngùn ngụt huy hoàng. Một cái gì đó cựa quậy trong ta như muốn bùng nổ, như muốn xua tan đi hơi lạnh của mặt đất, như muốn thắp sáng thế giới tối tăm này… Không! Không đủ!… Phải thiêu đốt cả vũ trụ này thành một đống tro tàn không cần phải biết điều gì sẽ xảy ra sau đó… Nhưng, mỉa mai thay, ráng chiều đã tắt tự bao giờ?

Hôm qua… một vệt sáng đa sắc được vạch lên màu mây xám. Ta cố chạy thật nhanh để đuổi theo, ta muốn níu giữ lại khoảnh khắc thần diệu này vì chắc rằng điều đó không bao giờ có thể lặp lại. Phải, ta đã thành công! Ta thành công với một sự thất bại ê chề khi nhận ra rằng đó chỉ là những ảo ảnh mong manh không hình không tướng, cho nên dù được lưu lại thì điều thần diệu đã biến mất từ lâu…

Và ngày hôm nay… ta đi dưới những gợn mây đuổi nhau giữa bầu trời xanh vắt. Ta chợt nhớ về những ngày hôm qua. Ảo tưởng về không gian toàn màu xám đen mà quên mất rằng những đám mây đen chẳng bao giờ có thể che lấp được toàn bộ ánh sáng. Ảo tưởng về những cuộc chiến là nguyên nhân khiến ta đau khổ mà quên mất rằng vì ta đau khổ nên những cuộc chiến mới diễn ra. Ảo tưởng về sức mạnh có thể dập tắt tất cả những ngọn lửa mà quên mất rằng những ngọn lửa luôn luôn cháy đến tận cùng. Ảo tưởng rằng mình có thể hiện thực hóa mọi điều thần diệu mà quên mất rằng khi được hiện thực thì sự thần diệu không còn là thần diệu nữa… Và ngày hôm nay… có một cơn bão của sự bình lặng đang xâm chiếm ta đẩy ta vào cô tịch và đẩy tất cả những giấc mơ dù xấu dù đẹp vào quên lãng…

Hà Thủy Nguyên

Anh hùng luận (4): Nỗi lòng mây trắng bay

blogpost thumb

Ta thân ở cõi trần, hồn tại chốn tiêu dao. Thân ta là hư ảnh hay hồn ta hư ảnh? Một kiếp lặng lẽ trôi qua, một kiếp miên viễn không dứt. Bất tử là hư ảnh hay yểu mệnh hư ảnh ?

Thư phòng tịch mịch gió lùa tựa ngàn vạn dây đàn xao động. Mây trắng giăng đầy trời phác ánh bạc tứ phương. Trên đỉnh cao muôn trượng, ta tựa lan can vuốt sợi tơ đàn của gió. Dưới tầng mây trắng, hư ảnh của ta một thân lưu lạc giang hồ. Kìa buổi chiến loạn, nhân gian vì hư quyền mà tranh chấp. Kìa lúc suy vong, kẻ sĩ dùng miệng lưỡi làm loạn đất trời. Thân ta bước xuống trần, ôm bầu nhiệt huyết, những mong dùng cái tài tri thiên mệnh để ra tay sắp đặt phận số của giang san. Một bên ta sắp xếp cho họ Trịnh yên phận cõi Bắc, một tay ta mở đường cho họ Nguyễn đến cõi Nam. Mầm họa chiến tranh không thể tránh, song tránh được kẻ lộng quyền những mong giang tay che cả bầu trời.

Ta với cõi Việt, tuy không gắn bó, nhưng cũng có duyên nợ thâm sâu, ơn cũng có mà hận cũng có. Cõi này dân chúng mê muội tin lời hoa mỹ, kẻ gánh chữ vì tước quan mà bán rẻ lương tâm, người có tâm lận đận mấy bận chỉ biết mang hận xuống suối vàng. Duyên nghiệp ta và cõi Việt còn chưa dứt, chưa thể rũ áo mà bay theo mây trắng về cõi vô cùng. Trong cơn mơ, ta trở lại với hồn ta, ngẫm vạn sự trôi qua mà chán ngán, chỉ muốn thở một hơi dài nằm nghe tiếng đời tấu lên bản nhạc bi thương. Lúc nhổm người tỉnh dậy, ta thấy mình đang sống đời hư ảnh loay hoay nuôi chí dựng cơ đồ. Ngày ta quyết bước vào quan trường, ta gác lại giấc mộng mây trắng để nhúng mình xuống cuộc vần vũ trùng trùng hư ảnh các phận số.

