Home Bình Luận Văn hóa đại chúng và dân trí #1: Sự hình thành con người đại chúng

Văn hóa đại chúng và dân trí #1: Sự hình thành con người đại chúng

Mỗi khi xuất hiện một phương tiện truyền thông mới, xã hội lại chứng kiến hai hiện tượng song hành. Một mặt, đó là sự mở rộng chưa từng có của các hình thức giải trí, kể chuyện và chia sẻ trải nghiệm chung giữa những cộng đồng ngày càng đông đảo. Mặt khác, đó cũng là sự xuất hiện của những nỗ lực nhằm mở rộng khả năng tiếp cận tri thức cho công chúng. Nói cách khác, lịch sử của truyền thông cũng đồng thời là lịch sử của văn hóa đại chúng và lịch sử của các phong trào nâng cao dân trí. 

Điều này đặc biệt rõ ràng kể từ khi Johannes Gutenberg hoàn thiện kỹ thuật in bằng con chữ rời vào thế kỷ XV. Máy in không chỉ tạo điều kiện để sách báo được sản xuất với số lượng lớn hơn, chi phí thấp hơn và lưu thông rộng rãi hơn, nó còn tạo ra một nhu cầu hoàn toàn mới: nếu sách có thể đến với mọi người, thì mọi người cũng cần được trang bị khả năng đọc sách. Nếu tri thức có thể được lưu trữ và phổ biến qua chữ viết, thì kỹ năng đọc, viết và tính toán không còn là đặc quyền của giới tăng lữ hay quý tộc mà dần trở thành những năng lực phổ thông cần được phổ cập cho toàn xã hội. Từ đó, sự phát triển của truyền thông đại chúng mặc nhiên đi kèm với những kỳ vọng về sự khai sáng của công chúng. Báo chí, phát thanh, truyền hình hay Internet, mạng xã hội… đều từng được ca ngợi như những công cụ giúp tri thức lan tỏa rộng hơn, nhanh hơn và dân chủ hơn. Nhưng cũng chính những phương tiện ấy đã tạo ra những hình thức văn hóa đại chúng mới, từ tiểu thuyết nhiều kỳ trên báo chí thế kỷ XIX cho đến điện ảnh, truyền hình thực tế, mạng xã hội và video ngắn ngày nay.

Vì vậy, văn hóa đại chúng và dân trí không phải là hai hiện tượng tách biệt hay đối lập nhau. Chúng cùng được nuôi dưỡng từ một hạ tầng truyền thông chung, cùng phát triển theo sự mở rộng của công chúng và thường xuyên tác động qua lại lẫn nhau. Câu hỏi đặt ra không phải là liệu văn hóa đại chúng có đối nghịch với việc nâng cao dân trí hay không, mà là trong những điều kiện nào, văn hóa đại chúng có thể trở thành động lực thúc đẩy dân trí, và trong những điều kiện nào, nó lại trở thành lực cản đối với sự phát triển năng lực nhận thức của công chúng.

Sự hình thành con người đại chúng

Trước khi các cuộc cách mạng tư sản làm biến đổi cấu trúc xã hội châu Âu, rất khó để nói về một thứ gọi là “đại chúng” theo nghĩa hiện đại. Xã hội tiền hiện đại không vận hành dựa trên một công chúng rộng lớn, tương đối bình đẳng về tư cách tiếp nhận thông tin và tham gia vào đời sống văn hóa. Khi ấy, người ta thường phân biệt giữa văn hóa dân gian và văn hóa tinh hoa: văn hóa dân gian gắn với cộng đồng làng xã, với phong tục, truyền thuyết, lễ hội, làn điệu, truyện kể và kinh nghiệm sống được truyền miệng qua nhiều thế hệ; văn hóa tinh hoa lại thuộc về triều đình, nhà thờ, giới quý tộc, học giả và những nhóm có khả năng tiếp cận chữ viết, giáo dục cũng như các thiết chế bảo trợ nghệ thuật. Nhưng văn hóa dân gian không đồng nghĩa với văn hóa đại chúng. Văn hóa dân gian có thể phổ biến trong một cộng đồng, nhưng phạm vi của nó thường mang tính địa phương. Nó gắn với ký ức, thổ nhưỡng, phương ngữ, nghi lễ và nhịp sống của một nhóm người cụ thể. Một truyện cổ, một điệu hát, một lễ hội có thể rất quen thuộc với cư dân của một vùng, nhưng lại xa lạ với cư dân của vùng khác. Tính phổ biến của văn hóa dân gian vì thế là tính phổ biến trong một không gian cộng đồng hữu hạn, chứ chưa phải tính phổ biến trên quy mô xã hội rộng lớn.

