Home Bình Luận Văn hóa đại chúng và dân trí #3: “Con đường gian nan vạn dặm” ở Việt Nam

Văn hóa đại chúng và dân trí #3: “Con đường gian nan vạn dặm” ở Việt Nam

Khi suy nghĩ về mối quan hệ giữa văn hóa đại chúng và dân trí, tôi thường nhớ đến nhan đề cuốn sách “Đọc sách – Con đường gian nan vạn dặm” của tác giả Nguyễn Quốc Vương. Cuốn sách bàn trực tiếp đến văn hóa đọc,  nhưng tôi vẫn xin được mượn cụm từ “gian nan vạn dặm” để mô tả toàn bộ hành trình nâng cao dân trí trong xã hội Việt Nam đương đại. Sự gian nan ấy bắt nguồn từ chính bản chất của quá trình nâng cao dân trí. Nếu văn hóa đại chúng thường vận hành theo chiều hướng tối ưu hóa sự tiếp nhận, giảm thiểu những trở ngại nhận thức và tạo điều kiện cho thông tin lan truyền nhanh nhất có thể, thì nâng cao dân trí lại là một quá trình gần như ngược lại. Nó đòi hỏi con người chấp nhận đi chậm hơn, suy nghĩ sâu hơn, chịu đựng sự phức tạp lâu hơn và liên tục đối diện với những giới hạn của chính mình. Ít ai tự nhiên muốn đọc một cuốn sách khó thay vì xem một đoạn video ngắn dễ hiểu hơn. Cũng chẳng mấy ai tự nhiên muốn dành nhiều năm để theo đuổi một lĩnh vực tri thức trong khi có thể thu nhận những kết luận đã được tóm tắt chỉ trong vài phút. Càng hiếm hơn những người tự nhiên muốn liên tục nghi ngờ những điều mình đang tin tưởng. Chính vì vậy, nâng cao dân trí không phải là một quá trình thuận theo những xu hướng nhận thức tự nhiên của con người, mà thường là một quá trình vượt lên trên chúng.

Nếu nhìn từ góc độ của Ortega y Gasset, đó cũng chính là nỗ lực vượt lên trên phần “con người đại chúng” trong mỗi cá nhân. Con người đại chúng luôn tồn tại trong tất cả chúng ta: thích những câu trả lời nhanh hơn những câu hỏi khó; thích cảm giác đã hiểu hơn là quá trình học hỏi; thích biểu đạt quan điểm hơn là thay đổi quan điểm. Hoạt động nâng cao dân trí vì thế không phải là cuộc chiến giữa một nhóm người với một nhóm người khác. Nó là cuộc đấu tranh diễn ra trong chính mỗi cá nhân, giữa khát vọng phát triển bản thân và xu hướng bằng lòng với những gì đã có.

Có lẽ vì vậy mà lịch sử nâng cao dân trí ở Việt Nam luôn là lịch sử của những hành trình dài hơn là những chiến dịch ngắn hạn. Từ các phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ, Đông Kinh Nghĩa Thục, các hoạt động xuất bản, dịch thuật, thư viện cộng đồng cho đến các nhóm đọc sách và các cộng đồng học tập ngày nay, những người tham gia vào công việc này đều đối mặt với cùng một thực tế: tri thức không thể được truyền đạt theo cách người ta phân phối hàng hóa. Nó chỉ thực sự phát huy tác dụng khi người tiếp nhận tự nguyện bước vào một quá trình chuyển hóa bản thân. 

Tìm hiểu thêm về sách: Sự trỗi dậy của đại chúng – José Ortega y Gasset – Book Hunter Lyceum

Thế lưỡng nan của trí thức Việt Nam

Tại Việt Nam, những nền móng đầu tiên của văn hóa đại chúng hiện đại bắt đầu xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX cùng với sự phát triển của chữ Quốc ngữ và báo chí, xuất bản. Lần đầu tiên trong lịch sử, các ý tưởng, thông tin và quan điểm có thể được lưu thông với quy mô vượt ra khỏi phạm vi làng xã, dòng họ hay các cộng đồng trí giả truyền thống. Một không gian công cộng mới dần hình thành, nơi ngày càng nhiều người có thể tiếp cận cùng một nguồn thông tin, cùng đọc những câu chuyện giống nhau và cùng tham gia vào những cuộc thảo luận chung của xã hội.