Năm ấy, ta dâng biểu xin chém đầu mười tám kẻ gian thần. Chúng như loài chuột chui rúc, đục khoét ngân khố, hãm hại hiền thần, thực bẩn mắt ta, thực vướng tay ta xây dựng cơ đồ. Tiếc rằng vua hèn dân yếu, khinh ghét lũ chuột mà lại dụng chúng cho tư lợi. Ta chỉ biết ngửa mặt lên cười mấy tiếng thật to. Kìa mây trắng hiện dần trước mắt, kệ thay đàn chuột lít nhít tranh ăn dưới sàn nhà. Vứt lại mũ áo cân đai, ta dậm bước mây trắng, thoái ẩn giữa cõi người, chờ đợi thân ta tan biến vào cát bụi để về với thư phòng miên viễn.

Thân còn chưa thoát khỏi hồng trần, cõi lòng còn cuộn sóng. Đêm đêm trong giấc mơ, ta không mộng về mây trắng, ta mộng về thân hư ảnh những kiếp rực rỡ. Thuở đó, ta giữ mệnh thiên tử, bằng tài thao lược dẹp yên loạn lạc, bằng tấm lòng sắt đá không cho loài chuột có chỗ dung thân, bằng trí huệ cõi khác ta xây dựng cơ đồ. Nay vẫn tài ấy, tấm lòng ấy, trí huệ ấy, chỉ vì không nắm giữ thiên mệnh trong tay mà long đong một đời nửa nhiệt huyết nửa chán chường. Chứng kiến kẻ tài mọn chí hèn giương cao ngọn cờ chính nghĩa, vừa nực cười, vừa đắng nghét nơi cổ họng,

Có lần, ta thoát hồn khỏi thân hư ảnh, nhập làm một với hồn chốn tiêu dao. Đem hận hồng trần hòa trộn chí phiêu bồng, những mong đốt cháy thiên thư, để vạn vật tự sinh tự diệt, những kẻ tự cho mình cái quyền sắp xếp số mệnh sẽ chấm dứt phận vị của mình. Chúng sinh an phận tin vào số mệnh, chấp nhận mấy kẻ tự cao tự đại nắm trong tay vòng quay thăng trầm. Ta không an phận, ta muốn bằng sức ta đập tan vòng quay ấy. Ta không chấp nhận những vì tinh tú nhỏ nhoi kia lại có thể chi phối được sự vĩ đại của ta.

Thiên thư vốn dĩ là một cỗ máy vận hành các chiều năng lương của cõi nhân gian. Có chiều xuôi, có chiều ngược, có chiều đối chọn, tinh vi tới mức hỗn loạn. Những kẻ vận hành cỗ máy này, nhân danh lòng thương chúng sinh mà ra tay sắp đặt cuộc chơi. Chúng không muốn thiết lập trật tự, chúng muốn vạn vật đi dần vào hủy diệt để chờ ngày tái lập vũ trụ theo cách chúng muốn. Những kẻ như ta vẫn biết chúng làm loạn, nhưng thân cô thế cô lại chỉ muốn giữ sự trong sạch và kiêu ngạo của bản thân mà không muốn vướng bụi bặm nên cười khẩy một tiếng là thôi. Chỉ những ai trải qua kiếp phong ba, từng một thân thiết lập trật tự, một thân chứng kiến cơ đồ tan hoang mà bất lực mới chẳng thể chịu được cảnh này. Nhìn lại cũng chẳng mấy người. Những kẻ tựa mây trắng vốn đã ít. Những kẻ dám ôm chí phá hủy thiên thư lại càng không có.

Ta nhìn những kẻ đang xoay vòng số mệnh, chẳng qua chỉ là loài tinh chuột tham lam. Viết vài tờ biểu dâng lên thì sao ? Cố định an thiên hạ thì sao ? Những con chuột vẫn nắm quyền khi số phận của chúng được an bài bởi những vị thần mang hình hài của chúng. Thấy ta xông đến, chúng hốt hoảng lùa đàn chuột tới cắn xé. Đàn chuột không chạm tới được chân ta, chỉ bằng luồng xoáy lửa ta đã thiêu trụi chúng.

Một con chuột lít nhít nói :

– Đừng phá ta ! Ta sẽ cho ngươi mệnh thiên tử. Ngươi có thể làm việc ngươi muốn ?

Những hư ảnh về thời vàng son kiếp trước tái hiện trong ý thức của ta. Phải rồi, với quyền lực ấy ta có thể xây dựng nên một thời kỳ thịnh trị.

