Giáo dục Việt Nam, sai lầm bởi mặc thời đại xô đẩy

blogpost thumb

Trong 10 năm gần đây, ngành giáo dục tại Việt Nam gặp phải nhiều sự lên án: từ chương trình học nặng nề thiếu thực tế, đến đề thi thiếu tính chuyên môn, sách giáo khoa có nhiều sai phạm, giáo viên ý thức kém… Mới đây, sự việc 231 cái tát lại càng dấy lên sự lo lắng về một nền giáo dục đang còn lạc hậu so với thế giới. Nhiều bài viết đã chỉ ra những điểm yếu kém cũng như đã lý giải nhiều nguyên nhân dẫn đến sự lạc hậu này, tuy nhiên, các bài viết thường chỉ đưa ra các nguyên nhân trực tiếp.

Trong bài viết này, tôi muốn đề cập đến một khía cạnh khác, đó là thế đứng của giáo dục Việt Nam – một thế đứng chập chờn giữa những giao thoa về mô hình giáo dục, để rồi không thể đưa ra một chiến lược phát triển tổng thể trong tương lai, mà mặc cho sự xô đẩy của thời đại.

Truyền thống một nền giáo dục bị động

Một nền giáo dục bị xô đẩy bởi thời đại không phải chỉ là câu chuyện đương đại ở Việt Nam. Nhìn lại lịch sử, ta có thể dễ dàng nhận thấy liên tục trong 2000 năm, người Việt hiếm khi nào tự chọn cho mình một hướng giáo dục phù hợp với các đặc tính của dân tộc, mà chỉ sao chép một cách thụ động từ sự giáo dục mang tính cưỡng chế do các chính quyền đô hộ.

Cho đến nay, các sử gia chưa chứng minh được cách thức giáo dục trước khi nhà Hán đô hộ nước ta, nhưng nền tảng Nho giáo do các đô hộ sứ người Hán áp đặt đã trở thành sự lựa chọn mặc nhiên trong suốt chiều dài lịch sử phong kiến nước ta. Chính quyền các triều đại phong kiến dường như không mấy để tâm đến việc giao lưu tri thức với các nền văn hóa khác. Điều này rất khác biệt, thậm chí với Trung Quốc, vốn được xem như bản mẫu để Đại Việt học tập theo. Thậm chí, ý chí học tập không thể sánh với các nước Á Đông khác như Nhật Bản và Triều Tiên (thời phong kiến). Nhật Bản và Triều Tiên (thời phong kiến) mặc dù cũng tiếp thu Nho giáo nhưng họ không để mình rơi vào thế bị động mà chủ động nghiên cứu, học hỏi, khảo sát và chọn lựa các yếu tố tốt cho phát triển dân tộc. Vậy nên, cùng từ một nguồn ảnh hưởng nhưng các nước Á Đông nhưng nước ta, ngay cả trong thời kỳ độc lập, lại tiếp thu một loại Nho giáo khắc nghiệt, thiên nhiều về nghi lễ và giáo điều để làm tư tưởng

Đến thời Pháp thuộc, cơn bão phương Tây đã đánh bật vị trí thống trị của Nho giáo trên toàn bộ xã hội và thay vào đó một nền giáo dục kiểu mới: giáo dục phổ thông và phổ cập. Nền giáo dục này không phải một nền giáo dục lâu đời ở phương Tây mà chỉ mới xuất hiện trong thời kỳ công nghiệp. Tính đến nay, tuổi thọ của nền giáo dục phổ thông phổ cập mới chỉ 200 năm. Chính hệ thống giáo dục này cũng được chính quyền nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam lựa chọn để tạo ra những “công dân mới”, đúng như tôn chỉ của mô hình giáo dục phổ thông phổ cập khi mới ra đời.  Nếu tư tưởng giáo dục Nho giáo chủ trương tạo ra các Nho sinh để “tải đạo” thì mô hình giáo dục phổ thông và phổ cập ngay từ cốt lõi đã hướng tới việc tạo ra những người công dân làm việc trong các công xưởng và văn phòng phục vụ nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, mô hình giáo dục phổ thông và phổ cập ở phương Tây đã có những bước tiến rất xa về thành tựu nhờ vào kho tri thức khổng lồ được tích trữ trong nhiều nghìn năm lịch sử và một truyền thống học thuật lâu đời. Đây lại chính là thành phần mà Việt Nam không hề tiếp thu trong quá trình ứng dựng chương trình giáo dục phổ thông và phổ cập.

Như vậy, sự bị động trong việc tiếp thu hai mô hình giáo dục lớn, một phương đông cổ xưa và một phương tây hiện đại, đã khiến cho chúng ta không tiếp thu được những yếu tố xuất sắc nhất, mà ngược lại chỉ sao chép được các công thức cứng nhắc và lấy đó như tiêu chuẩn của nền giáo dục. Trong khi đó, một làn sóng giáo dục kiểu mới của thời đại công nghệ cao đã thành hình trên thế giới và Việt Nam sẵn sàng tiếp nhận dù chưa đủ các cơ sở căn bản về cơ sở vật chất cũng như chuyên gia trong các chuyên ngành. Một hậu quả dễ nhận thấy đó là giáo dục lập tức bị rơi vào tình trạng “loạn chuẩn”.

Không gặp nhau ở đỉnh cao mà chỉ giao thoa sự lạc hậu

Mọi mô hình giáo dục một khi đã được áp dụng rộng rãi luôn có những điểm ưu việt và những hạn chế. Các quốc gia có nền giáo dục phát triển luôn biết cách kết hợp các điểm ưu việt phù hợp với tình trạng của quốc gia, giống như trường hợp của Nhật và Hà Lan; hoặc cho phép nhiều mô hình được song song tồn tại và chuyển biến giống như Mỹ và Tây Âu. Còn các quốc gia chỉ biết khiên cưỡng sao chép đóng kín trong một mô hình lại dễ dàng xảy ra sự chồng lấn lên nhau giữa các giao thoa giữa giáo dục kiểu cũ và giáo dục kiểu mới mà tình trạng giáo dục Việt Nam chính là một ví dụ điển hình.