Văn hóa đại chúng chỉ thực sự hình thành khi xuất hiện một kiểu công chúng mới: những nhóm dân cư đã bước vào tiến trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, nhiều người biết đọc hơn, di chuyển nhiều hơn, tiếp xúc với thị trường nhiều hơn và được kết nối với nhau thông qua các phương tiện truyền thông. Chính nhóm công chúng này không còn tiếp nhận văn hóa chủ yếu qua truyền khẩu hay nghi lễ địa phương, mà qua sách in, báo chí, nhà hát thương mại, tiểu thuyết đăng kỳ, áp phích, điện ảnh, phát thanh và sau này là truyền hình, Internet… Do đó, văn hóa đại chúng không đơn giản là văn hóa “của số đông” theo nghĩa số lượng. Nó là hình thức văn hóa được sản xuất, phân phối và tiêu thụ trong một xã hội đã có thị trường, truyền thông và công chúng đô thị. Những đặc tính thẩm mỹ của nó cũng được định hình từ môi trường ấy: dễ nhận diện, dễ lan truyền, giàu kịch tính, có khả năng tạo đồng cảm nhanh, có thể vượt qua giới hạn địa phương và được tái sản xuất trên quy mô lớn. Nếu văn hóa dân gian sinh ra từ đời sống cộng đồng truyền thống, thì văn hóa đại chúng sinh ra từ đời sống xã hội hiện đại, nơi công chúng không chỉ sống trong làng xã mà còn sống trong báo chí, thị trường, nhà máy, đô thị và các mạng lưới truyền thông.

Không phải ngẫu nhiên mà sự lan rộng của văn hóa đại chúng diễn ra song hành với sự mở rộng của các công xưởng, các đô thị hiện đại và các mạng lưới truyền thông đại chúng. Cũng như nền sản xuất công nghiệp cần một lực lượng lao động tập trung với những nhịp sống tương đối đồng bộ, văn hóa đại chúng phát triển trên cơ sở một công chúng ngày càng đông đảo, có những trải nghiệm xã hội tương đồng và tiếp nhận cùng những nguồn thông tin. Những người lao động trong các nhà máy, nhân viên trong các văn phòng, cư dân trong các khu đô thị tuy có xuất thân khác nhau nhưng ngày càng chia sẻ những không gian sống, những lịch trình làm việc và những hình thức giải trí giống nhau. Chính điều đó tạo nên nền tảng xã hội cho sự hình thành của một nền văn hóa có khả năng vượt qua các ranh giới địa phương.

Từ góc độ này, văn hóa đại chúng không nên được hiểu đơn thuần là những sản phẩm giải trí được nhiều người yêu thích. Nó là một thành tố cấu thành của tổ hợp sống hiện đại. Cũng như trường học phổ thông, báo chí, giao thông công cộng hay thị trường lao động, văn hóa đại chúng góp phần tạo ra một không gian biểu tượng chung để những cá nhân xa lạ có thể cảm thấy mình thuộc về cùng một xã hội. Những câu chuyện, hình tượng, thần tượng, xu hướng và ký ức tập thể được lưu thông qua văn hóa đại chúng trở thành chất liệu giúp các cộng đồng hiện đại hình dung về chính mình. Chính vì vậy, sự phát triển của văn hóa đại chúng không thể tách rời khỏi tiến trình hiện đại hóa. Nó không phải là một hiện tượng phát sinh bên lề của xã hội công nghiệp mà là một trong những cơ chế văn hóa giúp xã hội công nghiệp vận hành. Khi công xưởng mở rộng quy mô sản xuất, đô thị mở rộng quy mô dân cư và truyền thông mở rộng quy mô kết nối, văn hóa đại chúng cũng mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình, trở thành môi trường văn hóa chung của ngày càng nhiều người.