Một con chuột khác chen vào :

– Diệt kẻ khác trước đi, tha cho ta ! Ta sẽ cho ngươi gặp lại người thương, nối lại những đoạn tình duyên dang dở.
Ôi chao đã bao lâu rồi ta không gặp lại. Cõi tiêu dao cũng vậy mà cõi nhân gian cũng vậy. Những người ta yêu thương không rõ đã lưu lạc chốn nao ? Liệu có phải vòng quay số mệnh ấy đã khiến ta có gặp cũng chẳng thế nhớ ra ? Cố nhân mờ mờ trong sương ảnh, lúc gần mà như không thể với, lúc xa mà tựa hồ có thể nắm lấy bàn tay.

Chúng lít nhít đua tranh cho ta đủ thứ. Ta sững giữa mây mù. Ta đơn độc thế, thoái chí thế, chán chường thế, chẳng phải vì số mệnh không nằm trong tay ta hay sao ? Ta bị sắp đặt ư ? Chỉ là những con chuột lấy tư cách gì cho ta vinh hoa phú quý, lấy cư cách gì cho ta luyến ái ? Chỉ cần một trận nổ lớn, ta cũng có thể tiêu tan, cỗ máy sẽ sụp đổ, lũ chuột sẽ mãi hủy diệt. Đơn giản vậy thôi, tại sao còn có thể bị mê hoặc ?

Ta toan ra tay, bất ngờ có kẻ ngăn lại. Đó là một kẻ cũng giống như ta, một kẻ không cùng bầy với loài chuột. Hắn vừa chặn đòn của ta vừa hét lên :

– Ngươi làm gì vậy ?

– Ta muốn chấm dứt sự ngu xuẩn của số mệnh ! – Ta gọn lỏn đáp.

Hắn chỉ mặt ta nói :

– Ngươi không được ! Ta đang dở dang sự nghiệp, đoạn tình ái của ta đang vào lúc nồng thắm !

Ta phì cười đáp :

– Sự nghiệp nếu thật là của ngươi, nó sẽ không thể bị hủy. Tình ái nếu thật là chân tình sẽ chẳng thể nguôi ngoai. Muốn biết chúng là thật hay giả huyễn, ta phải ra tay mới được !

Ta lại định phóng đòn, hắn nói nhanh :

– Không được ! Ngươi không biết ! Chúng sinh sẽ bị hủy… Ta và ngươi sẽ trở thành bóng mây trắng lang thang không có điểm dừng…

Ta lại ha hả cười:

– Đó là mong muốn của ta…

Hắn bực tức hét lên :

– Ngươi có biết rằng ngay cả việc ngươi làm loạn tại đây chẳng qua cũng đã được ghi trong số mệnh ? Ngươi chẳng phải sợ một ngày đàn chuột sẽ thống trị thiên hạ hay sao ? Ngươi hủy diệt cỗ máy, tất cả sẽ sụp đổ, nhân gian kia sẽ thành cõi chuột. Thân thể của chúng ta sẽ không tồn tại được, lũ chuột sẽ lộng hành.

Ta bàng hoàng. Việc này ta không biết. Hoặc đã biết mà bỏ quên mất. Phải rồi, ta hẳn phải biết. Bởi vì với tài năng của ta, chí khí của ta, sao có thể dễ dàng để thiên hạ loạn lạc đến vậy. Ta ngửa mặt cười ngất. Ha ha, ha ha, ha ha, ha ha, ha ha… giờ ta mới nhớ. Vòng xoay số mệnh ấy chẳng phải do ta thiết kế nên sao ? Hắn, cái kẻ giống ta ấy, chẳng phải là một phần ký ức của ta hay sao ? Biết vậy thì ta có thể làm gì ? Phải rồi, ta đã nhớ rồi…

Những con chuột có thể giữ vòng xoay của số mệnh, ấy là do trần gian lầm lạc, đã quên đi những gì tốt đẹp mà những kẻ như ta tạo dựng nên. Chúng bẻ cong vạn sự theo ý chúng. Ta xuống cõi trần chấp nhận thân mình bé mọn giữa dòng đời, để từng ngày tu sửa lại, chấn chỉnh lại vạn sự theo những gì đáng ra phải thế. Thế nào là quyền lực, thế nào là ái tình ? Không phải theo cách loài chuột hiểu mà cần theo cách ta hiểu. Đó là sứ mệnh thực của ta khi xuống cõi trần. Nếu chúng sinh không tin tưởng điều ta tâm đắc, ta sao có thể vận hành vòng xoay số mệnh theo cách của ta. Nếu thay đổi số mệnh mà dễ như vậy, ta đâu cần phải lao đao bao kiếp đến thế.