Mô hình giáo dục phương Tây hiện đại theo kiểu phổ thông và phổ cập vốn dĩ là một mô hình giúp người học nhanh chóng có được các kỹ năng và kiến thức toàn diện phục vụ đời sống hiện đại, thế nhưng ở Việt Nam, các kỹ năng thực tế không được quan tâm. Thay vì đó, cách dạy và học từ cấp 1 cho đến đại học vẫn theo lối giáo điều của mô hình Nho giáo, tức là thày đọc trò chép và thi cử theo lối thuộc lòng. Thay vì thói quen tư duy theo quy trình, một kết quả dễ nhận thấy của nền giáo dục phổ thông phổ cập thì các học sinh và sinh viên ở Việt Nam khi ra trường dễ bị rơi vào lối tư duy rập khuôn, bắt chước và thiếu chủ động khi bắt nhịp vào quy trình làm việc của xã hội hiện đại.  Thâm chí, tình trạng thầy cô giáo thích quát mắng hoặc bạo hành học trò cũng là do những tàn dư lạc hậu của mô hình Nho giáo vốn quen “gõ đầu trẻ” gây ra dù rõ ràng chúng ta đang ở trong một nền giáo dục hiện đại mà quyền trẻ em là vấn đề được coi trọng… Tình trạng này không phải lỗi của mô hình giáo dục Nho giáo hay mô hình phổ thông phổ cập, mà là do sự bị động đã trở thành cố hữu ở nước ta trong suốt hai ngàn năm lịch sử. Và ngay cả khi các mô hình giáo dục đương đại khác du nhập vào Việt Nam thì các mô hình ấy vẫn không hề giúp Việt Nam cải thiện tình trạng giáo dục. Mọi sự cải cách dù lớn hay nhỏ đều không đến từ sự chủ động mà đến từ sự bị động thì đều lãng phí tiền bạc, nhân lực và gây ra các xáo trộn đối với học sinh – sinh viên nói riêng cũng như toàn bộ xã hội nói chung.

Những thực trạng tồi tệ của nền giáo dục như tham nhũng, năng lực cán bộ giảng dạy yếu kém, điều kiện vật chất không đầy đủ, đạo đức học đường xuống cấp, chương trình học lạc hậu… tất cả, theo tôi đều là biểu hiện của một nền giáo dục chắp vá được tạo bởi phần lạc hậu nhất của các mô hình giáo dục lớn. Chừng nào, Việt Nam không thể đưa ra một chiến lược giáo dục thực thụ dựa trên các khảo sát của những chuyên gia hàng đầu để tạo ra một hệ thống giáo dục vừa căn bản, vừa phù hợp với thực tiễn của thời đại, vừa tôn trọng học sinh – sinh viên, lại vừa dựa trên các lợi thế của Việt Nam thì chừng ấy, nền giáo dục Việt Nam sẽ vẫn tiếp tục trì trệ như hiện nay. Tuy nhiên, việc đưa ra một chiến lược lâu dài không phải việc dễ dàng, không đơn giản là các cuộc cải cách hàng loạt vội vã, mà đòi hỏi sự nghiên cứu nghiêm túc, đầy đủ, kỹ lưỡng không chỉ các mô hình giáo dục và văn hóa của thế giới mà cả các đặc tính văn hóa của người Việt.

Hà Thủy Nguyên

Bài đã đăng trên báo Pháp Luật Việt Nam

Người trẻ muốn làm việc tốt cần quên những thứ học ở trường đi

blogpost thumb

Học, thi cử, rồi lại học, cho đến khi có được bằng cấp, và khi đi làm, những điều học được ở nhà trường không hẳn là thích hợp với yêu cầu công việc thực tiễn. Đây vốn không phải là một thực tế quá gây shock với người Việt Nam.

Mỗi người Việt chúng ta đều chấp nhận thực tế ấy như một chân lý hiển nhiên và miễn là con cái chúng ta cố học để có đủ các bằng cấp, điều kiện thiết yếu để xin việc, thì bất kể việc chúng không đủ kỹ năng để đi làm, cũng đều được chấp nhận. Điều này dẫn đến kết quả là hết thế hệ này kế tiếp thế hệ khác những lực lượng trẻ thiếu thốn các kỹ năng căn bản để sinh tồn trong xã hội đương đại. Và đương nhiên, không tránh khỏi sự tụt lùi trong việc tạo ra một đời sống có chất lượng cao mà mỗi người đều mong muốn.

Trước hết, chúng ta phải xác định rõ với nhau rằng, hệ thống giáo dục, đặc biệt là giáo dục phổ thông và phổ cập không nên chỉ là cách thức để đào tạo ra những cỗ máy chỉ biết làm việc kiếm tiền.

Hệ thống giáo dục cần phải cung cấp những nhận thức toàn diện bao gồm ý thức công dân, kỹ năng tương tác xã hội, kỹ năng làm việc, kỹ năng tư duy và thỏa mãn các nhu cầu kiến thức của mỗi người trẻ. Bây giờ chúng ta sẽ cùng xem xét đến các khía cạnh mà tôi vừa đề cập:

Mỗi đứa trẻ lớn lên, đều sẽ trở thành mỗi công dân. Và mỗi công dân cần biết gì? Họ cần biết về quyền và trách nhiệm của người dân trong xã hội, biết các kỹ năng hành chính căn bản. Bất kể trở thành ai trong xã hội thì vai trò đầu tiên của mỗi người đều là một công dân. Và sẽ thật tệ hại khi một công dân không biết đầy đủ về quyền và trách nhiệm của mình.

Môn giáo dục công dân ở Việt Nam, xét về mặt giáo trình đã có một bước tiến đáng kể trong việc đưa các vấn đề quyền và trách nhiệm của công dân vào chương trình học. Tuy nhiên, những gì học sinh học được là lý thuyết. Ngay chính trong môi trường học đường, những thực hành thiết yếu về quyền và trách nhiệm của ban giám hiệu, thầy cô, học trò, phụ huynh… đều không hề có. Điều này dẫn đến sự gia tăng bạo lực học đường và những xung đột giữa nhà trường và gia đình mà gần đây báo chí thường nhắc đến.

Thứ những đứa trẻ cần học, theo tôi, không phải chỉ đơn giản là những bài học đạo đức giáo điều, mà là ý thức tôn trọng pháp luật mà mỗi người trưởng thành xung quanh chúng cũng đều phải thấm nhuần.

Ở một khía cạnh khác, mềm mại hơn, chính là tương tác xã hội giữa người với người. Việc lúc nào cũng chăm chỉ lên lớp và phải hòa đồng với cộng đồng chung không hề giúp cho mỗi đứa trẻ trở nên tử tế hơn hay có tính người hơn.

Thậm chí, áp lực hòa nhập mà các nhà trường đang cố áp đặt lên mỗi cá nhân cũng đã lỗi thời so với thời đại mà yếu tố cá nhân được đặc biệt coi trọng như ngày nay. Áp lực này chỉ khiến cho những mâu thuẫn theo lối tẩy chay ngày càng gia tăng, và hơn thế nữa, hệ thống giáo dục không giúp học sinh, sinh viên tương tác mà biến họ thành các cỗ máy vận hành theo tập thể.

Kỹ năng làm việc, kỹ năng tư duy và các nhu cầu kiến thức là những gì dễ nhận thấy nhất ở hệ thống giáo dục của chúng ta. Trong suốt quá trình học ở bậc phổ thông, học sinh chỉ được học những kiến thức trong Sách giáo khoa theo lối thầy đọc trò chép và mỗi học trò phải cố gắng làm sao để hoàn thành các bài thi rồi tốt nghiệp. Việc này chiếm quá nhiều thời gian của một đứa trẻ. Chúng phải học chính khoảng 4-5 tiếng, rồi sau đó phải học phụ đạo khoảng 3-4 tiếng. Như vậy, một đứa trẻ phải mài đũng quần trên lớp từ 7 đến 9 tiếng, cứ như người lớn đi làm công ăn lương. Đó là còn chưa kể những lịch học dầy đặc ở nhà riêng của các giáo viên choán hết cả thời gian cá nhân.

