Home Dịch thuật Dịch thơ Bắc phong hành – Lý Bạch

Bắc phong hành – Lý Bạch

Hôm qua mình dịch Yên ca hành bài Thu phong của Tào Phi, rồi chợt nhớ ra bài Bắc phong hành của Lý Bạch, cũng là thể tài chinh phụ. Bài này có mấy bản dịch, nhưng các bản dịch đều biến bài hành này thành nhịp điệu thơ thất ngôn, làm sai đi tính hiện thực khắc nghiệt của bài thơ. Vẻ đẹp của bài thơ không phải ở câu thơ chau chuốt bóng bẩy theo lối Đường thi phổ biến, mà là nỗi đau dữ dội như gió tuyết. Mình thử dịch lại, cố giữ nhịp của điệu hành.

Chúc long thê hàn môn,
Quang diệu do đán khai.
Nhật nguyệt chiếu chi hà bất cập thử,
Duy hữu bắc phong hào nộ thiên thượng lai.
Yên sơn tuyết hoa đại như tịch,
Phiến phiến xuy lạc Hiên Viên đài.
U Châu tư phụ thập nhị nguyệt,
Đình ca bãi tiếu song nga tồi.
Ỷ môn vọng hành nhân,
Niệm quân Trường Thành khổ hàn lương khả ai.
Biệt thời đề kiếm cứu biên khứ,
Di thử hổ văn kim bính cách xoa.
Trung hữu nhất song bạch vũ tiễn,
Tri thù kết võng sinh trần ai.
Tiễn không tại,
Nhân kim chiến tử bất phục hồi.
Bất nhẫn kiến thử vật,
Phần chi dĩ thành khôi.
Hoàng Hà phủng thổ thượng khả tái,
Bắc phong vũ tuyết hận nan tài.

*Bản dịch

Đuốc rồng soi hàn môn *
Ánh trời bừng ngày mới
Nhật nguyệt sao chiếu rọi chốn đây
Chỉ gió bắc trên cao thét gào lui tới
Núi Yên tuyết hoa hồ dệt chiếu
Phấp phới rụng trắng Hiên Viên đài
U Châu cô phụ năm ròng rã
Ngưng tiếng hát cười, nét mày chau
Tựa cửa ngóng chinh phu
Nhớ chàng lưu lạc Trường Thành ôi giá lạnh
Ngày ly biệt chàng vung gươm ải xa
Nay còn đây túi tên đã rỗng
Đâu còn mũi tên lông trắng
Chỉ thấy nhện giăng kết bụi trần
Tên còn đâu
Người nay vùi xác sa trường
Ngắm vật lòng chẳng cam
Đốt thành tro tàn cả
Hoàng Hà có lúc dòng đổi thay
Gió bắc hận tháng năm sao ngừng đây

(*) Trong câu này, tác giả dùng điển tích “chúc long” để ám chỉ ánh sáng của phương bắc xa xôi gió tuyết. Người Trung Quốc xưa quan niệm ở phương bắc lạnh giá không có ánh mặt trời soi sáng mà chỉ có loài chúc long thắp sáng.

Tranh minh họa: Y Xuy Ngũ Nguyệt

Thú thực là vẫn thích không khí trong Yên ca hành của Tào Phi hơn. Dịch bài thơ này là vì có một đoạn viết trong “Thiên địa phong trần” tập 2 có nhắc tới! 😇

Thái liên khúc – Lý Bạch

Bản dịch của Hà Thủy Nguyên Kỳ 1: Mỹ nhân hái sen suối Nhược Da (*) Nói cười tiếng ngọc lẩn trong hoa Đáy nước long lanh tia nắng rọi Gió lùa tay áo phất hương xa Kỳ 2: Dăm ba gã trẻ nhà ai đó Ven bờ dạo bước liễu buông tơ (**) Ngựa tía dẫm hoa vang tiếng hí Đau thương trông cảnh luống ngẩn ngơ Bản Hán Việt Kỳ 1 Nhược Da khê bàng thái liên nữ, Tiếu cách hà hoa cộng

Cổ du du hành – Lý Hạ

Bản dịch của Hà Thủy Nguyên Tà dương trắng núi Tây Ánh biếc trải nơi nơi. Cổ kim vô cùng tận Ngàn năm theo gió trôi. Bãi bờ đà hóa đá Tăm cá động cầu Tần (*) Thời gian như sóng vỗ Đồng trụ cũng tiêu thôi. (*) Cầu đá do Tần Thủy Hoàng xây ở núi Thanh Thành, dài 30 dặm. Bản phiên âm Hán Việt Bạch cảnh quy Tây sơn, Bích hoa thượng thiều thiều. Cổ kim hà xứ tận, Thiên tuế tuỳ

Kim đồng tiên nhân từ Hán ca tịnh tự – Lý Hạ

Bản dịch của Hà Thủy Nguyên: Mậu Lăng chàng Lưu về trong gió (*) Đêm vang ngựa hí sớm bặt tăm Tường tranh gốc quế hương thu lẩn Băm sáu cung xưa rêu phủ sân Quan Ngụy xe thúc nơi ngàn dặm Cửa đông gió gắt mắt xạ nhân (**) Phòng trống tiễn trăng cung Hán biệt Nhớ vua thánh thót giọt lệ chì (***). Hàm Dương lan gầy tiễn khách đi Trời vô tình quá già chẳng biết (****) Bưng mâm lẻ bước nguyệt

Khúc Giang – Đỗ Phủ

Kỳ 1 Một mảnh hoa bay xuân đã phai Gió bay vạn nẻo khách sầu ai Tàn hoa cứ ngắm cho lòng thỏa Say rượu chớ từ kẻo đau hoài Trên sông nhà nhỏ chim làm tổ Bên vườn mả cũ ngựa nằm dài Ngẫm đời phải lẽ nên hành lạc Cớ gì danh lợi vướng thân đây.   Kỳ 2 Mang áo xong chầu vội về ngay Đầu sông ngày ngày thỏa trân say Tiền rượu nợ nần ai mà chẳng Cõi đời thất

Lậu thất minh – Lưu Vũ Tích

Núi nào bởi cao, tiên ở thành danh Nước nào tại sâu, rồng ngụ mà linh Gian nhà quê mùa, đức vang tiếng lành Biếc thềm vệt rêu phủ, rèm thưa cỏ chìm xanh Bậc túc nho cười nói, phường tục tử bặt thanh Khẽ gảy cây đàn mộc, tụng Kim cang Chẳng đàn sáo để bận tai, không án thư mà nhọc mình Nam Dương có lều cỏ, Tây Thục có nguyên đình (*) Khổng Tử hỏi: “Có chi mà quê mùa?” Hà Thủy