Ta thở dài mở mắt. Hơi nồng rượu lênh láng mặt bàn. Một cơn say vô tình đã để hư ảnh của ta nhập làm một với chính ta. Ta vẫn tự hỏi cõi đời bay bổng mây trắng kia là thật hay cõi đời đang say mèm vì chán ngán này mới là thật ? Ta có thực là nuôi chí cưỡng lại số mệnh hay ta đã được sắp đặt để cưỡng lại tất cả.

Tiếng chuột đêm khuya rúc rích. Tiếng dân chạy loạn lao xao. Người giết người giành nhau từng tấc đất. Ừ… tranh giành nhau hết đi ! Giết nhau chết hết đi ! Giết cho đến khi thế gian này còn mình ta. Ha ha, ha ha, ha ha, ha ha, ha ha…

Hà Thủy Nguyên

Long Điểu truyện - Chương 7: Phượng hoàng lửa

blogpost thumb

Thiên Hoàng và Minh Hoàng im lặng như hai pho núi trước giờ phun trào nham thạch. Một suy nghĩ thoáng qua đầu Thiên Hoàng: “Như vậy Minh Hoàng không phải kẻ bắt cóc Thiên Phụng… Không lẽ là hắn! Kẻ giả mạo bấy lâu nay… Nhưng bắt cóc con bé thì cũng không có lợi gì cho hắn! Trừ phi hắn biết…” Minh Hoàng nhún vai đứng dậy, bước chậm rãi trong phòng, rồi đứng gần cửa sổ, mắt lơ đãng nhìn vào màn sương:

– Ta tới đây gặp đệ là để mời đệ lên ngôi báu…

– Không! – Thiên Hoàng lạnh nhạt đáp – Việc đã sai rồi, cứ để nó sai tiếp đi! Sai, đến một lúc nào đó, tự nhiên sẽ thành đúng thôi!

Minh Hoàng quay phắt lại, nét mặt không giấu nổi sự phẫn nộ:

– Tại sao đệ có thể thờ ơ như thế! Nhìn xem, hắn làm được gì cho giang sơn Điểu tộc? Hắn lừa trên dối dưới, cướp ngôi của đệ. Vậy mà đệ có thể ngồi im sao?

Thiên Hoàng cười khảy:

– Trước đây đệ không tranh ngôi báu, giờ đệ cũng sẽ không ngồi lên ghế Điểu vương. Huynh muốn lật đổ Điểu vương, huynh cứ làm. Đệ sẽ không giúp ai trong bất cứ hai người. Việc của đệ là phải thế, mong vương huynh hiểu cho!

Minh Hoàng bực bội đập mạnh vào thành cửa sổ:

– Đệ thật là… chí khí của đệ đã đi đâu hết rồi?

– Đệ chưa từng có chí khí, làm sao có thể nói rằng nó đi đâu được. Vương huynh đã vất vả rồi! – Thiên Hoàng phủi áo đứng dậy – Đệ còn có việc gấp phải làm! Mong vương huynh bảo trọng.

Nói đoạn, Thiên Hoàng phi thân qua cửa sổ, hóa thành con phượng hoàng bay vào màn sương. Minh Hoàng hậm hực nhìn theo. Một kẻ ôm đầy hoài bão như chàng, nhưng lại chịu sự trói buộc bởi quy định ngai vị của Điểu tộc, thật không tránh khỏi uất ức. Nếu chàng sinh ra đã mang dòng máu phượng hoàng, thì thế cục Điểu tộc đâu có loạn đến vậy. Thiên Hoàng tài năng hơn người, nhưng không hiểu vì lý do gì lại thờ ơ với ngai báu như vậy. Minh Hoàng chặc lưỡi, thầm nhủ: “Nhưng thôi, việc đã đến nước này, không thể không ra tay!”

Chàng tung cánh đại bàng lướt mặt hồ Vọng Tiên, kêu lên tiếng kêu rợn gáy. Cánh đại bàng chập chờn trong sương, không nhìn thấy rõ, nhưng tiếng kêu của chàng khiến tất cả thực khách quanh hồ Vọng Tiên đều kinh hồn bạt vía. Họ dừng tiệc tùng, chạy đến bên hồ ngửa cổ chờ xem chuyện lạ.
Từ mặt hồ Vọng Tiên bỗng chồi lên hàng ngàn bóng xanh biếc, nhanh như chớp. Đó là quân đội của Minh Hoàng. Đội quân này đã được huấn luyện có khả năng bơi lặn như bói cá. Họ đã xâm nhập Điểu tộc thông qua đường mạch nước ngầm và hang động dưới lòng đất dẫn đến hồ Vọng Tiên.