Từ bối cảnh ấy xuất hiện một kiểu chủ thể xã hội mới mà Ortega y Gasset gọi là “con người đại chúng”. Đây không đơn thuần là một cá nhân thuộc tầng lớp bình dân hay có xuất thân lao động như chúng ta vẫn lầm tưởng mà con người đại chúng có thể xuất hiện ở mọi tầng lớp xã hội. Điều làm nên đặc trưng của họ là việc họ ngày càng sống trong một môi trường được tổ chức bởi các thiết chế hiện đại: trường học phổ thông, báo chí, thị trường tiêu dùng, bộ máy hành chính, các tổ chức chính trị đại chúng và những phương tiện truyền thông có khả năng tiếp cận hàng triệu người cùng lúc. Khác với cư dân của xã hội truyền thống vốn chủ yếu được định hình bởi gia đình, làng xã, tôn giáo và các cộng đồng địa phương, con người đại chúng ngày càng nhận thức về thế giới thông qua những trải nghiệm gián tiếp. Họ biết đến những sự kiện xảy ra ở cách mình hàng nghìn cây số qua báo chí; chia sẻ cùng một câu chuyện với những người chưa từng gặp mặt thông qua tiểu thuyết, điện ảnh hay truyền hình; hình thành những sở thích, kỳ vọng và hệ quy chiếu thẩm mỹ tương đồng với vô số người khác trong cùng một không gian quốc gia hoặc thậm chí trên phạm vi toàn cầu. Chính con người đại chúng là nền tảng xã hội của văn hóa đại chúng. Nếu không có một lượng lớn công chúng cùng tiếp nhận những sản phẩm văn hóa giống nhau, cùng chia sẻ những biểu tượng và cảm xúc tương tự, thì văn hóa đại chúng không thể tồn tại. Nhưng đồng thời, văn hóa đại chúng cũng liên tục tái sản xuất con người đại chúng bằng cách cung cấp cho họ những hình mẫu sống, những ngôn ngữ chung và những cách thức diễn giải thực tại chung.

Trong tác phẩm “Sự trỗi dậy của đại chúng” , triết gia Tây Ban Nha José Ortega y Gasset nhận thấy rằng xã hội hiện đại đang chứng kiến sự trỗi dậy của một lực lượng xã hội hoàn toàn mới: những cá nhân không còn đứng bên lề lịch sử mà đã trở thành chủ thể trung tâm của đời sống chính trị, kinh tế và văn hóa. Theo Ortega, điều đặc biệt của thời hiện đại đó là đại chúng lần đầu tiên bước lên vị trí dẫn dắt đời sống xã hội. Khái niệm “đại chúng” mà Ortega sử dụng không nhằm chỉ một giai cấp hay tầng lớp kinh tế cụ thể. Ông mô tả đó là kiểu người xem những thành quả của nền văn minh hiện đại như điều hiển nhiên, hưởng thụ các tiện nghi do xã hội mang lại nhưng ít quan tâm đến những điều kiện lịch sử, tri thức và nỗ lực đã tạo nên chúng. Con người đại chúng, theo Ortega, không nhất thiết thiếu học thức; ngược lại, họ có thể được giáo dục tốt hơn bất kỳ thế hệ nào trước đó. Tuy nhiên, chính sự mở rộng nhanh chóng của giáo dục, truyền thông và đời sống đô thị lại tạo ra một nghịch lý: số lượng người được tiếp cận tri thức ngày càng tăng nhưng điều đó không đồng nghĩa với sự gia tăng tương ứng của năng lực tự phản tư hay ý thức về giới hạn của bản thân.