Những phương tiện truyền thông mới này đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đưa các tri thức hiện đại từ phương Tây vào Việt Nam. Các khái niệm về khoa học, dân quyền, quốc gia, giáo dục, kinh tế, kỹ thuật và tổ chức xã hội được giới thiệu thông qua báo chí, sách dịch và các hoạt động xuất bản. Đối với nhiều người Việt Nam lúc bấy giờ, đây là lần đầu tiên họ được tiếp xúc với một thế giới quan khác với hệ tư tưởng Nho học vốn thống trị trong nhiều thế kỷ trước đó. Tuy nhiên, báo chí và xuất bản không chỉ là công cụ truyền bá tri thức. Chúng còn trở thành kênh biểu đạt của một tầng lớp xã hội mới đang hình thành: những người được giáo dục theo mô hình hiện đại, biết chữ Quốc ngữ, tiếp xúc với tư tưởng phương Tây và mong muốn tham gia vào đời sống công cộng. Thông qua các bài báo, tiểu thuyết, tạp chí hay các cuộc tranh luận học thuật, họ không chỉ tiếp nhận những giá trị mới mà còn chủ động tái diễn giải và truyền bá chúng cho xã hội. Đồng thời, việc đọc báo, mua sách và tiếp cận các sản phẩm xuất bản cũng nhanh chóng trở thành một biểu hiện của địa vị xã hội. Trong bối cảnh xã hội thuộc địa đang biến đổi mạnh mẽ, khả năng tiếp cận những phương tiện truyền thông hiện đại không chỉ mang ý nghĩa nhận thức mà còn mang ý nghĩa biểu tượng. Nó cho thấy một người thuộc về thế giới mới đang hình thành, một thế giới của đô thị, của giáo dục hiện đại và của những khát vọng đổi thay xã hội. Theo nghĩa đó, báo chí và xuất bản vừa là công cụ nâng cao dân trí, vừa là những thành tố đầu tiên của nền văn hóa đại chúng Việt Nam.

Cũng chính báo chí và xuất bản đã trở thành mảnh đất nảy nở của phong trào yêu nước Việt Nam trong những thập niên đầu thế kỷ XX. Trước khi các tổ chức chính trị hiện đại xuất hiện và phát triển, chính những tờ báo, nhà xuất bản, hiệu sách, sân khấu kịch…đã tạo ra không gian để những ý tưởng mới về dân tộc, quốc gia và vận mệnh đất nước được lan truyền trong xã hội. Thông qua báo chí, người Việt lần đầu tiên được tiếp xúc một cách hệ thống với những câu chuyện về công cuộc hiện đại hóa của Nhật Bản, phong trào cải cách ở Trung Quốc, các tư tưởng dân chủ và những biến chuyển của thế giới đương thời. Những khái niệm như tự cường, dân quyền, quốc dân, độc lập hay cải cách xã hội không chỉ được giới thiệu như những tri thức mới, mà còn dần trở thành những lý tưởng có khả năng huy động hành động tập thể.

Điều đáng chú ý là nhiều nhân vật tiêu biểu của phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX đồng thời cũng là những người hoạt động báo chí, xuất bản hoặc giáo dục. Từ Phạm Quỳnh, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh cho đến các nhà hoạt động của Đông Kinh Nghĩa Thục, họ đều hiểu rằng muốn thay đổi vận mệnh quốc gia trước hết phải thay đổi nhận thức của công chúng. Vì vậy, công cuộc cứu nước trong thời kỳ này thường gắn liền với những khẩu hiệu như “khai dân trí”, “chấn dân khí” và “hậu dân sinh”. Việc phổ biến tri thức không chỉ được xem là một hoạt động phụ trợ cho phong trào yêu nước, mà là điều kiện tiên quyết để phong trào ấy có thể tồn tại. Tuy nhiên, nghịch lý là, trong khi một bộ phận nhỏ trí thức, nhà báo, nhà giáo dục và những người được tiếp xúc với nền học vấn mới có thể nhanh chóng tiếp nhận các tư tưởng hiện đại từ phương Tây, thì đại đa số người dân vẫn sống trong lũy tre làng: không đọc báo, không tiếp cận sách vở, không tham gia các cuộc tranh luận về dân quyền, quốc gia hay cải cách xã hội. Phần lớn thời gian và năng lượng của họ được dành cho việc mưu sinh trong một đời sống còn nhiều thiếu thốn và bất ổn. Đối với những người dân ấy, các khái niệm như dân chủ, quốc dân, tự do, khoa học hay hiện đại hóa không chỉ xa lạ về mặt ngôn ngữ mà còn xa lạ về mặt trải nghiệm sống. Một người đang vật lộn với mùa màng, thuế khóa, thiên tai hay miếng cơm hàng ngày khó có thể ngay lập tức quan tâm đến những cuộc tranh luận về tương lai của quốc gia hay những mô hình chính trị đang được thảo luận trên báo chí. Khoảng cách giữa tầng lớp trí thức và quảng đại quần chúng vì thế lớn hơn rất nhiều so với những gì các văn bản lịch sử thường cho thấy.