Thực tế là, nếu những đứa trẻ không thể đạt mục tiêu điểm chác mà chúng mong muốn bằng việc tập trung học trong quãng thời gian học chính (chứ không phải bao gồm cả phụ đạo, học thêm, và học ở nhà) thì lỗi là do cách thiết kế chương trình học và trình độ giáo viên chứ không phải lỗi tại những đứa trẻ.

Tôi xin được nói thẳng, chương trình học phụ đạo là một hình thức giam cầm học sinh ở trường để bù lấp cho sự quá tải của một chương trình học thiết kế thiếu tính giáo dục, sự kém cỏi của giáo viên, và sự thờ ơ của phụ huynh trong việc giúp những đứa con có được kiến thức và kỹ năng hữu ích.

Tại sao phải mất chừng ấy thời gian để giam cầm những đứa trẻ trong bốn bức tường trong khi chúng có thể học hỏi từ Internet, các thư viện, các cộng đồng sở thích… Tình trạng này có giảm bớt khi trở thành sinh viên, nhưng các sinh viên vốn đã được đào tạo suốt 12 năm trong một môi trường hạn hẹp lại không thể thích ứng được với việc chuyển tiếp từ lối học phổ thông sang lối học đại học vốn cần tập trung vào các kỹ năng làm việc. Và ngay cả vậy, thì các kỹ năng này cũng lỗi thời nhanh chóng trong một xã hội mà cái mới được tạo ra từng ngày.

Nhà trường, với sự chậm tiến như tôi đã đề cập ở trên, thực sự đã trở thành một lực cản lớn đối với xã hội. Nhà trường, đáng lý phải là nơi tạo ra những công dân tốt, những nhân tài sẵn sàng cống hiến cho xã hội thì lại ở mãi trong ảo tưởng các thành tích số lượng học sinh giỏi và giáo viên dạy giỏi. Và thật nực cười, khi một đứa trẻ bước vào đời, muốn làm việc tốt, lại cần… quên những gì được học ở trường đi.

Hà Thủy Nguyên
Bài đã đăng trên Pháp Luật Việt Nam Online

Tự do học thuật và tự do trí tuệ

blogpost thumb

Cơ chế dân chủ là một cơ chế mở, không chỉ đảm bảo quyền lợi của người dân mà còn tạo ra cơ hội để những người tài năng dễ dàng hơn trong việc thể hiện và đóng góp cho xã hội. Tuy nhiên, đó chỉ là lý thuyết. Cơ chế dân chủ với tình trạng dân trí thấp và trong đó, những quyền hạn về tự do học thuật và tự do trí tuệ bị ngăn cản thì đó chỉ là dân chủ giả hiệu. Quyền tự do ngôn luận, tự do biểu hiện sẽ trở nên vô nghĩa khi người dân không được tiếp cận tri thức và những chuyên gia không được đưa ra tiếng nói khách quan mang tính khoa học để góp ý cho các vấn đề của xã hội. Cho đến nay, vấn đề Tự do học thuật (Academic Freedom) và Tự do trí tuệ (Intellectual Freedom) chỉ mới được đưa ra ở dạng khái niệm và chưa được quan tâm đúng mức trên toàn thế giới.

Tự do học thuật (Academic Freedom) là một khái niệm gây nhiều hiểu lầm ở Việt Nam. Chúng ta thường dễ đánh đồng quyền tự do này với tự do biểu hiện. Từ điển Britannica cho biết: “Tự do học thuật là quyền của giảng viên và học viên được tự do giảng dạy, nghiên cứu và đeo đuổi kiến thức mà không  có sự can thiệp bất hợp lý hoặc các hạn chế từ luật, quy định về thể chế, hay áp lực từ công chúng. Các yếu tố cơ bản của nó bao gồm  quyền tự do của giảng viên để tìm hiểu bất cứ chủ đề nào liên quan đến tri thức, trình bày các phát hiện của mình cho sinh viên và đồng nghiệp, công bố các dữ liệu và kết luận của họ mà không bị kiểm soát hay kiểm duyệt, giảng dạy theo cách mà họ cho là phù hợp với nghiệp vụ. Đối với sinh viên, các yếu tố cơ bản gồm: quyền tự do chọn học các môn học, đưa ra kết luận và thể hiện ý kiến của mình”. (1)

Như vậy quyền Tự do học thuật có phạm vi trong trường học và gắn liền mật thiết đến hệ thống giáo dục, đặc biệt là ở cấp bậc đại học. Qủa vậy, nền tảng của Tự do học thuật được xây dựng từ các trường đại học của Châu Âu thời Trung cổ. Từ thời này, các trường đại học với sự bảo trợ của hoàng gia đã tự lập nên một hệ thống tự trị với quyền tự quyết trong việc thành lập khoa. Cho đến thế kỷ 18, nhà thờ Công giáo La Mã và ở một số khu vực, những người theo đạo Tin Lành đã tìm cách kiểm duyệt các trường đại học. Các trường đại học mất dần vị thế tự trị và các giáo sư phải chịu sự quản lý của chính phủ. Mâu thuẫn này kéo dài cho đến nay. Mặc dù vậy một điều thú vị khi bạn theo dõi các phiên họp hay điều trần liên quan đến Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc, Tự do học thuật vẫn không hề được đề cập đến.

Một khái niệm khác rất dễ nhầm lẫn với Tự do học thuật là Tự do trí tuệ (Intellectual Freedom). Tự do trí tuệ bao gồm quyền tự do nắm giữ, tiếp nhận và phổ biến các ý tưởng mà không hề bị hạn chế. Nói một cách khác, quyền tự do trí tuệ bảo vệ quyền của một cá nhân trong việc tiếp cận thông tin, khám phá, xem xét và thể hiện ý tưởng. Như vậy, tự do trí tuệ chính là nền tảng cho tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin và quyền riêng tư.

Tự do trí tuệ bao gồm quyền tự do nắm giữ, tiếp nhận và phổ biến các ý tưởng mà không bị hạn chế. Được xem như một thành tố không thể tách rời của một xã hội dân chủ, quyền tự do trí tuệ bảo vệ quyền của một cá nhân trong việc tiếp cận, khám phá, xem xét, và thể hiện ý tưởng và thông tin làm cơ sở cho một công dân tự quản và thông tin đầy đủ. Tự do trí tuệ bao gồm nền tảng cho tự do ngôn luận, nói tiếng và báo chí và liên quan đến quyền tự do thông tin và sự riêng tư. (2) Trong thời đại Internet hiện nay, Tự do trí tuệ đã được mở rộng hơn và sự kiểm duyệt bị hạn chế dần, thế nhưng tự do trí tuệ vẫn gặp phải các rào cản do sự can thiệp ngầm của các tập đoàn hoặc của các quốc gia. Chính công nghệ mang đến Tự do trí tuệ nhưng cũng trở thành công cụ để hạn chế tự do trí tuệ bằng các thuật toán ngầm hoặc bằng các điều luật phức tạp trên Internet.