Kết quả chàng vừa nói với Thiên Hoàng được tìm ra cách đây một năm, sau một thời gian dài chàng âm theo dõi mọi động tĩnh. Ngày Điểu vương nhận ngôi thế tử, chàng đã linh cảm thấy có cái gì đó bất thường. Chàng luôn băn khoăn về quy định từ xưa của Điểu tộc. Chàng không hiểu tại sao không phải là người có tài có đức lên ngôi báu, mà lại lệ thuộc vào một thứ năng lượng phù du. Chàng đã dành nhiều năm nghiên cứu về thể năng lượng phượng hoàng. Cuối cùng, chàng cũng hiểu được tại sao thể năng lượng phượng hoàng lại quan trọng đến vậy.

Phượng hoàng là loài chim ưa sống đời thanh sạch, cách xa trần thế. Chỉ những ai có linh hồn không chút vướng bận đến sự đời, không bị tạp nhiễm mới có thể hình thành thể năng lượng phượng hoàng khi đầu thai. Hơn cả thế, năng lượng phượng hoàng khiến cho máu của người sở hữu nó có khả năng cải tử hoàn sinh, bách độc bất xâm. Bẩm sinh, người có năng lượng phượng hoàng đã là một chiến binh bất bại với sức mạnh phá hủy kinh hồn.
Với tất cả những hiểu biết ấy, Minh Hoàng lập tức nhận ra Điểu vương chỉ là kẻ giả mạo. Chàng đã dành cả năm vừa qua để chuẩn bị kế hoạch hạ bệ tên Điểu vương giả mạo, đưa người xứng đáng lên ngôi báu. Mọi việc sẽ suôn sẻ hơn nếu có sự giúp sức của Thiên Hoàng, nhưng nếu không thể, tự chàng sẽ thực hiện kế hoạch.

Hoàng cung hiện ra trước mắt chàng, thâm nghiêm và hùng vĩ. Chàng luôn cảm thấy nơi đây vừa là nơi để ngưỡng vọng, vừa cảm thấy xa lạ, vừa muốn đánh đổ tất cả sự cao ngạo mà những dãy tường thành ngự trị. Chàng hóa thành hình người, nhưng vẫn giữ đôi cánh đại bàng. Một tay chàng giơ cao thanh kiếm, một tay phất cờ hiệu lệnh. Đôi cánh của chàng sáng rực giữa nền trời thu.

Thanh kiếm lóe lên dòng điện màu trắng sáng. Những tia điện nối nhau phóng thẳng lên bầu trời. Mây chuyển động thành đám vần vũ. Minh Hoàng chĩa mũi kiếm phóng lửa điện về phía hoàng cung. Quân ngự lâm canh gác Hoàng cung cất cánh bay lên trời nghênh chiến, bị những tia điện nướng thành tro. Tro tàn bay lả tả cùng những lông chim bị cháy xém rơi xuống mặt đất. Xác binh lính ngổn ngang trên sườn núi.

Một tiếng tù và vang lên từ phía hoàng cung. Từ vòng thành ngoài, từng toán quân chim từ bốn phía thành bay đến. Đội quân áo xanh của Minh Hoàng xông ra chiến đấu. Tốc độ của đội quân nhanh như những tia chớp, thoắt ẩn thoắt hiện khiến quân của Điểu tộc không kịp trở tay.
Minh Hoàng một mình bay vào hoàng cung. Chàng đậu xuống chính điện. Chàng hét to:

– Điểu Linh Hoàng! Ngươi là phượng hoàng kia mà? Sao có thể co đầu rụt cổ lén lút?

Từng bước từng bước chàng tiến gần đến ngai vàng. Những tiếng gươm khua ngoài kia nhỏ dần. Chàng chỉ nghe thấy tiếng vọng của mình:

– Từ lâu ta đã biết ngươi là kẻ giả mạo… Mau giơ tay chịu trói!

Bỗng nhiên, cả trăm mũi tên đầu kim cương nhọn hoắt phóng ra từ các họa tiết ở tường và trần. Cơ quan do Thiên Hoàng bố trí quả nhiên lợi hại. Minh Hoàng nhún người né tránh. Trong thiên hạ, không thứ kim loại nào có thể cứng bằng kim cương. Chàng dùng kiếm để gạt mũi tên kim cương nhưng lại bị các mũi tên ấy làm gãy kiếm.

Lúc này, Điểu vương Điểu Linh Hoàng mới từ từ bước ra và ngồi lên ngai vàng. Điểu vương chống cằm nhìn Minh Hoàng quay cuồng trong mưa tên.

– Ngươi muốn làm phản sao? – Điểu vương hỏi bằng một câu không chút sắc thái, không chút cảm xúc.

– Ngươi là kẻ giả mạo! – Minh Hoàng vừa tránh mũi tên, vừa đáp.