Có lẽ đây cũng là lý do khiến nhiều nhà cải cách thời bấy giờ sớm nhận ra rằng việc truyền bá các tư tưởng lớn không thể là điểm khởi đầu của công cuộc nâng cao dân trí. Trước khi nói đến dân quyền hay quốc gia, người dân phải biết đọc. Trước khi nói đến khoa học, họ phải có cơ hội tiếp cận giáo dục cơ bản. Trước khi nói đến những lý tưởng chính trị cao xa, họ phải được trang bị những kỹ năng tối thiểu để tham gia vào đời sống xã hội hiện đại. Chính vì vậy mà các hoạt động khai dân trí ở Việt Nam thời kỳ này thường bắt đầu từ những việc rất đơn giản: mở trường học, phổ biến chữ Quốc ngữ, xuất bản sách giáo khoa, dịch thuật các tài liệu phổ thông và xây dựng những thói quen học tập mới.

Theo nghĩa đó, những người có học của Việt Nam đầu thế kỷ XX vừa mang trong mình những khát vọng cải cách lớn lao, vừa phải đối diện với một thực tế khiêm tốn. Họ không thể nhảy cóc từ một xã hội có tỷ lệ mù chữ rất cao sang một xã hội của những công dân hiện đại chỉ bằng vài khẩu hiệu hay vài bài diễn thuyết. Con đường nâng cao dân trí buộc phải đi từ những bước nhỏ nhất. Chính vì thế, nhiều công việc mà ngày nay chúng ta xem là hiển nhiên: học chữ, đọc sách, tiếp cận kiến thức phổ thông, hình thành thói quen tự học… từng là những nhiệm vụ trung tâm của cả một thế hệ những người làm giáo dục và khai hóa xã hội. Tình thế ấy đặt người có học ở Việt Nam đầu thế kỷ XX trước hai nhiệm vụ gần như trái chiều. Một mặt, họ có thể tiếp tục đi theo con đường truy cầu những giá trị cao hơn của tri thức, đào sâu vào các hệ tư tưởng, học thuyết và thành tựu tinh hoa mà họ mới tiếp nhận từ phương Tây. Mặt khác, họ phải đối diện với một thực tế xã hội rộng lớn hơn: đại đa số người dân vẫn mù chữ, nghèo khổ và xa lạ với chính những khái niệm mà tầng lớp trí thức đang sử dụng để hình dung về tương lai đất nước.

Trong hoàn cảnh ấy, tri thức không thể chỉ tồn tại như tài sản của một thiểu số có học. Nó buộc phải được chuyển hóa thành những hình thức đơn giản hơn, dễ tiếp cận hơn, có khả năng đi vào đời sống của quần chúng lao động. Người trí thức vì thế không chỉ là người học hỏi và sáng tạo tri thức, mà còn phải trở thành người diễn giải, phổ biến và đại chúng hóa tri thức. Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn rất rõ ràng vị trí đứng về phía quần chúng cần lao, và từ đó xem văn hóa như một mặt trận quan trọng của cách mạng xã hội. Trong “Đề cương về văn hóa Việt Nam” năm 1943, do Tổng bí thư Trường Chinh soạn thảo, văn hóa được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với cách mạng, với ba nguyên tắc nền tảng là dân tộc hóa, khoa học hóa và đại chúng hóa. Văn kiện này về sau thường được xem như cương lĩnh đầu tiên của Đảng về văn hóa, có ảnh hưởng lâu dài đến đường hướng phát triển văn hóa Việt Nam hiện đại. Nói cách khác, từ rất sớm, đường hướng văn hóa cách mạng ở Việt Nam đã không đặt trọng tâm vào việc giữ lại một nền văn hóa tinh hoa tách biệt với quần chúng, mà đặt trọng tâm vào việc đưa văn hóa đến với số đông, biến văn hóa thành công cụ tổ chức, giáo dục và huy động quần chúng. Theo nghĩa này, có thể nói Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn văn hóa đại chúng hay chính xác hơn, văn hóa hướng tới đại chúng làm trung tâm của dự án phát triển văn hóa. Lựa chọn ấy có sức mạnh lịch sử rất lớn, bởi nó giúp tri thức, chữ viết, lý tưởng và ý thức chính trị lan tỏa tới những tầng lớp trước đó gần như đứng ngoài đời sống tri thức. Nhưng nó tạo ra một thách thức: khi văn hóa lấy đại chúng làm trung tâm, thì vấn đề nằm ở chỗ để tri thức đến với quần chúng, quá trình đại chúng hóa tri thức xuống buộc phải diễn ra. 