Nếu tự do học thuật chỉ gói gọn trong phạm vi của các trường đại học thì tự do trí tuệ có phạm vi rộng lớn hơn, những cũng vì thế mà ít người quan tâm hơn. Nếu có, họ chỉ quan tâm đến các quyền biểu hiện mà không quan tâm đến các quyền tiếp cận. Một điều hiển nhiên, nếu bạn không có quyền tiếp cận thông tin thì sự biểu hiện của bạn là vô giá trị.

Mặc dù nhiều người cho rằng quyền tự do học thuật và quyền tự do trí tuệ chỉ có thể có được trong một xã hội dân chủ, nhưng đây là cái nhìn thần thánh hóa cơ chế dân chủ. Một xã hội dù là độc tài hay quân chủ, vẫn có thể duy trì tự do học thuật và tự do trí tuệ, nếu họ muốn chính thể của họ được vận hành bởi những người có tài năng. Ngược lại, một xã hội đảm bảo quyền dân chủ của đám đông, để đám đông can thiệp vào công trình nghiên cứu hay sáng tạo của tầng lớp trí thức, có thể sẽ khiến xã hội rơi dần vào mông muội, và sớm muộn lại trở thành một xã hội toàn trị của đám đông. Như vậy, vấn đề quyền tự do học thuật và quyền tự do trí tuệ không nên chỉ được xem xét như một vấn đề nhân quyền, mà nên được xem xét như một phần của chiến lược phát triển nhân tài cho quốc gia.

Ở Việt Nam, tự do học thuật và tự do trí tuệ dường như là những khái niệm xa xỉ. Các nhà đấu tranh và vận động xã hội dù chính thống hay không chính thống đều cho rằng quyền lợi của những người dân nghèo, những người phụ nữ yếu thế quan trọng hơn quyền lợi của những người đeo đuổi con đường học tập, nghiên cứu và sáng tạo. Chính quyền cùng với quy định cứng nhắc về kiểm duyệt nội dung đã sinh ra một hệ thống trường học và thư viện không đảm bảo quyền tiếp cận thông tin đầy đủ cho cả giảng viên và học viên, đồng thời cũng luôn mong muốn định hướng và gò ép họ theo một số hướng nghiên cứu cụ thể. Tất cả dẫn đến tình trạng xập xệ của giới tri thức – những người đóng vai trò cung cấp nền tảng tri thức cho xã hội. Kết quả là, các chính sách sai lầm, các phát ngôn vô tội vạ, các biện pháp xử lý khó khăn tệ hại…v….v.. liên tiếp nối đuôi nhau do thiếu nền tảng tri thức cần thiết. Tình trạng này có lẽ sẽ càng xấu đi trong những năm sắp tới, bởi sự thiếu nền tảng tri thức lại dẫn đến sự xuống cấp trầm trọng của dân trí. Và cứ thế, Việt Nam sẽ gặp khó khăn nhiều hơn trên con đường dân chủ hóa cũng như bất cứ con đường xây dựng thể chế nào đó khác.

Có lẽ đã đến lúc, chính quyền, các trí thức, các nhà đấu tranh và vận động xã hội cần đặt lại vấn đề tự do học thuật và tự do trí tuệ một cách nghiêm túc. Bởi vì, dù dưới bất cứ thể chế nào, sự coi thường vai trò của nền tảng tri thức thường đưa xã hội đến với mông muội, lạc hậu và sụp đổ.

Hà Thủy Nguyên

(1) https://www.britannica.com/topic/academic-freedom

(2) https://www.ala.org/advocacy/intfreedom/censorship/faq

KHI VĂN HÓA ĐỌC THIẾU NỀN TẢNG HỌC THUẬT VÀ PHÁP LUẬT

blogpost thumb

Có lẽ chưa bao giờ văn hóa đọc lại nở rộ như ngày nay, đặc biệt là sự hỗ trợ từ chính quyền và các kênh báo đài chính thống. Không khí tấp nập nhộn nhịp trong các hội trợ sách, các hội thảo sách, các cuộc chạy đường trường cổ vũ phong trào đọc dường như làm sống dậy cái không khí Đông Kinh nghĩa thục: “Buổi diễn thuyết người đông như hội/Kỳ bình văn khách đến như mưa”. Chứng kiến cảnh “trăm hoa đua nở” của các đơn vị xuất bản, các cộng đồng đọc sách, các cá nhân cổ vũ đọc sách…v…v… chúng ta dễ lầm tưởng rằng một tương lai tươi sáng cho công cuộc nâng cao dân trí đang diễn ra. Tuy nhiên, nếu nhìn cận cảnh văn hóa đọc ở Việt Nam sẽ thấy một nguy cơ của tình trạng nhiễm độc “tinh thần” đang là vấn đề nan giải.

Một điểm dễ thấy ở thị trường sách Việt Nam đó là sự vượt trội về doanh số của các đầu sách dạy làm giàu, dạy kỹ năng sống, tiểu thuyết tình yêu…v…v… so với các đầu sách khác. Những cuốn sách này thường khá dễ đọc, giải quyết các nhu cầu trước mắt của người đọc, và thường được những độc giả thiếu nền tảng kiến thức ưa thích. Ở phương Tây hay Trung Quốc, những cuốn sách dạng này cũng được số đông độc giả ưa thích nhưng chúng không có vị trí thống soái như ở Việt Nam. Dù cho chúng có thể là “best seller” nhưng người dân vẫn ý thức được rằng vẫn có những cuốn sách tầm cỡ cao hơn thế, có tính học thuật hơn và sách hàn lâm vẫn giữ một vị trí thống soái dù số lượng bán ra không bằng. Nhưng ở Việt Nam, sách hàn lâm cứ như thể là một thế giới vô cùng biệt lập đối với độc giả đại chúng.

Đặc biệt là các sách dạy làm giàu, dạy kỹ năng sống luôn xuất hiện ở các giá sách của các quán café sách như một phần của phong trào nâng cao văn hóa đọc. Đây cũng là các cuốn sách ưa thích trong các chương trình đào tạo nhân viên của các tập đoàn, các công ty bán hàng đa cấp…v…v… Đến nay, sự đúng – sai của các cuốn sách này vẫn gây nhiều tranh cãi trên thế giới và ở Việt Nam, tuy nhiên, nếu đưa số sách này vào làm một phần chiến lược của phong trào nâng cao dân trí thì chẳng khác nào vứt vào tay người dân những “cái cần” chẳng biết có “câu được cá” hay không? Và nếu các cuốn sách này không thực sự giúp được người dân cải thiện cuộc sống mà chỉ được sử dụng để khích lệ ham muốn kiếm lợi thì đó không phải là nâng cao dân trí mà là làm giảm đi khả năng làm việc có chuyên môn để thay bằng các phương pháp làm giàu nhanh chóng.  Trong khi ấy, các cuốn sách có tính chuyên môn sâu hay tính hàn lâm vẫn thiếu vắng trên thị trường sách và được in với số lượng rất ít.