– Ai tin chứ? – Điểu vương nhún vai – Ngươi biết không, ngươi đã quá tự tin khi nắm sự thật trong tay rồi… Ngươi tìm đọc sách gì, chẳng lẽ ta không biết sao? Sách của Điểu tộc, đều do Điểu Kinh cung cấp. Thủ thư trông coi thư viện trong phủ đệ của các tướng quân trấn thủ và bá quan đều là do Điểu Kinh cắt cử. Hàng năm, danh sách những cuốn sách các ngươi đọc đều được gửi tới Điểu Kinh. Những cuốn sách ngươi đọc đã tố cáo kế hoạch của ngươi.

Minh Hoàng nghe tới đó, lòng không khỏi bấn loạn. Chàng không tránh kịp một mũi tên. Mũi tên găm vào chân chàng. Một mũi tên khác găm vào vai phải của chàng. Máu tứa ra. Minh Hoàng nhanh chóng rút mũi tên rồi lại tiếp tục phi thân về phía ngai báu.

– Đầu hàng đi! Điểu Minh Hoàng! – Điểu vương gầm lên, rồi lập tức dịu giọng. – May ra ta sẽ tha cho con trai ngươi!

Câu nói ấy như một đòn giáng mạnh vào Minh Hoàng, lập tức, một mũi tên khác bắn vào mạng sườn của chàng. Điểu vương nhấn nút ở ngai vàng, tên ngưng bắn ra. Minh Hoàng gục xuống đất, máu chảy ròng ròng lên mũi giày.

Hai tên lính kéo một xe tù vào chính điện. Trong xe tù là một cậu bé hơn mười tuổi với đôi cánh đại bàng trải rộng. Đôi cánh bị ghim vào cọc gỗ. Hai tay bị trói quặt ra đằng sau. Minh Hoàng kinh hãi thốt lên:

– Tử Bằng!

Tử Bằng là con trai của Minh Hoàng, bẩm sinh cũng có thể năng lượng đại bàng như chàng. Lúc được đưa vào, cậu bé đang ngất lịm. Nghe tiếng gọi của Minh Hoàng, cậu bé mới lơ mơ, ú ớ:

– Cha… cha…

Điểu vương nói chen vào:

– Ngay khi ngươi rời khỏi thành Trấn Đông, ta đã cho người bắt con trai ngươi đưa đến đây! Đúng là dòng dõi hoàng tộc, bắt được nó không dễ. Khá khen cho ngươi!

Minh Hoàng xiết chặt chuôi kiếm trong tay. Thanh kiếm đã gãy, con trai đã bị bắt. Một năm chuẩn bị của chàng, chỉ vì chút sơ suất nay đã hóa thành gạch nát cả rồi. Minh Hoàng gượng đứng dậy, mặc máu chảy ròng ròng, lừ mắt căm hận:

– Cha con ta thất thế, rơi vào tay ngươi, nay mặc ngươi chém giết tùy ý…

Điểu vương cười như một kẻ điên loạn. Tiếng cười khiến cậu bé Tử Bằng tỉnh dậy. Cậu bé hốt hoảng:

– Cha… cha mau chạy đi… Mặc con…

Điểu vương bất chợt phóng ra từ ngai vàng, dùng đôi tay bẻ gãy xe tù. Đám lính canh xe tù vội dạt ra.Chỉ còn Tử Bằng trơ trọi trên cọc gỗ với đôi cánh bị ghim lại. Điểu vương vuốt đôi cánh của Tử Bằng:

– Một đôi cánh thật đẹp… Thuở bé, ta nhìn ngươi và Thiên Hoàng bay lượn trên bầu trời, không khỏi thấy ghen tị. Tiếng cười của các ngươi vọng từ bầu trời xuống chẳng khác nào như roi quất vào trái tim ta. Các ngươi, một phượng hoàng, một đại bàng, sau này ắt hẳn sẽ thống lĩnh thiên hạ. Vậy thì ta là cái gì?

Điểu vương dùng tay, nắm lấy cuống cánh của Tử Bằng. Minh Hoàng nhìn Tử Bằng, nín thở, nhẹ nhàng nói:

– Tử Bằng, nhắm mắt lại, cứ tưởng tượng đến lần đầu tiên con được bay. Hãy nhớ đến những đám mây trôi dưới đôi cánh của con…

Điểu vương xiết chặt cánh của Tử Bằng, nghiến rằng, kéo mạnh đôi cánh. “ A… A…A….” Tử Bằng thét lên đau đớn. Xương bả vai của cậu như bị bẻ gãy. Cậu nghe thấy tiếng rốp rốp từng khớp xương đứt lìa. Cậu cảm thấy máu ứa ra chảy dài trên sống lưng. Cậu nhìn về phía cha cậu, không biết có thể chứng kiến cha chịu cảnh xé da xé thịt này hay không.