Như đã phân tích trong bài viết trước, việc tiếp cận tri thức thông qua những mảnh vụn luôn mang theo những giới hạn của nó. Khi tri thức bị tách khỏi hệ thống khái niệm, phương pháp tư duy và bối cảnh đã sản sinh ra nó, người tiếp nhận có thể nắm bắt được một số kết luận nhưng không thực sự hiểu được con đường dẫn đến những kết luận ấy. Điều được tiếp thu khi đó không phải là một cấu trúc nhận thức hoàn chỉnh mà chỉ là những mảnh ghép rời rạc của hiểu biết. Hệ quả của quá trình này là sự hình thành của một kiểu nhận thức bề mặt. Con người biết đến nhiều khái niệm hơn, tiếp xúc với nhiều quan điểm hơn, nhưng khả năng kết nối chúng thành một chỉnh thể lại không tăng lên tương ứng. Họ có thể thuộc lòng những kết luận mà không hiểu phương pháp khoa học, có thể sử dụng những thuật ngữ của triết học mà không trải qua quá trình tư duy triết học, có thể nhắc lại những khẩu hiệu của chính trị hay giáo dục mà không hiểu những điều kiện lịch sử và xã hội đã tạo ra chúng. Nguy hiểm hơn, sự tiếp nhận bề mặt ấy thường đi kèm với một cảm giác hiểu biết. Khi chỉ nhìn thấy phần nổi của tri thức, con người dễ nhầm lẫn giữa sự quen thuộc và sự hiểu. Họ tưởng rằng mình đã nắm được bản chất của một vấn đề chỉ vì đã tiếp xúc với những mảnh thông tin liên quan đến vấn đề đó. Chính từ đây xuất hiện xu hướng mà Ortega y Gasset từng cảnh báo: con người lấy phạm vi hiểu biết hiện có của mình làm tiêu chuẩn để đánh giá thế giới. Thay vì xem tri thức là một lời mời gọi tiếp tục học hỏi, họ xem những gì mình đã biết như một cơ sở đủ đầy để đưa ra phán xét. 

Nếu nhìn từ góc độ dân trí, đây là một thách thức nghiêm trọng hơn nhiều so với tình trạng thiếu thông tin. Một người biết rằng mình không biết vẫn còn khả năng học hỏi, nhưng một người tin rằng mình đã hiểu trong khi thực tế chỉ nắm được những mảnh vụn của hiểu biết lại rất khó bước tiếp trên con đường nhận thức. Bởi điều ngăn cản họ không phải là sự thiếu hụt tri thức, mà là ảo tưởng về sự đầy đủ của tri thức. Có lẽ đây là một trong những nghịch lý lớn nhất của xã hội truyền thông hiện đại: càng nhiều tri thức được đại chúng hóa, xã hội càng có cơ hội mở rộng dân trí, nhưng nếu quá trình đại chúng hóa chỉ dừng lại ở việc phân phối các mảnh vụn tri thức mà không đồng thời xây dựng những năng lực tiếp nhận tương ứng, thì điều được mở rộng không hẳn là dân trí, mà đôi khi chỉ là cảm giác rằng dân trí đã được nâng cao.

Trước thực trạng ấy, nhiều thế hệ trí thức Việt Nam thường đặt kỳ vọng vào giáo dục như con đường cốt yếu để nâng cao dân trí. Kỳ vọng này hoàn toàn dễ hiểu. Nếu dân trí là năng lực tiếp nhận, tổ chức và chuyển hóa tri thức, thì trường học dường như là thiết chế được tạo ra chính để thực hiện nhiệm vụ ấy. Từ các nhà cải cách đầu thế kỷ XX cho đến các nhà hoạch định chính sách giáo dục ngày nay, niềm tin rằng giáo dục có thể thay đổi chất lượng nhận thức của xã hội vẫn luôn là một trong những niềm tin mạnh mẽ nhất. Tuy nhiên, thực tế lại phức tạp hơn nhiều. Trường học không tồn tại bên ngoài xã hội để có thể đứng ở một vị trí độc lập mà cải tạo xã hội. Trái lại, trường học luôn nằm bên trong môi trường văn hóa của thời đại mình. Nó chịu ảnh hưởng của cùng những áp lực kinh tế, truyền thông, tâm lý xã hội và những hệ giá trị đang chi phối đời sống công cộng. Nếu văn hóa đại chúng là môi trường sống của con người hiện đại, thì trường học cũng là một bộ phận của môi trường ấy.