Tiểu thuyết tình yêu hay còn có tên gọi mới là tiểu thuyết ngôn tình không chỉ xuất hiên nhan nhản ở các nhà sách, các trang bán sách online mà còn cả ở Thư viện Quốc gia, nơi vốn dĩ là tập hợp của những cuốn sách có tính hàn lâm hoặc hữu dụng. Nếu ai đã từng một lần tới phòng đọc của Thư viện Quốc gia Hà Nội hẳn sẽ ngạc nhiên khi thấy tiểu thuyết ngôn tình chiếm một vị trí lớn trong thư viện: không chỉ có ngôn tình Trung Quốc mà còn có đủ cả ngôn tình Anh, Pháp và Việt Nam. Trong khi ấy, thư viện lại thiếu vắng các tác phẩm văn học kinh điển của thế giới mà các dịch giả từ đầu thế kỷ 20 đến nay vẫn tiếp tục dầy công chuyển ngữ. Thậm chí, nhiều tác phẩm văn học kinh điển của Việt Nam cũng không thể tìm thấy tại Thư viện Quốc gia Hà Nội. Những bạn trẻ đến thư viện có thể thoải mái ngồi đọc tiểu thuyết ngôn tình bên cạnh những nhà nghiên cứu đọc các cuốn sách dầy cộp. Đây có lẽ là một cảnh khá hi hữu tại một Thư viện công có tầm cỡ quốc gia với nền tảng lưu trữ học thuật hơn 100 năm. Cùng lúc ấy, các tác giả trẻ viết tiểu thuyết tình yêu mang tính thị trường và các tác giả sáng tác văn chương mang tính nghệ thuật cũng rất khó để phân định được ranh giới dẫn đến một tình trạng loạn chuẩn trong nền văn học, và người đọc có thể hoàn toàn sẽ bị dẫn hướng bởi truyền thông. Ví dụ như các độc giả trẻ sẽ không thể phân biệt được sự chênh lệch về chất lượng giữa một cuốn tiểu thuyết ngôn tình sử dụng yếu tố lịch sử (như trường hợp “Thành kỳ ý” của Lê Ngọc Linh hay “Đại Nam dị truyện” của Phan Cuồng) với một cuốn tiểu thuyết lịch sử công phu (như “Hồ Qúy Ly” của Nguyễn Xuân Khánh hay “Vạn xuân” của Yveline Féray).

Tình trạng “vàng” không được coi trọng bằng “thau” này đã khiến cho nền văn hóa đọc của Việt Nam ở thời sung sức của giai đoạn đầu nhiễm những tạp chất khó có thể tẩy rửa khỏi thói quen đọc sách của thế hệ trẻ. Đây là hệ quả của sự thiếu nền tảng học thuật và pháp lý trong chiến lược của phong trào nâng cao văn hóa đọc. Trong “ĐỀ ÁN Phát triển Văn hóa Đọc trong cộng đồng Giai đoạn 2011 – 2020, tầm nhìn 2030” của Thủ tướng chính phủ được thảo ra từ năm 2010, việc xây dựng nền tảng học thuật và pháp lý làm chỗ dựa cho xuất bản gần như không được đề cập đến mà hầu như chỉ nhấn mạnh vào công tác tuyên truyền nhằm gia tăng lượng độc giả. Trên thực tế, nếu không thể xuất bản ra những cuốn sách có chất lượng cao, đảm bảo tính chính xác của kiến thức, đạt các chuẩn của tiếng Việt và không có các sai phạm về bản quyền thì nền văn hóa đọc ấy sẽ chỉ gây hại cho độc giả mà thôi. Vấn đề chính yếu của văn hóa đọc hiện nay không phải là tình trạng giảm sút của số lượng độc giả mà tình trạng lỏng lẻo trong quản lý chất lượng sách.

Ngăn ngừa đạo văn có lẽ là vấn đề pháp lý quan trọng nhất của một nền văn hóa đọc. Tuy nhiên, cho đến nay, khung pháp lý xử lý đạo văn vẫn còn lỏng lẻo, không có cơ quan giải quyết các khúc mắc về đạo văn một cách chuyên nghiệp, cũng không có mức phạt nghiêm khắc thực sự để ngăn ngừa đạo văn. Hầu như trong các vụ đạo văn bị phanh phui trên truyền thông, những tác phẩm đạo văn không hề bị thu hồi và tác giả cũng không phải chịu một mức phạt nào, thậm chí nhiều trường hợp còn không xin lỗi một cách công khai. Qúy cuối năm 2015 cho đến quý I năm 2016, độc giả được chứng kiến hai vụ đạo văn đình đám: Một là sự việc nhà thơ Phan Huyền Thư đạo thơ của Phan Ngọc Thường Đoan. Hai là sự việc Lê Ngọc Linh trong tiểu thuyết ngôn tình có yếu tố lịch sử “Thành Kỳ Ý” đã đạo rất nhiều đoạn văn từ cuốn sách “Tứ thư bình giải” cùng nhiều bài báo từ các trang online của báo Dân Trí, Vietnamtourism…v…v… Cả hai trường hợp đạo văn này, sách đều không bị tịch thu và không bị nhận mức phạt nặng, cùng lắm chỉ là bị ép xin lỗi hoặc như nhà thơ Phan Huyền Thư chỉ cần trả lại giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội là đủ. Như trường hợp “Thành Kỳ Ý”, mức độ sai phạm trầm trọng hơn khi tác giả của cuốn sách này kêu gọi độc giả ủng hộ cô ta số tiền lên đến hơn 200 triệu đồng trước khi cô ta ra mắt sách. Số tiền này không hề được hoàn trả cho người ủng hộ khi cuốn sách được chứng minh là đạo văn, và cũng không có khoản phạt tài chính nào với sai phạm này. Cho đến nay, Lê Ngọc Linh vẫn không hề bị xử phạt dù cho đã có hơn 1000 chữ ký từ các độc giả vận động trên mạng và gửi thư khiếu nại đến Cục xuất bản. Hai ví dụ trên thật sự đã cho ta thấy sự quản lý lỏng lẻo của các đơn vị quản lý văn hóa. Đây chỉ là hai vụ scandal nổi tiếng trong số rất nhiều những sự vụ khác ít đình đám hơn và rất nhiều những vụ chưa được phanh phui vì chưa có ai phát hiện. Sẽ ra sao nếu Việt Nam có một nền văn hóa đọc mà ai ai cũng có thể đạo văn mà không phải chịu trách nhiệm gì? Đó là một nền văn hóa đọc không bảo vệ sự sáng tạo mà chỉ dung túng cho thói quen viết lách thiếu trách nhiệm và trình độ.