Minh Hoàng cầm một mũi tên phi về phía Điểu vương. Điểu vương lắc người né, nhưng mũi tên vẫn găm vào vai phải. Điểu vương nghiến giọng:

– Bắn tên!

Từ tường lại tiếp tục phóng ra một loạt mũi tên kim cương. Minh Hoàng không còn đủ sức, cũng không còn đủ động lực để tránh né. Chàng đứng thẳng, ưỡn mình đón đợi những mũi tên găm vào thân thể của mình. Máu bắn tung tóe trên sàn. Những hình ảnh nhòa dần, chàng chỉ còn nghe tiếng của Tử Bằng loáng thoáng:

– Cha… con sẽ đi với cha…

Minh Hoàng ngã gục xuống sàn, nằm giữa vũng máu. Chàng nhìn con trai lần cuối, lẫn lộn với bầu trời trong ký ức. Minh Hoàng lẩm bẩm trong cơn hấp hối:

– Con trai… hãy nhớ rằng chúng ta đã từng bay…

Điểu vương rít lên, cầm nốt cánh chim còn lại của Từ Bằng, bứt ra khỏi lưng cậu bé. Cậu bé kêu lên yếu đuối rồi ngất lịm. Điểu vương ném đôi cánh xuống sàn, phủi sạch tay rồi bước về phía Điểu Minh Hoàng. Điểu vương đưa tay sát mũi Minh Hoàng, không còn cảm thấy hơi thở ở chàng nữa. Đoạn, ngài bước tiếp đến ngai vàng, ngồi xuống, thở phào như trút xong một gánh nặng:

– Dọn dẹp cho ta! Còn thằng bé này, đem ra ngoại thành giết rồi vứt xác cho chó sói ăn. Xóa sạch mọi dấu vết về nó cho ta.

Tử Bằng bị gỡ xuống khỏi cọc. Những tên lính quấn cậu bé vào khăn rồi khiêng ra ngoài.

Vương hậu tay bưng một bát canh, nhẹ nhàng đi đến bên Điểu vương. Nàng xuất hiện khiến Điểu vương quên hết khung cảnh đẫm máu và bừa bãi ở trước mắt. Nét mặt dữ tợn của ngài cũng được thay bằng một vẻ dịu dàng, hiền từ. Giọng nói của vương hậu mơn man bên tai ngài:

– Đại vương… ngài đã vất vả cả đêm rồi…

Điểu vương mỉm cười đón lấy bát canh. Mùi thơm từ bát canh khiến ngài thấy thư thái trở lại, yên lòng hớp từng thìa một cách ngon lành.

– Sao nàng không đợi ta ở hậu cung… Những cảnh bẩn thỉu thế này, không tốt cho nàng đâu!

Vương hậu nở nụ cười tươi tắn như bông hoa vào độ xuân thì:

– Đại vương vất vả đối phó với trăm mối hiểm nguy, sao thiếp có thể yên lòng ở hậu cung được. Khi thiếp nghe thấy tiếng tù và, thiếp bắt đầu nấu canh. Vừa nghe tin thắng trận của đại vương thì nồi canh cũng vừa chín. Thiếp bèn bưng canh tới để đại vương thưởng thức, nhờ đó mà lấy lại sự thư thái…

Điểu vương bật cười:

– Qủa nhiên chỉ có nàng hiểu ta…

– Thưa Điểu vương! – Một tên lính bẩm tấu – Chinh Nam tướng quân Điểu Thiên Hoàng có việc gấp xin cầu kiến!
Điểu vương đặt mạnh bát canh xuống bàn, giọng bực tức:

– Kẻ này vừa xong thì kẻ khác đã tới! Cho vào!

Điểu Thiên Hoàng đi vào, nét mặt lạnh như tảng băng, nhưng đôi mắt của chàng như rực lửa. Điểu vương lập tức cảm thấy sát khí từ người chàng.
Thiên Hoàng, cũng như mọi khi, không quỳ gối trước Điểu vương. Lần này, chàng cũng không chào hỏi, không cung kính, hỏi thẳng:

– Điểu vương có thể đang tâm hạ sát anh trai mình, cháu ruột mình mà không một chút đắn đo ư?
Điểu vương nói gọn lỏn:

– Hắn làm phản!

Thiên Hoàng cười nửa miệng, mỉa mai:

– Làm phản… hay là đòi sự thật?

Điểu vương gật gù:

– Ra là ngươi đã biết… Là làm phản hay đòi sự thật, cũng khó nói lắm! Ta có nên nghĩ rằng ngươi đứng sau sự việc này không?