Một trong những giới hạn của giáo dục phổ thông hiện đại nằm ở chính tính chất đại chúng của nó. Để có thể phục vụ số lượng lớn học sinh, sinh viên với những năng lực, hoàn cảnh và nhu cầu rất khác nhau, hệ thống giáo dục buộc phải xây dựng các chương trình chung, các tiêu chuẩn chung và các phương pháp truyền đạt có khả năng tiếp cận được với đa số. Điều này giúp mở rộng cơ hội học tập, nhưng đồng thời cũng khiến việc theo đuổi tri thức như một giá trị tự thân trở nên khó khăn hơn. Khi giáo dục phải phục vụ đại chúng, nó luôn đứng trước áp lực phải đơn giản hóa. Vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn khi quá trình đơn giản hóa ấy không đi kèm với những không gian cho sự đào sâu và cá nhân hóa. Nếu mục tiêu chỉ là giúp số đông tiếp cận được nội dung học tập, thì giáo dục rất dễ rơi vào cùng lộ trình với văn hóa đại chúng: ưu tiên khả năng tiếp nhận hơn là chiều sâu nhận thức, ưu tiên kết quả đo lường được hơn là quá trình chuyển hóa bên trong của người học. Trong trường hợp đó, trường học không còn đóng vai trò như một không gian giúp con người vượt lên trên những giới hạn của con người đại chúng, mà dần hòa lẫn vào chính môi trường văn hóa đại chúng đang bao quanh nó.

Điều này cũng có nghĩa rằng học sinh không bước vào trường học như những chủ thể thuần túy của giáo dục. Họ bước vào đó với tất cả những đặc điểm của con người đại chúng mà xã hội đã hình thành trong họ từ trước. Họ mang theo những thói quen tiếp nhận ngắn hạn, những nhu cầu biểu đạt bản thân, những ảnh hưởng từ truyền thông và những tiêu chuẩn thành công được kiến tạo bởi môi trường văn hóa xung quanh. Giáo viên cũng không đứng ngoài tình trạng ấy. Nhà trường vì thế trở thành nơi gặp gỡ giữa giáo dục và văn hóa đại chúng, chứ không phải một pháo đài tách biệt khỏi văn hóa đại chúng. Có lẽ đây là lý do khiến việc nâng cao dân trí không thể được giao phó hoàn toàn cho trường học. Một nền dân trí trưởng thành không chỉ cần những chương trình giáo dục tốt, mà còn cần những không gian văn hóa cho phép con người tiếp tục học tập sau khi rời khỏi lớp học. Nếu toàn bộ đời sống xã hội vận hành trong sự thúc đẩy tiêu thụ nhanh chóng, thì những gì trường học cố gắng xây dựng trong nhiều năm có thể nhanh chóng bị bào mòn bởi môi trường văn hóa mà người học quay trở lại mỗi ngày.

> Đọc đầy đủ chùm bài: văn hóa đại chúng & dân trí Archives – Hà Thuỷ Nguyên 

Hoạt động nâng cao dân trí và cuộc chiến truyền thông

Nhận thức dù rõ ràng hay mơ hồ về những giới hạn của trường học đã khiến nhiều trí thức Việt Nam tìm kiếm những con đường khác để đeo đuổi công cuộc nâng cao dân trí. Nếu nhà trường không thể một mình gánh vác nhiệm vụ này, thì xã hội cần phải tạo ra thêm những không gian tri thức khác, nơi con người có thể tiếp tục học hỏi, tranh luận và tự giáo dục sau khi rời khỏi lớp học. Từ đó, hoạt động nâng cao dân trí dần mở rộng từ phạm vi giáo dục chính quy sang không gian dân sự. 

Bước sang thế kỷ XXI, xu hướng này ngày càng trở nên rõ nét. Nhiều dự án văn hóa và giáo dục được hình thành không phải từ các cơ quan quản lý nhà nước hay hệ thống trường học, mà từ sáng kiến của các nhóm trí thức, các cộng đồng đọc sách và những cá nhân quan tâm đến đời sống tinh thần của xã hội. Có thể kể đến nỗ lực xuất bản các tác phẩm kinh điển và học thuật của Nhà xuất bản Tri Thức; các phong trào phát triển văn hóa đọc; dự án Sách hóa Nông thôn; các thư viện cộng đồng; các nhóm nghiên cứu độc lập; các diễn đàn trao đổi học thuật và rất nhiều sáng kiến khác xuất hiện trong không gian dân sự. Điều đáng chú ý là phần lớn các hoạt động này không trực tiếp cạnh tranh với trường học. Chúng xuất hiện để bổ sung cho những điều mà giáo dục phổ thông khó có thể thực hiện. Nếu nhà trường tập trung vào việc phổ cập những năng lực nền tảng cho số đông, thì các không gian dân sự lại cố gắng tạo điều kiện cho sự đào sâu, sự tự học và sự phát triển những nhu cầu nhận thức mang tính cá nhân. Chúng không đơn thuần truyền đạt thêm thông tin, mà tìm cách xây dựng những cộng đồng học tập, những thói quen suy tư và những môi trường nơi tri thức có thể được tiếp cận như một giá trị tự thân.