Không chỉ là một nền văn hóa đọc thiếu sự khuyến khích sáng tạo mà nền văn hóa đọc Việt Nam còn thiếu sự chính xác và tinh thần khoa học. Tình trạng nội dung sách không đảm bảo chất lượng ngôn ngữ hay khoa học là khá phổ biến. Gần như năm nào người đọc cũng được chứng kiến các sự việc sách dịch không chính xác ( như “Lolita” do Dương Tường dịch, “Sapiens, lược sử về loài người” do Nguyễn Thủy Chung và Võ Minh Tuấn dịch, “Căn tính và bạo lực – Huyễn tưởng về số mệnh” do Trần Tiễn Cao Đăng và Lê Tuấn Huy dịch…). Những cuốn sách này hoặc là thiếu chính xác trong chuyển ngữ, hoặc là diễn giải không đúng với văn phạm tiếng Việt. Bên cạnh đó còn phải kể đến không ít các cuốn sách nghiên cứu, khảo cứu, hướng dẫn… thiếu tính chính xác trong việc sử dụng kiến thức. Tôi sẽ không đề cập đến ví dụ về tình trạng sách nghiên cứu, khảo cứu sử dụng sai kiến thức bởi vì sẽ rất dài dòng để giải thích. Thay vào đó, tôi sẽ sử dụng một cuốn giáo trình tiếng Anh làm ví dụ. Đây là cuốn giáo trình tiếng Anh do trung tâm Elight phát hành, cấp phép bởi NXB Thanh Niên, có tên “Tiếng Anh cơ bản”. Một giáo viên dậy tiếng Anh rất nổi tiếng người Mỹ có tên là Dan Hauer đã chỉ ra rất nhiều lỗi sai ngữ pháp và từ vựng nghiêm trọng ở cuốn giáo trình này cùng với hơn 300 chi tiết đạo văn từ các giáo trình tiếng Anh khác. Cuốn sách được bán với giá 299 ngàn, một mức giá khá cao. Video nhanh chóng được lan truyền trên mạng với hơn 660 ngàn lượt xem và đến nay cũng chưa có dấu hiệu của đơn vị quản lý văn hóa và giáo dục xử lý các lỗi sai về kiến thức cũng như đạo văn trong cuốn sách này. Việc cung cấp sai kiến thức là một lỗi nghiêm trọng không kém gì đạo văn bởi những cuốn sách ấy phát tán các nhận thức sai lệch cho độc giả. Một nền văn hóa đọc mà trong đó độc giả dễ dàng bị nhồi nhét những nhận thức sai lệch thì đó là một nền văn hóa không lành mạnh. Sở dĩ có tình trạng như vậy là do thiếu một đội ngũ có trình độ học thuật cao tham gia các khâu thẩm định chất lượng nội dung và một nền xuất bản thiếu các tiêu chuẩn khoa học.

Mặc dù vậy, ở góc khuất của nền văn hóa đọc nhốn nháo ngày nay vẫn có những cộng đồng đọc sách nghiêm túc những mong tuyển chọn các cuốn sách hay giới thiệu cho bạn đọc, vẫn có những tác giả và dịch giả miệt mài ngày đêm âm thầm cống hiến cho tri thức, vẫn có những độc giả khôn ngoan biết tìm đến các nguồn sách có chất lượng cao. Tất cả những yếu tố này tạo nên một ốc đảo tri thức nằm giữa biển sách ngổn ngang của thị trường. Tuy rằng biệt lập nhưng họ vẫn luôn cố gắng để duy trì ngọn lửa tri thức. Và dù cho xã hội không có một khung pháp lý hay một khung học thuật để quản lý chất lượng sách trên thị trường thị họ cũng tự xác lập cho mình những chuẩn mực riêng trong ốc đảo tri thức ấy.

Hà Thủy Nguyên

Bài đăng trên Tạp chí Văn hóa Nghệ An số ra ngày 10 tháng 4 năm 2018

“CHÍNH TRỊ LUẬN” CỦA ARISTOTLE VÀ SỰ PHÊ PHÁN CÁC MÔ HÌNH XÃ HỘI

blogpost thumb

I – Góc nhìn chính trị của Aristotle

“Chính trị luận” của Aristotle là một tác phẩm kinh điển mang tính chất đột phá trong lịch sử triết học và chính trị học không phải ở mức độ liệt kê quy mô mà ở tầm nhìn. Trước Aristotle, chính trị chỉ đơn thuần được xem như mối quan hệ giữa người cai trị và người bị trị trong một quốc gia. Thậm chí với Plato, người thầy của Aristotle, chính trị vẫn là một thứ mơ hồ được đóng khung trong mô hình nhà nước lý tưởng. Aristotle thì khác, ông là một triết gia hiếm hoi trong lịch sử thế giới thành công trong vai trò chính trị – là người thầy, cố vấn cho vị hoàng đế vĩ đại nhất Hy Lạp cổ đại: Alexadre Đại Đế. Bởi thế, ông nhìn chính trị với con mắt của người trong cuộc và thấy rằng chính trị là một lĩnh vực tổng thể:

“Cũng giống như trong các ngành khác của khoa học, chính trị cũng vậy, một hợp chất luôn luôn có thể được phân giải ra thành những phần tử đơn giản hay nhỏ nhất của tổng thể. Do đó, chúng ta phải xem xét các phần tử cấu thành nhà nước, hầu có thể thấy được các luật lệ khác nhau của các loại chính quyền khác nhau như thế nào, và có thể rút ra được một kết luận khoa học nào chăng về mỗi loại chính quyền”.

Trước khi là một triết gia, một nhà chính trị, Aristotle đã từng theo học học viện của Plato, và chịu ảnh hưởng trước tác cuối cùng của thày mình là “Luật pháp”. Nhưng sau khi Plato qua đời, Aristotle không phục người kế nhiệm học viện, nên đã rời bỏ Athens, du hành đây đó, thử nghiệm áp dụng tri thức bản thân trong suốt 12 năm. Sau đó, ông và người bạn thân là Xenocrates cùng với một số triết gia khác đã thành lập một Học viện chính trị tại đô thành Troad của vị vua độc tài Hermias. Ông trở thành bạn thân của Hermias và được vua gả cháu gái. Tại đâu, ông hiểu rõ hơn về chế độ quân chủ và hiểu thêm được các nguyên tắc thương mại, ngân hàng từ đô thành này.

Một thời gian sau, Aristotle được vua Philip của xứ Macedonia mời đến Pella để dạy học cho hoàng tử Alexandre. Những tài liệu còn sót lại cho biết, Aristotle đã gửi cho Alexandre hai bản luận cương về “Thuật làm vua” và “Cai trị các thuộc địa”. Sau khi Alexandre thành công, Aristotle trở về Athens và mở học viện Lyceum, thắt chặt mối quan hệ với Antipater – người đề xướng tinh hoa trị (Oligarchy hay còn gọi là Aristocracy).

Sau khi Aristotle qua đời vào năm 322 TCN, tư tưởng chính trị của ông vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến chính trị Athens. Bản hiến pháp của Athens do Antipater soạn thảo tiếp thu quan điểm về quyền đầu phiếu giới hạn trong số dân Athens có tài sản từ 2000 drachmas trở lên, nghĩa là giới hạn trong giới trung lưu. Sau đó, Demetrius, một người học trò của Aristotle lên cai trị Athens và biến những gì Aristotle đã dạy tại Lyceum.