Vương hậu khẽ cúi mình:

– Thần thiếp xin được cáo lui…

Điểu vương gật đầu. Trong nháy mắt, vương hậu lôi ra một con dao găm bằng kim cương, phi thẳng vào cổ Điểu vương. Mũi dao găm cắm không sâu, máu của Điểu vương chảy ròng ròng nhưng không tổn hại đến tính mạng. Điểu vương phẫn nộ, tung cước đá vương hậu đập vào tường. Thiên Hoàng toan tung người ra đỡ nhưng không kịp. Vương hậu gãy xương, nằm bệt dưới sàn đá cẩm thạch.

Vương hậu nở nụ cười:

– Kẻ đứng sau cuộc làm phản này là ta… Ta… bấy lâu nay… ở bên ông, sao ta không biết… – Hơi thở của nàng yếu dần.

Thiên Hoàng bế nàng lên, ôm lấy khuôn mặt nàng, không ngăn được nước mắt lăn dài trên má:

– Tại sao nàng dại dột như thế… sao không nói với ta…

Vương hậu đưa tay vuốt má Thiên Hoàng:

– Ta không muốn chàng gặp nguy hiểm… Cũng đã đén lúc rồi… Cuối cùng… chàng cũng chịu ôm ta… lần cuối… thế là đủ…

Hơi thở vương hậu yếu dần, yếu dần, tắt lịm… Thiên Hoàng ôm nàng vào lòng trong thinh lặng. Bao nhiêu năm qua, không phải chàng oán trách nàng, chỉ là lòng chàng đã nguội lạnh. Ấy vậy mà nàng vẫn liều mạng vì chàng. Ân tình này chàng sẽ khắc cốt ghi tâm, giống như tình yêu nồng cháy cùng nàng thuở thanh xuân.

Điểu vương lạnh lùng ra lệnh:

– Bắn tên!

Không một mũi tên nào được bắn ra. Điểu vương lo lắng quát to hơn:

– BẮN TÊN!!!

Thiên Hoàng bế thi thể của vương hậu trên tay, đứng dậy, từ từ bước đến gần ngai vàng.

– Ta là kẻ đã thiết kế cỗ máy sát nhân này… Một khi có ta ở đây, cỗ máy chỉ nhận ra giọng của ta chứ không nhận ra giọng của ngươi.

Thiên Hoàng đặt thi thể của vương hậu lên bàn. Điểu vương run cầm cập, mông dính chặt vào ngai vàng, không dám bước ra.

– Bằng cách nào ngươi giả mạo được thể phượng hoàng! Nói!

Điểu vương vừa run vừa lắc đầu. Thiên Hoàng thở dài chép miệng:

– Tội giả mạo của ngươi, sớm muộn gì cũng sẽ được ban chết! Nếu ngươi khai ra kẻ nào hướng dẫn ngươi, ta sẽ để ngai báu này cho con trai ngươi, giữ lại cho ngươi chút danh tiếng… Nếu không… hãy nhớ đến những việc ngươi đã làm với con trai của Minh Hoàng.

Điểu vương giọng lẩy bẩy:

– Ta… ta được tể tướng của Dã quốc bày mưu… Hắn tinh thông nhiều tà thuật… Hắn dạy ta đào xương cốt của Điểu vương các đời, hấp thụ khí thiêng của họ để hình thành thể phượng hoàng. Ta nhờ thế mà khỏe lên, cũng nhờ thế mà có thể phượng hoàng…

Thiên Hoàng gằn giọng:

– Tể tướng của Dã quốc ư? Đào xương cốt của Điểu vương các đời lên ư? Hấp thụ linh khí ư?

Thiên Hoàng nhắm mắt lại để nén cơn giận xuống ngực. Cả người chàng bốc lửa.

– Ta nói cho ngươi biết… – Thiên Hoàng mở bừng mắt – Ngươi không thể đẻ được một người con thể phượng hoàng! Thế tử là con trai ta! Ha ha ha ha ha ha…

Uỳnh! Một tiếng nổ lớn vang trời. Lửa bừng bừng cháy! Tiếng kêu rên của Điểu vương bị lửa nuốt trọn. Lửa ôm xác của vương hậu vào lòng. Lửa lay đổ những bức tường cẩm thạch. Cả ngọn núi như rung chuyển. Thiên Hoàng biến thành một con phượng hoàng lửa phá hủy tất cả những gì xung quanh.

Hà Thủy Nguyên

Đọc các chương của Long Điểu truyện tại đâyhttps://hathuynguyen.com/tag/long-dieu-truyen/