Tuy nhiên, nghịch lý lại tiếp tục nảy sinh. Những người tham gia vào các hoạt động nâng cao dân trí thường phải hoạt động trong cùng một môi trường văn hóa đại chúng mà họ muốn vượt lên trên. Họ vẫn phải sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng, vẫn phải cạnh tranh với vô số nội dung giải trí, vẫn phải tìm cách thu hút sự chú ý trong một nền kinh tế chú ý ngày càng khốc liệt. Điều này khiến công cuộc nâng cao dân trí luôn đứng trước nan đề: làm thế nào để đưa con người đến với những giá trị sâu sắc hơn mà không bị cuốn hoàn toàn vào vòng xoáy đơn giản hóa và tiêu thụ nhanh chóng. Thực tế thì, những nỗ lực như Nhà xuất bản Tri Thức, Sách hóa Nông thôn, các cộng đồng đọc sách hay những dự án như Book Hunter của chúng tôi không chỉ đơn thuần là các hoạt động văn hóa. Chúng là những thử nghiệm xã hội nhằm tạo ra các không gian mà ở đó con người có thể tạm thời bước ra khỏi nhịp điệu của văn hóa đại chúng để xây dựng những năng lực nhận thức khác. Thành công của những hoạt động ấy không nằm ở số lượng thông tin được phổ biến, mà ở khả năng giúp một bộ phận công chúng hình thành thói quen tự học, năng lực phản tư và khát vọng tiếp tục vươn lên trong đời sống tinh thần. Nhưng, các hoạt động nâng cao dân trí trong không gian dân sự buộc phải đối mặt với một thách thức về sự lan tỏa trong môi trường truyền thông đại chúng, đặc biệt là trên mạng xã hội. Khi sự chú ý trở thành nguồn tài nguyên khan hiếm nhất thì tri thức gần như luôn ở vào thế bất lợi. Một nội dung giải trí hấp dẫn có thể được tiếp nhận ngay lập tức, nhưng một nội dung tri thức đòi hỏi người tiếp nhận phải dừng lại, suy nghĩ và đầu tư nỗ lực nhận thức. Hai loại nội dung này vận hành theo những cách thức hoàn toàn khác nhau. Vì vậy, nhiều người làm giáo dục và hoạt động văn hóa thường đứng trước một cám dỗ: làm cho tri thức trở nên hấp dẫn hơn bằng cách vay mượn những phương thức của giải trí. Ở một mức độ nhất định, điều này là cần thiết. Một bài giảng dễ hiểu, một cuốn sách được trình bày sinh động hay một video được kể chuyện lôi cuốn đều có thể giúp công chúng bước những bước đầu tiên đến với một lĩnh vực tri thức mới. Việc truyền cảm hứng là một phần quan trọng của giáo dục. Nhưng truyền cảm hứng không phải là truyền đạt tri thức. Đây là hai hoạt động khác nhau. Người ta có thể khiến một đứa trẻ yêu thích thiên văn học bằng một bộ phim khoa học hấp dẫn, nhưng không thể học thiên văn học chỉ bằng việc xem bộ phim đó. Người ta có thể khiến công chúng quan tâm đến triết học thông qua những câu chuyện thú vị, nhưng không thể thay thế việc đọc, suy ngẫm và tranh luận bằng những câu chuyện ấy. “Học mà chơi, chơi mà học” có thể là cánh cửa dẫn vào thế giới tri thức, nhưng nó không phải là bản thân thế giới tri thức. 