Do có quá trình nghiên cứu về tự nhiên học, siêu hình học và đề xướng ra Logic học, Aristotle viết “Chính trị luận” với cái nhìn quy nạp, đi từ nhỏ đến lớn, từ phần tử đến tổng thể, từ cá nhân đến xã hội, từ cụ thể đến trừu tượng. Lối tư duy này trái ngược hẳn với Plato thày ông, người đã đề xướng chủ thuyết lý tưởng.

  1. “Con người là một sinh vật mang tính chính trị”

“Con người là một sinh vật mang tính chính trị” là câu nói nổi tiếng của Aristotle mà bất cứ ai quan tâm đến chính trị đều thấm thía. Điều đó có nghĩa là, con người khác với con vật ở chỗ có thể ý thức được vai trò của mình trong cộng đồng, Con vật tương tác với nhau do bản năng, còn con người tương tác với nhau không chỉ có bản năng mà còn có ý thức. Tính ý thức ấy chính là tính chính trị.

Trong cộng đồng người, Aristotle cho rằng việc phân chia người cai trị và kẻ bị trị là điều tự nhiên. “Những phần tử có khả năng, nhờ sự khôn ngoan biết tính toan, lo xa, dĩ nhiên trở thành phần tử cai trị, còn những phần tử mà khả năng chỉ do sức mạnh của thể chất mang lại, để làm những gì mà phần tử kia hoạch địch, là phần tử bị trị, đương nhiên ở trong tình trạng nô lệ.” Đây là một định nghĩa sâu sắc về người tự do và nô lệ. Và cho dù các xu thế chính trị mới đề cao giá trị bình đẳng thường bài trừ quan niệm về nô lệ này của Aristotle nhưng thực tế vẫn không thể phủ nhận: người biết tư duy thì có thể có tự do, kẻ không tư duy chỉ biết răm rắp làm theo đó chính là nô lệ. Mối quan hệ phụ thuộc này biểu hiện rõ ngay từ các phần tử nhỏ của xã hội là gia đình, rồi đến các làng mạc. Aristotle phân tích rằng, mối quan hệ giữa người cai trị và bị trị xuất phát từ trong gia đình, tới làng mạc chính là tiền đề cho việc một quốc gia cần có vua cai trị, và ngay cả thần thánh cũng cần tới một vị vua để cai trị.

Từ sự mở rộng và phát triển của làng mạc, nhà nước (polis) ra đời một cách tự nhiên, một bước tiếp theo của gia đình, làng mạc. “Và như thế, nếu các hình thức ban đầu của xã hội là tự nhiên, thì nhà nước cũng vậy, vì nhà nước là kết quả cuối cùng của mọi xã hội, và tính tự nhiên của sự vật chính là chung cục của nó. Vì ta gọi là tự nhiên khi một sự vật được phát triển đầy đủ tới dạng cuối cùng của nó, dù đó là một con người, một con ngựa, hay một gia đình.” Vậy nên, nhà nước là một tất yếu trong bước phát triển nhân loại. Aristotle cho rằng bất cứ ai một cách tự nhiên, chứ không phải do hoàn cảnh khách quan xô đẩy, lại “chọn sống ở ngoài cộng đồng chính trị, thì kẻ đó hoặc là chẳng ra gì, hoặc là một siêu nhân hơn người.” Trong suốt những năm từ 1960 đến nay, phong trào vô chính phủ cực đoan đã cổ vũ lối sống tách biệt khỏi cộng đồng chính trị. Và theo quan niệm của Aristotle những người nằm trong số “chẳng ra gì” hoặc “siêu nhân”, mà tôi tin rằng gần như toàn bộ là “chẳng ra gì”.

Một lập luận mang tính nghịch lý mà rất nhiều người đề cao quyền tự nhiên của con người hẳn sẽ thấy bất bình khi nghe đó là: “Nhà nước hiện hữu bởi tự nhiên và có trước nhân nhân. Chứng cứ của cả hai lập luận này là sự kiện nhà nước là tổng thể, còn cá nhân là cá thể. Mọi cá nhân không thể nào tự túc khi sống cô lập, bởi vì mọi cá nhân là vô vàn các cá thể cùng lệ thuộc vào cái tổng thể, là cái mà chỉ có nó mới đem lại sự sung túc cho tất cả.” và “Cái tổng thể luôn nhất thiết phải hiện hữu trước cá thể theo tự nhiên. Nếu cả cơ thể bị tiêu hủy, thì sẽ chẳng còn cái chân hay cái tay nữa, ngoại trừ theo cái nghĩa mơ hồ mà người ta thường dùng cùng một từ để chỉ các vật khác nhau, như khi ta nói về một cái tay bằng đá, vì một cái tay khi bị tiêu hủy (khi cả thân thể bị tiêu hủy) thì hơn gì một cái tay bằng đá đâu?””

Nếu chúng ta gạt bỏ các định kiến chính trị ngày nay, chúng ta sẽ nhận ra rằng đây là vấn đề cốt lõi của thế giới hiện đại: cuộc đấu tranh giữa hệ thống và tính cá nhân. Hệ thống tổng thể sẽ không dễ dàng sụp đổ khi có vài cá thể tách khỏi. Hệ thống sụp đổ thì chắc chắn cá thể trong hệ thống sẽ không tồn tại nữa, và theo Aristotle thì các cá thể đó đã “mất khả năng thực thi chức năng”. Quan điểm hệ thống có trước cá nhân dễ dàng được Công giáo và các chính trị gia chấp nhận, bởi  nó tạo ra ràng buộc chặt chẽ giữa người dân và nhà nước. Thế nhưng, cái cơ chế ràng buộc ấy có thành công hay không lại lệ thuộc rất nhiều vào việc họ có hiểu đúng kiến giải này của Aristotle hay không. Mặc dù cá nhân lệ thuộc nhiều vào hệ thống và ở trong hệ thống, nhưng không có nghĩa rằng hệ thống có quyền triệt tiêu mọi yếu tố cá nhân. Bởi hơn ai hết, Aristotle cổ vũ cho các công dân tự do, biết tư duy, chứ không phải những cá nhân nô lệ cho hệ thống, chỉ biết phục tùng và tuân theo. Ở đây, ông đặt ra mối ràng buộc này, có nghĩa rằng con người không thể tách khỏi cộng đồng người, không có nghĩa rằng cộng đồng có quyền áp đặt cho từng cá nhân.

Hệ thống xã hội mà Aristotle nhắc đến không phải sự toàn trị, mà là luật pháp và công chính. Đó chính là cột trụ quan trọng nhất của nhà nước. Con người bị tách khỏi luật pháp và công chính thì hoàn toàn có thể trở thành “động vật xấu xa nhất. Bất công trở nên tệ hại hơn đó là là sự bất công được vũ trang”. Một nhà nước khi đã mất đi luật pháp và sự công chính, tức là cột trụ sụp đổ, và tổng thể đó đã bị hủy hoại. Những kẻ trái pháp luật trong hệ thống đó đã là đáng sợ, nhưng đáng sợ hơn cả là những kẻ trái pháp luật được trang bị vũ lực, có quyền dẫm đạp lên sự công bằng.