Gần một thế kỷ sau khi “Sự trỗi dậy của đại chúng” được xuất bản, nhiều quan sát của Ortega vẫn cho thấy sức sống đáng kinh ngạc. Trong thời đại của toàn cầu hóa, công nghiệp hóa và hiện đại hóa trên quy mô toàn cầu, những điều kiện từng làm xuất hiện con người đại chúng ở châu Âu đầu thế kỷ XX không những không biến mất mà còn được mở rộng với quy mô chưa từng có. Giáo dục phổ thông trở thành chuẩn mực gần như phổ quát. Truyền thông đại chúng phát triển thành các mạng lưới truyền thông toàn cầu. Các giá trị của xã hội hiện đại như cá nhân chủ nghĩa, tiêu dùng đại chúng, tính duy lý kỹ thuật và niềm tin vào tiến bộ trở thành những chuẩn mực có ảnh hưởng sâu rộng trên phạm vi thế giới. Nếu báo chí, phát thanh và truyền hình từng là môi trường sản sinh con người đại chúng trong thế kỷ XX, thì Internet và mạng xã hội ở thế kỷ XXI đã đẩy quá trình ấy lên một cấp độ hoàn toàn mới. Lần đầu tiên trong lịch sử, hàng tỷ người không chỉ là người tiếp nhận thông tin mà còn trở thành người sản xuất, bình luận, chia sẻ và lan truyền thông tin. Những cá nhân vốn trước đây chỉ hiện diện trong phạm vi gia đình, cộng đồng hoặc địa phương nay có thể tham gia trực tiếp vào không gian công cộng toàn cầu. Theo nghĩa đó, Internet không chỉ tạo ra con người đại chúng mà mở rộng không gian tồn tại của họ. Những xu hướng mà Ortega từng nhận thấy: sự tự tin vào ý kiến cá nhân, xu hướng xem trải nghiệm chủ quan như một thước đo đủ để đánh giá thế giới, hay việc các quan điểm phổ biến có khả năng tạo ảnh hưởng lớn hơn các thẩm quyền truyền thống… đều được khuếch đại bởi các nền tảng mạng xã hội. Công nghệ số đã trao cho con người đại chúng một công cụ biểu đạt mạnh mẽ hơn bất kỳ thời đại nào trước đó.

Tình trạng này tạo ra một nghịch lý của xã hội đương đại. Chưa bao giờ trong lịch sử nhân loại, con người bình thường có nhiều cơ hội tiếp cận tri thức như hiện nay. Chỉ với một thiết bị kết nối Internet, một người có thể đọc các tác phẩm kinh điển, theo dõi bài giảng của những trường đại học hàng đầu thế giới, tiếp cận các kho dữ liệu khổng lồ hay tham gia vào những cộng đồng học tập xuyên biên giới. Theo nghĩa đó, môi trường truyền thông đương đại không chỉ sản sinh con người đại chúng mà còn tạo điều kiện để họ vượt ra khỏi những giới hạn của chính mình. Những khác biệt về địa lý, giai tầng hay xuất thân không còn là những rào cản tuyệt đối đối với việc tiếp cận tri thức. Con người đại chúng có cơ hội phát triển những năng lực vượt lên trên tính đại chúng của mình, mở rộng thế giới quan và xây dựng những bản sắc cá nhân phong phú hơn.

Tuy nhiên, đây cũng là một con dao hai lưỡi. Khả năng tiếp cận tri thức không đồng nghĩa với khả năng hấp thụ tri thức. Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế chú ý, tri thức thường ở vào vị thế bất lợi. Việc tiếp thu tri thức đòi hỏi thời gian, sự tập trung, khả năng phản tư và một nền tảng giáo dục nhất định, trong khi nhiều nội dung giải trí có thể mang lại cảm xúc tức thời và sự nhận thức chớp nhoáng. Nếu tri thức không có được một vị trí đủ vững chắc trong hệ thống giáo dục, trong các thiết chế văn hóa và trong đời sống cộng đồng, nó khó có thể cạnh tranh với những nội dung được thiết kế tối ưu cho sự lan truyền, sự kích thích cảm xúc và nhu cầu giải trí tức thời.

Vấn đề vì thế không nằm ở bản thân văn hóa đại chúng hay các hình thức giải trí. Một xã hội lành mạnh luôn cần đến giải trí cũng như luôn cần đến tri thức. Điều đáng quan tâm là tương quan giữa hai yếu tố này trong đời sống công cộng. Khi tri thức đủ mạnh, văn hóa đại chúng có thể trở thành phương tiện đưa tri thức đến với số đông. Nhưng khi các thiết chế tri thức suy yếu, văn hóa đại chúng rất dễ bị chi phối bởi những nội dung dễ dãi, khiến công chúng ngày càng quen với việc phản ứng thay vì suy nghĩ, tiêu thụ thay vì tìm hiểu, và cảm xúc tức thời thay vì năng lực phán đoán.