Tri thức thực sự luôn đòi hỏi một mức độ nghiêm túc nhất định. Không phải vì tri thức thích sự khô khan hay xa rời đời sống, mà vì hiểu biết sâu sắc luôn yêu cầu con người phải thực hiện những công việc mà giải trí không thể làm thay: tập trung trong thời gian dài, chấp nhận sự phức tạp, đối diện với những điều khó hiểu, chịu đựng sự chậm chạp của quá trình học tập và liên tục điều chỉnh những gì mình đã tin tưởng trước đó. Đây là những hoạt động có tính chuyển hóa bản thân, trong khi phần lớn giải trí chỉ hướng đến việc tạo ra trải nghiệm. Có lẽ vì vậy mà các hoạt động nâng cao dân trí luôn phải chấp nhận một giới hạn nhất định trong khả năng lan tỏa. Mục tiêu của chúng không phải là cạnh tranh với giải trí trên chính địa hạt của giải trí. Nếu tri thức chỉ có thể tồn tại bằng cách biến mình thành một dạng giải trí khác, thì cuối cùng nó cũng sẽ đánh mất những phẩm chất làm nên giá trị của nó. Công việc của những người làm giáo dục và văn hóa không phải là làm cho mọi người học một cách dễ dàng hơn, mà là giúp nhiều người hơn sẵn sàng bước vào những nỗ lực mà việc học đòi hỏi. Nói theo một cách khác, nâng cao dân trí không phải là làm cho tri thức trở nên nhẹ hơn, mà là giúp con người trở nên mạnh hơn để có thể mang vác được sức nặng của tri thức. Và có lẽ đó cũng là lý do vì sao công việc này luôn chậm chạp, khó khăn và hiếm khi tạo ra những kết quả bùng nổ. Nó không thay đổi con người bằng cảm xúc nhất thời, mà bằng sự chuyển hóa kéo dài trong cách họ suy nghĩ, học tập và sống cùng những điều mình biết.

Có lẽ từ đây cần phải tách bạch giữa hai loại hoạt động thường xuyên bị nhầm lẫn với nhau trong các dự án nâng cao dân trí. Loại thứ nhất là hoạt động nâng cao dân trí theo nghĩa thực chất. Đây là công việc xây dựng các không gian tri thức mà ở đó con người có thể học tập, suy ngẫm, tranh luận và từng bước chuyển hóa bản thân thông qua tri thức. Những không gian ấy có thể tồn tại trong trường học, thư viện, các nhóm nghiên cứu, các cộng đồng học tập hay các tổ chức dân sự. Điểm chung của chúng là đều đòi hỏi sự tham gia nghiêm túc, sự đầu tư thời gian và một quá trình rèn luyện lâu dài. Đây là nơi tri thức được tiếp nhận như một hoạt động sống chứ không phải như một loại thông tin tiêu dùng. Loại thứ hai là hoạt động truyền thông về tri thức. Mục tiêu của hoạt động này không phải là chuyển hóa nhận thức mà là mở rộng khả năng tiếp cận, ví dụ như giới thiệu một cuốn sách, quảng bá một ý tưởng, gợi mở một vấn đề hoặc tạo ra sự quan tâm của công chúng đối với một lĩnh vực nào đó… Hoạt động này vô cùng cần thiết bởi nếu không có nó, nhiều người sẽ không bao giờ biết đến sự tồn tại của các không gian tri thức. Nó đóng vai trò như những cánh cửa, những tấm biển chỉ đường hay những lời mời gọi bước vào hành trình học tập.

Vấn đề nảy sinh khi người ta nhầm lẫn cánh cửa với chính ngôi nhà. Truyền thông có thể đưa một người đến trước ngưỡng cửa của tri thức, nhưng không thể thay thế việc bước vào bên trong: một video giới thiệu sách không thể thay thế việc đọc sách, một bài viết tóm tắt triết học không thể thay thế việc học triết học, một cuộc trò chuyện truyền cảm hứng không thể thay thế quá trình tự học kéo dài nhiều năm. Khi hai hoạt động này bị đánh đồng với nhau, người ta rất dễ ngộ nhận rằng sự gia tăng của mức độ tiếp cận đồng nghĩa với sự gia tăng của dân trí. Trong môi trường mạng xã hội hiện nay, sự nhầm lẫn này càng trở nên phổ biến. Các chỉ số về lượt xem, lượt chia sẻ, lượt tương tác hay mức độ lan truyền thường được sử dụng như thước đo cho thành công của các hoạt động tri thức. Nhưng những chỉ số ấy thực chất chỉ phản ánh hiệu quả của hoạt động truyền thông. Chúng cho biết có bao nhiêu người đã nhìn thấy một ý tưởng, chứ không cho biết có bao nhiêu người đã thực sự học tập, suy ngẫm và thay đổi từ ý tưởng đó.

