Home Dịch thuật Dịch thơ Kim đồng tiên nhân từ Hán ca tịnh tự – Lý Hạ

Kim đồng tiên nhân từ Hán ca tịnh tự – Lý Hạ

Bản dịch của Hà Thủy Nguyên:

Mậu Lăng chàng Lưu về trong gió (*)
Đêm vang ngựa hí sớm bặt tăm
Tường tranh gốc quế hương thu lẩn
Băm sáu cung xưa rêu phủ sân
Quan Ngụy xe thúc nơi ngàn dặm
Cửa đông gió gắt mắt xạ nhân (**)
Phòng trống tiễn trăng cung Hán biệt
Nhớ vua thánh thót giọt lệ chì (***).
Hàm Dương lan gầy tiễn khách đi
Trời vô tình quá già chẳng biết (****)
Bưng mâm lẻ bước nguyệt vắng tanh
Xa xăm sóng vỗ chốn Vị thành.

(*) Tức Hán Vũ Đế Lưu Triệt, vị vua vĩ đại nhất của triều Hán. Khi mất, ông được chôn ở Mậu Lăng (nay thuộc Tây An, Trung Quốc). Theo truyền thuyết, hàng đêm người ta vẫn nghe thấy tiếng ngựa của Hán Vũ Đế hí trong Mậu lăng.
(**) Tức người bắn cung.
(***) Câu thơ này ý nhắc đến tích: Tháng tám, năm Thanh Long nguyên niên đời Nguỵ Minh Đế Tào Duệ, vua hạ chiếu sai người đem tượng tiên đồng cầm mâm vàng hứng sương của Hán Vũ Đế, về đặt trước cung điện. Không ngờ, mâm bị gãy khi xe kéo tượng đi, bất chợt tượng tiên đồng ngậm ngùi nhỏ lệ.
(****) Phiên âm Hán Việt là “Thiên nhược hữu tình thiên diệc lão”, có nghĩa là “Ông trời mà hữu tình thì ông trời đã già đi rồi”. “Liệu hoa châu nhàn lục” cho biết đây là thần cú, không ai có thể đối được. Chỉ đến thời Tống, nhà Nho Thạch Diên Niên mới đối được bằng câu “Nguyệt như vô hận nguyệt thường viên”, nghĩa là “Trăng dường như không đau buồn nên trăng vẫn tròn”.

Bản phiên âm Hán Việt:

Mậu Lăng Lưu lang thu phong khách,
Dạ văn mã tê hiểu vô tích.
Hoạ lan quế thụ huyền thu hương,
Tam thập lục cung thổ hoa bích.
Nguỵ quan khiên xa chỉ thiên lý,
Đông quan toan phong xạ mâu tỷ (tử).
Không tương Hán nguyệt xuất cung môn,
Ức quân thanh lệ như duyên thuỷ.
Suy lan tống khách Hàm Dương đạo,
Thiên nhược hữu tình thiên diệc lão.
Huề bàn độc xuất nguyệt hoang lương,
Vị thành dĩ viễn thanh ba tiểu.

*Tranh minh họa bằng AI trên Pinterest

 

Thái liên khúc – Lý Bạch

Bản dịch của Hà Thủy Nguyên Kỳ 1: Mỹ nhân hái sen suối Nhược Da (*) Nói cười tiếng ngọc lẩn trong hoa Đáy nước long lanh tia nắng rọi Gió lùa tay áo phất hương xa Kỳ 2: Dăm ba gã trẻ nhà ai đó Ven bờ dạo bước liễu buông tơ (**) Ngựa tía dẫm hoa vang tiếng hí Đau thương trông cảnh luống ngẩn ngơ Bản Hán Việt Kỳ 1 Nhược Da khê bàng thái liên nữ, Tiếu cách hà hoa cộng

Hiệp khách hành – Lý Bạch

Khách Triệu dải mũ lay Gươm Ngô sương tuyết rọi (*) Bạch mã yên ánh bạc, Lấp loáng tựa sao bay. Mười bước thêm kẻ chết, Vạn dặm làm chi đây. (**) Việc xong bèn phất áo Ẩn kín thân danh này. Nhàn đến Tín Lăng chơi, Buông kiếm nhập cuộc say. Chu Hơi này chả nướng Hầu Doanh chén rượu đây. Ba chén cạn xá chi Ngũ Nhạc nhẹ như mây. Tai bập bùng hoa mắt, Ý khí sắc tỏa dày. Chùy vàng vung

Khúc Giang – Đỗ Phủ

Kỳ 1 Một mảnh hoa bay xuân đã phai Gió bay vạn nẻo khách sầu ai Tàn hoa cứ ngắm cho lòng thỏa Say rượu chớ từ kẻo đau hoài Trên sông nhà nhỏ chim làm tổ Bên vườn mả cũ ngựa nằm dài Ngẫm đời phải lẽ nên hành lạc Cớ gì danh lợi vướng thân đây.   Kỳ 2 Mang áo xong chầu vội về ngay Đầu sông ngày ngày thỏa trân say Tiền rượu nợ nần ai mà chẳng Cõi đời thất

Lậu thất minh – Lưu Vũ Tích

Núi nào bởi cao, tiên ở thành danh Nước nào tại sâu, rồng ngụ mà linh Gian nhà quê mùa, đức vang tiếng lành Biếc thềm vệt rêu phủ, rèm thưa cỏ chìm xanh Bậc túc nho cười nói, phường tục tử bặt thanh Khẽ gảy cây đàn mộc, tụng Kim cang Chẳng đàn sáo để bận tai, không án thư mà nhọc mình Nam Dương có lều cỏ, Tây Thục có nguyên đình (*) Khổng Tử hỏi: “Có chi mà quê mùa?” Hà Thủy

Thanh Minh – Đỗ Mục

Thanh minh mưa phủ bụi giăng giăng Dặm vắng người đi muốn xót lòng Tửu quán chốn nao xin gặng hỏi? Hạnh Hoa làng ấy trẻ trỏ đường. Hà Thủy Nguyên dịch Bản Hán Việt: Thanh minh thời tiết vũ phân phân, Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn. Tá vấn tửu gia hà xứ hữu? Mục đồng dao chỉ Hạnh Hoa thôn.