Thế lưỡng phân của cá nhân trong văn hóa đại chúng

Một trong những sức mạnh lớn nhất của văn hóa đại chúng nằm ở chỗ nó hiếm khi xuất hiện như một hệ tư tưởng áp đặt từ bên ngoài. Nó vận hành giống như một dung môi văn hóa mà trong đó các cá nhân sống, giao tiếp, yêu ghét, mơ ước và hình dung về chính mình, nói như Charlott Witt, giống như cá không ý thức được sự tồn tại của nước, con người thường không ý thức được sự hiện diện của những chuẩn mực xã hội đang định hình cách mình suy nghĩ và hành động (Ý từ cuốn “Chuẩn mực xã hội” của Charlott Witt). Chính vì vậy, ảnh hưởng sâu sắc nhất của văn hóa đại chúng không nằm ở những nội dung cụ thể mà nó truyền tải, mà ở việc nó kiến tạo nên những điều được xem là bình thường, đáng mong muốn hoặc đáng ngưỡng mộ trong một xã hội. 

Tuy nhiên, sẽ là một sự đơn giản hóa nếu cho rằng cá nhân chỉ là sản phẩm thụ động của môi trường văn hóa đại chúng. Dù sống trong cùng một dung môi văn hóa, con người không hoàn toàn hòa tan trong đó. Các cá nhân vừa tiếp nhận những chuẩn mực chung của xã hội, vừa liên tục diễn giải, lựa chọn và phản ứng trước những gì mình tiếp nhận. Chính trong quá trình ấy mà đời sống tinh thần của mỗi người hình thành những sắc thái riêng biệt. Một mặt, cá nhân có xu hướng xuôi theo các dòng chảy văn hóa đang chi phối môi trường sống của mình. Họ sử dụng cùng một ngôn ngữ biểu tượng, chia sẻ những cảm xúc tập thể, tiếp nhận những hình mẫu phổ biến về thành công, hạnh phúc hay giá trị sống. Điều này giúp con người hòa nhập vào đời sống xã hội và tạo ra khả năng giao tiếp với những người khác trong cùng một cộng đồng văn hóa. Nhưng mặt khác, mỗi cá nhân cũng là một trung tâm kinh nghiệm độc đáo với những trải nghiệm sống, ký ức, hoàn cảnh, năng lực nhận thức và mức độ phản tư khác nhau, và điều đó khiến cho không ai tiếp nhận văn hóa đại chúng theo cùng một cách. Trước cùng một bộ phim, một cuốn sách, một sự kiện xã hội hay một trào lưu trên mạng, mỗi người có thể đưa ra những cách diễn giải khác nhau. Chính những phản ứng riêng biệt ấy là dấu hiệu cho thấy cá nhân không chỉ là sản phẩm của văn hóa mà còn là chủ thể tham gia vào quá trình tái tạo ý nghĩa cho văn hóa. Sự căng thẳng giữa hai chiều hướng này tạo nên một trong những động lực quan trọng của đời sống hiện đại. Con người vừa muốn thuộc về một cộng đồng chung, vừa muốn khẳng định sự khác biệt của bản thân. Họ vừa cần những giá trị tập thể để định vị mình trong xã hội, vừa tìm kiếm những trải nghiệm và nhận thức riêng để không hoàn toàn bị hòa tan vào đám đông. 

Nhưng mối quan hệ giữa các giá trị cá nhân và các giá trị được xác lập bởi văn hóa đại chúng phức tạp hơn nhiều so với một quá trình áp đặt một chiều. Văn hóa đại chúng vận hành như một hệ thống hồi tiếp dương. Những giá trị, hình tượng hay khuynh hướng được nhiều người đón nhận sẽ được truyền thông và thị trường tiếp tục khuếch đại. Sự khuếch đại đó lại làm gia tăng mức độ phổ biến của chúng, từ đó củng cố cảm giác rằng đây là những điều bình thường, đúng đắn hoặc đáng mong muốn. Càng nhiều người chấp nhận một giá trị, giá trị đó càng có khả năng được tái sản xuất và lan truyền rộng hơn trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, con người không phải là những mắt xích thụ động trong vòng hồi tiếp ấy. Mỗi cá nhân luôn đồng thời đứng trước hai khả năng: chấp nhận hoặc kháng cự. Ngay cả khi tiếp xúc với cùng một môi trường văn hóa, không phải ai cũng nội tâm hóa các giá trị theo cùng một cách. Có những người tiếp nhận chúng như những chuẩn mực hiển nhiên của cuộc sống. Có những người chấp nhận một phần nhưng vẫn giữ lại những khoảng cách phê phán. Và cũng có những người chủ động phản đối, tìm kiếm những hệ giá trị khác hoặc xây dựng cho mình những không gian văn hóa thay thế.