Điều tôi muốn nói không phải là làm giảm giá trị của truyền thông. Ngược lại, truyền thông là điều kiện cần cho mọi hoạt động nâng cao dân trí trong xã hội hiện đại. Nhưng nó không phải là điều kiện đủ. Một xã hội có thể rất thành công trong việc quảng bá tri thức mà vẫn thất bại trong việc xây dựng những cộng đồng tri thức thực sự, một tổ chức có thể tiếp cận hàng triệu người mà vẫn không tạo ra được những chuyển biến sâu sắc trong năng lực nhận thức của công chúng… Đó là thực tế của hoạt động nâng cao dân trí. Vì thế, khi đánh giá các hoạt động nâng cao dân trí, có lẽ cần đặt ra hai câu hỏi khác nhau. Câu hỏi thứ nhất là: có bao nhiêu người đã được tiếp cận? Đó là câu hỏi của truyền thông. Câu hỏi thứ hai là: có bao nhiêu người đã thực sự thay đổi cách suy nghĩ, cách học tập và cách sống của mình? Đó mới là câu hỏi của dân trí. Hai câu hỏi này có liên quan với nhau, nhưng chúng không phải là một.

Hà Thủy Nguyên

*Ảnh minh họa: Nhà văn hóa Phạm Quỳnh, một chí sĩ nỗ lực trong hoạt động nâng cao dân trí ở Việt Nam, tập trung vào tầng lớp tinh hoa đầu thế kỷ 20

Đừng né tránh bệnh thành tích và bất bình đẳng trong trường học bằng những tranh luận vô nghĩa (và xóa trường chuyên không phải là giải pháp)

Viết nhân dịp ra mắt cuốn sách TRƯỜNG HỌC KÉM THÀNH TÍCH do con gái của mình dịch (nhân vật vẫn được gọi bằng bí danh "mẹ trẻ" trên facebook), cùng lúc cộng đồng mạng đang bàn luận say sưa về mâu thuẫn giữa trường chuyên và trường thường. 1/ Đầu tiên... hiểu về trường thường đôi chút nhé! Đầu tiên, ta quay trở lại một chút mô hình trường học. Chúng ta chủ yếu học theo mô hình trường học phổ thông, tức là

KHI VĂN HÓA ĐỌC THIẾU NỀN TẢNG HỌC THUẬT VÀ PHÁP LUẬT

Có lẽ chưa bao giờ văn hóa đọc lại nở rộ như ngày nay, đặc biệt là sự hỗ trợ từ chính quyền và các kênh báo đài chính thống. Không khí tấp nập nhộn nhịp trong các hội trợ sách, các hội thảo sách, các cuộc chạy đường trường cổ vũ phong trào đọc dường như làm sống dậy cái không khí Đông Kinh nghĩa thục: “Buổi diễn thuyết người đông như hội/Kỳ bình văn khách đến như mưa”. Chứng kiến cảnh “trăm hoa

Văn hóa đại chúng và dân trí #1: Sự hình thành con người đại chúng

Mỗi khi xuất hiện một phương tiện truyền thông mới, xã hội lại chứng kiến hai hiện tượng song hành. Một mặt, đó là sự mở rộng chưa từng có của các hình thức giải trí, kể chuyện và chia sẻ trải nghiệm chung giữa những cộng đồng ngày càng đông đảo. Mặt khác, đó cũng là sự xuất hiện của những nỗ lực nhằm mở rộng khả năng tiếp cận tri thức cho công chúng. Nói cách khác, lịch sử của truyền thông cũng

Giáo dục Việt Nam, sai lầm bởi mặc thời đại xô đẩy

Trong 10 năm gần đây, ngành giáo dục tại Việt Nam gặp phải nhiều sự lên án: từ chương trình học nặng nề thiếu thực tế, đến đề thi thiếu tính chuyên môn, sách giáo khoa có nhiều sai phạm, giáo viên ý thức kém… Mới đây, sự việc 231 cái tát lại càng dấy lên sự lo lắng về một nền giáo dục đang còn lạc hậu so với thế giới. Nhiều bài viết đã chỉ ra những điểm yếu kém cũng như đã

Di sản giáo dục của Krishnamurti

Các bậc thầy tâm linh trong dòng lịch sử của nhân loại mỗi khi nhập thế để rồi rời bỏ thế gian, bên cạnh những lời giảng, thường để lại một di sản mang tính hiện thực hóa ý tưởng của họ. Đó có thể là giáo hội, có thể là tăng đoàn, có thể là một phương pháp tu, hay một trại thiền, một làng tâm linh…nhưng Krishnamurti (1895 – 1986), bậc thầy tâm linh độc lập có ảnh hưởng nhất thế kỷ 20