Điều đáng chú ý là sự kháng cự này không nhất thiết diễn ra bên ngoài văn hóa đại chúng. Nhiều khi nó xuất hiện ngay từ bên trong chính môi trường ấy. Một cuốn sách làm thay đổi cách nhìn của người đọc, một bộ phim khiến công chúng đặt lại câu hỏi về những định kiến quen thuộc, hay một cuộc tranh luận trên mạng xã hội buộc nhiều người xem xét lại quan điểm của mình đều là những ví dụ cho thấy cá nhân không ngừng thương lượng với những giá trị đang bao quanh họ. Chính vì vậy, văn hóa đại chúng không phải là một hệ thống khép kín chỉ sản sinh ra sự đồng nhất. Nó là một không gian căng thẳng giữa sự đồng thuận và sự khác biệt, giữa việc tái sản xuất các chuẩn mực hiện có và khả năng tạo ra những cách nhìn mới. Điều này dẫn đến một đặc điểm đáng chú ý của văn hóa đại chúng đương đại: nó không phải là một thực thể cố định với những giá trị bất biến. Trái lại, văn hóa đại chúng luôn ở trong trạng thái vận động. Những gì được xem là phổ biến, thời thượng hay có ảnh hưởng ở một thời điểm có thể nhanh chóng bị thay thế ở thời điểm khác. Cùng với sự phát triển của các phương tiện truyền thông và tốc độ lưu thông thông tin ngày càng cao, chu kỳ biến đổi của văn hóa đại chúng cũng diễn ra nhanh hơn bao giờ hết. Không chỉ thay đổi theo thời gian, văn hóa đại chúng còn liên tục biến đổi thông qua sự gặp gỡ và va chạm giữa các không gian văn hóa khác nhau. Trong thế giới toàn cầu hóa, một cá nhân có thể cùng lúc tiếp xúc với điện ảnh Hollywood, anime Nhật Bản, K-pop Hàn Quốc, triết học châu Âu, các trào lưu trên TikTok và những di sản văn hóa địa phương nơi mình sinh sống. Các lớp văn hóa từ những thời kỳ khác nhau, những quốc gia khác nhau và những cộng đồng khác nhau không tồn tại tách biệt mà liên tục chồng lấn, pha trộn và tái cấu trúc lẫn nhau.

Trong bối cảnh đó, con người cá nhân không còn sống trong một môi trường văn hóa đại chúng duy nhất. Họ tồn tại giữa vô số dòng chảy văn hóa đang vận động đồng thời và liên tục lựa chọn những gì phù hợp với nhu cầu, sở thích, kinh nghiệm và khát vọng của mình. Một người có thể yêu thích âm nhạc đại chúng đương đại nhưng lại tìm kiếm ý nghĩa sống từ triết học cổ đại; có thể tham gia vào các xu hướng đang thịnh hành trên mạng xã hội nhưng đồng thời gắn bó với những giá trị văn hóa được hình thành từ nhiều thế hệ trước. Bản sắc văn hóa của cá nhân vì thế ngày càng mang tính tổ hợp hơn là tính thuần nhất. Theo nghĩa đó, sự đại chúng trong xã hội đương đại không còn được định hình bởi một khuôn mẫu chung áp dụng cho tất cả mọi người. Thay vào đó, nó tồn tại dưới dạng nhiều khuôn mẫu cùng song song tồn tại và cạnh tranh ảnh hưởng lẫn nhau. Các cộng đồng hâm mộ, các nhóm sở thích, các không gian truyền thông và các hệ giá trị khác nhau đều có thể đạt đến quy mô “đại chúng” trong phạm vi của riêng mình. Điều mà chúng ta gọi là văn hóa đại chúng ngày nay thực chất là một trường lực phức tạp của nhiều lớp văn hóa đại chúng khác nhau đang tương tác, va chạm và chồng chéo lên nhau. Chính sự phân tầng và đa dạng hóa này làm cho câu chuyện về dân trí trở nên phức tạp hơn so với các thời đại trước. Nếu trước đây thách thức chủ yếu là tiếp cận được tri thức, thì ngày nay thách thức còn nằm ở việc định hướng giữa vô số nguồn ảnh hưởng khác nhau. Năng lực nhận thức không chỉ giúp cá nhân tiếp thu thông tin mà còn giúp họ lựa chọn, sắp xếp và kiến tạo một trật tự ý nghĩa cho bản thân giữa một môi trường văn hóa ngày càng đa dạng và biến động.

Hiện tượng này gợi nhớ đến khái niệm “con người đa căn tính” mà nhà kinh tế học và triết gia Amartya Sen đã đề xuất trong tác phẩm “Căn tính và bạo lực” (Identity and Violence). Theo Sen, mỗi cá nhân không bao giờ chỉ sở hữu một căn tính duy nhất. Một con người đồng thời có thể thuộc về nhiều cộng đồng, nhiều truyền thống và nhiều hệ giá trị khác nhau: quốc gia, ngôn ngữ, tôn giáo, nghề nghiệp, giới tính, thế hệ, sở thích hay các mối quan tâm tri thức. Vấn đề nảy sinh khi một trong những căn tính ấy được tuyệt đối hóa và được xem như bản chất duy nhất của con người.

> Đọc thêm: “Căn tính và bạo lực – Huyễn tưởng về số mệnh” – Vài điều suy nghĩ – Book Hunter 

Trong môi trường văn hóa đại chúng đương đại, tính đa căn tính này càng trở nên rõ rệt hơn. Cá nhân không còn được định nghĩa chủ yếu bởi nơi mình sinh ra hay cộng đồng địa phương mà mình thuộc về. Họ đồng thời tham gia vào nhiều không gian văn hóa khác nhau, tiếp nhận nhiều hệ quy chiếu thẩm mỹ và nhiều nguồn ảnh hưởng đến từ các cộng đồng vượt xa biên giới địa lý. Một người có thể vừa là thành viên của một cộng đồng nghề nghiệp, vừa là người yêu thích manga Nhật Bản, vừa quan tâm đến triết học phương Tây, vừa gắn bó với các giá trị gia đình truyền thống. Những căn tính ấy không loại trừ nhau mà cùng tồn tại, tương tác và đôi khi mâu thuẫn với nhau trong cùng một con người. Từ góc nhìn này, sự phân mảnh của văn hóa đại chúng không chỉ làm xuất hiện nhiều khuôn mẫu đại chúng khác nhau mà còn tạo điều kiện cho các cá nhân xây dựng những tổ hợp căn tính ngày càng đa dạng. Thách thức của con người hiện đại không còn đơn thuần là hòa nhập vào một nền văn hóa chung, mà là học cách điều hòa giữa nhiều lớp ảnh hưởng văn hóa đang cùng tồn tại trong chính bản thân mình.

Tình huống lưỡng phân và ngày càng phức tạp của con người đương đại buộc chúng ta phải nhìn nhận lại vấn đề dân trí. Trong một thời gian dài, dân trí thường được hiểu như mức độ phổ cập của tri thức trong xã hội, được đo lường thông qua tỷ lệ biết chữ, trình độ học vấn hay khả năng tiếp cận thông tin. Cách hiểu này phản ánh những mục tiêu quan trọng của thời kỳ hiện đại hóa, khi thách thức lớn nhất là làm sao đưa những kỹ năng cơ bản như đọc, viết và tính toán đến với số đông công chúng. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, khi việc tiếp cận thông tin đã trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết, dân trí không còn có thể được đồng nhất với lượng tri thức mà một cá nhân sở hữu. Một người có thể tiếp xúc với khối lượng thông tin khổng lồ mỗi ngày nhưng vẫn gặp khó khăn trong việc xác định đâu là thông tin đáng tin cậy, đâu là ý kiến và đâu là sự thật, đâu là giá trị do bản thân lựa chọn và đâu là giá trị được hấp thụ một cách vô thức từ môi trường văn hóa xung quanh.  

Điều này càng trở nên phức tạp hơn khi con người hiện đại đồng thời là con người đại chúng và con người đa căn tính. Họ vừa chịu ảnh hưởng của những dòng chảy văn hóa chung, vừa là điểm giao thoa của nhiều cộng đồng, nhiều hệ giá trị và nhiều nguồn ảnh hưởng khác nhau. Trong một thế giới như vậy, dân trí không chỉ là năng lực tiếp nhận tri thức mà còn là năng lực định vị bản thân giữa những ảnh hưởng chồng chéo ấy. Đó là khả năng nhận diện những điều kiện xã hội và văn hóa đang tác động đến nhận thức của mình, khả năng phản tư về những giá trị mà mình đang theo đuổi, và khả năng đưa ra những lựa chọn có ý thức thay vì chỉ phản ứng theo những dòng chảy đang cuốn mình đi. 

Hà Thủy Nguyên

Đón đợi bài tiếp theo: Dân trí vừa là nguyên nhân vừa là kết quả

Kéo hàn lâm gần văn hóa đại chúng hay nâng đại chúng gần tri thức hàn lâm?

Trong quá trình vận động của văn hóa, dường như luôn luôn có sự phân cực giữa hàn lâm và đại chúng: Ở thái cực hàn lâm, các kiến thức và vấn đề được đề cập một cách phức tạp với những cấu trúc ngôn từ phức tạp và sự đa chiều. Ở thái cực đại chúng, cấu trúc của kiến thức bị giản lược hóa thành các chỉ dẫn bằng ngôn từ thông thường và dễ hiểu. Khi giới hàn lâm của thế giới

KHI VĂN HÓA ĐỌC THIẾU NỀN TẢNG HỌC THUẬT VÀ PHÁP LUẬT

Có lẽ chưa bao giờ văn hóa đọc lại nở rộ như ngày nay, đặc biệt là sự hỗ trợ từ chính quyền và các kênh báo đài chính thống. Không khí tấp nập nhộn nhịp trong các hội trợ sách, các hội thảo sách, các cuộc chạy đường trường cổ vũ phong trào đọc dường như làm sống dậy cái không khí Đông Kinh nghĩa thục: “Buổi diễn thuyết người đông như hội/Kỳ bình văn khách đến như mưa”. Chứng kiến cảnh “trăm hoa

Ma cà rồng & Người sói – Biểu tượng tình dục hoang dã

Nếu ở những thế kỷ trước Ma cà rồng hay Người Sói là nỗi ám ảnh sợ hãi của con người thì ở cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, những tạo vật độc ác này lại trở thành biểu tượng cho một vẻ đẹp gợi dục đầy khao khát và đam mê. Trào lưu này bắt đầu từ khi hình ảnh của Ma cà rồng mà đại diện là Bá tước Dracula (1950s) và Người Sói (1960s) xuất hiện trên màn ảnh

Người trẻ muốn làm việc tốt cần quên những thứ học ở trường đi

Học, thi cử, rồi lại học, cho đến khi có được bằng cấp, và khi đi làm, những điều học được ở nhà trường không hẳn là thích hợp với yêu cầu công việc thực tiễn. Đây vốn không phải là một thực tế quá gây shock với người Việt Nam. Mỗi người Việt chúng ta đều chấp nhận thực tế ấy như một chân lý hiển nhiên và miễn là con cái chúng ta cố học để có đủ các bằng cấp, điều kiện

Gửi các mẹ: Đọc sách có quan trọng đến thế?

Sáng nay lên mạng, một bức thư thống thiết của một bà mẹ gửi tới đứa con lười đọc sách của mình hiện lên Newsfeed của tôi. Ngay khi click vào đọc, tôi đã biết được bức thư này có thể lâm li bi đát đến cỡ nào. Bởi vì, cứ thỉnh thoảng phong trào cổ vũ văn hóa đọc lại rộ lên những trò thú vị mà có lẽ chỉ Việt Nam mới có. Nào thì chụp ảnh khoe tủ sách, nào thì chạy