Từ điểm nhìn này, Aristotle đã đưa ra các nguyên tắc trong quản trị từ gia đình đến nhà nước. Tất cả đều dựa trên sự công chính.

  1. Vấn đề người cai trị và kẻ bị trị

Aristotle định nghĩa về một hộ gia đình như sau: “Thành viên của hộ là tất cả những người sống trong cùng một căn nhà, và một hộ đầy đủ gồm có nô lệ và những người tự do”. Đừng vội cho rằng “nô lệ” mà Aristotle nhắc đến là do ảnh hưởng của chủ nghĩa nông nô và vội bài trừ nó. Hãy quay lại với định nghĩa về người tự do và nô lệ của Aristotle, chúng ta sẽ thấy rằng nô lệ vẫn tồn tại cho đến ngày nay, chỉ khác về tên gọi. Nô lệ, đơn giản là những người không có tư duy độc lập.

Ở thời đại của Aristotle, nô lệ là một tài sản sống, và ông xếp mối quan hệ giữa chủ nhân – nô lệ là quản lý tài sản, cùng với các tài sản vô tri khác. Những người tự do luôn cần nô lệ để phục tùng mình. Và nô lệ chỉ không còn cần thiết khi các tài sản vô tri khác có thể tự vận hành. Vậy thì, việc duy trì trạng thái chủ nhân – nô lệ có phải là một việc tự nhiên không? Ông khẳng định: “Sự việc có kẻ sinh ra để cai trị và kẻ sinh ra để bị trị là một sự việc không những cần thiết mà còn mang lại lợi ích nữa; có những kẻ từ khi lọt lòng mẹ đã được lựa ra để cai trị và những kẻ khác bị trị.”

Ông cho rằng theo tự nhiên, con người có linh hồn và thể xác và linh hồn điều khiển thể xác. Chỉ trong vài trường hợp thể xác điều khiển linh hồn, đó là phản tự nhiên, và nảy sinh cái ác. Những người có sức khỏe và làm việc tay chân thì cần phải bị cai trị bởi những người có tư duy, không những trong quy mô hộ gia đinh mà còn là quy mô quốc gia. Một điểm đặc biệt là Aristotle không đóng khung vấn đề tự do – nô lệ trong danh phận và địa vị xã hội. Hết lần này đến lần khác, ông khẳng định, một cách bẩm sinh, người tự do là độc lập và nô lệ thì lệ thuộc. Đó là do tự nhiên sinh ra không phải do xã hội quy định. Và đương nhiên những người tự do bị rơi vào thân phận nô lệ sẽ không ngừng dành lại tự do của mình, cũng như người nô lệ ở trong thân phận tự do thì vẫn cứ tiếp tục làm nô lệ. Và hiện trạng trái tự nhiên này sẽ gây ra nhiều thiệt hại và gây ra thù nghịch, mâu thuẫn quyền lợi.

Xét về bình diện nhà nước, quan hệ cai trị kiểu chủ nhân – nô lệ này là bất khả thi. Bởi vấn đề của một vị vua phải đối mặt không phải là quản lý những người bẩm sinh là nô lệ mà quản lý những người bẩm sinh là người tự do. Và bởi thế, quản lý nhà nước vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật, và không phải ai cũng có thể đảm nhiệm công việc này.

 

II – Các mô hình nhà nước lý tưởng

  1. Mô hình của Socrate và Plato

Aristotle cho rằng vấn đề cốt lõi của quản trị nhà nước đó là mức độ công – tư giữa công dân và nhà nước, tức là: “Công dân của một nước hoặc có chung mọi thứ, hoặc không có chung thứ gì hết, hoặc là chỉ có chung một số điều nào đó thôi.” Ông phân tích việc sở hữu tư hoàn toàn là điều không thể, bởi “cơ cấu chính trị là một cộng đồng, và cộng đồng thì tối thiểu phải có một chỗ chung”. Ông cũng rất phản đối mô hình của Socrates được Plato kể lại trong cuốn “Cộng hòa”, đó là một mô hình mà ở đó “mọi công dân đều có chung của cải vật chất, và chung cả vợ và con nữa”

Nguyên nhân phê phán mô hình nhà nước Socrates mà ông đưa ra chính là những vấn đề rất thực tế. Socrates cho rằng một nhà nước hoàn hảo là phải đồng nhất, nhưng sự đồng nhất này đi ngược lại tính đa dạng, và bởi thế nó không còn là quốc gia nữa. Aristotle lập luận: “Để tiến tới đồng nhất thì quốc gia phải trở thành một gia đình, và từ gia đình muốn đồng nhất hơn, thì phải rút lại còn cá nhân”. Tức là cơ hội cho độc tài chuyên chế, tức là “phá hoại quốc gia”. Aristotle khẳng định lại: “Quốc gia không phải chỉ là sự tập hợp của nhiều người mà là nhiều người khác nhau, vì sự đồng dạng không tạo thành quốc gia.” Vì vậy, nhiệm vụ của chính trị là đem lại phúc lợi cho quốc gia chứ không phải biến tất cả mọi người thành đồng nhất.

Hơn nữa, vấn đề quan trọng khiến sở hữu chung làm lụn bại quốc gia, đó là, khi tài sản là của chung thì sẽ không ai bảo quản, giống như cha ông chúng ta thường nói “cha chung không ai khóc”. Và một khi tất cả là của chung, tất cả đều bình đẳng theo cách Socrates muốn thì mối quan hệ gia đình, thân nhân sẽ đổ vỡ, tạo điều kiện cho cái ác và bạo lực hoành hành. Một người sẽ không dám làm điều ác với người thân của mình, nhưng sẽ dễ dàng làm điều ác hơn nếu nạn nhân chỉ đơn thuần là người dưng. Do đó, một quốc gia không nên và chắc chắn không thể là một tập hợp đồng nhất với ý tưởng rằng tất cả đều là của chung.

Sở hữu chung, đặc biệt là sở hữu đất đai sẽ là tiền đề gây ra nhiều bất công. Theo lập luận của những người đề cao sở hữu chung đều lập luận rằng đất không của riêng ai, do đó đất đai nên là sở hữu công. Thế nhưng việc chia chác hoa lợi trên mảnh đất thật không dễ dàng, dễ bị ơi vào tình trạng kẻ làm nhiều mà hưởng ít hoặc kẻ làm ít mà hưởng nhiều. Do đó, tài sản nên thuộc sở hữu tư để mỗi người sở hữu chúng đều phải chịu trách nhiệm.

Và nếu sự chia sẻ diễn ra, thì đó không nên là ép buộc mà đến từ lòng tốt tự nhiên. Aristotle cho rằng “bạn bè chia sẻ với nhau mọi điều”. Ở Athens và Sparta, tình bạn được coi trọng. Người dân đều có sở hữu tư, nhưng luôn dành một phần để bạn bè sử dụng, và một phần khác cho người khác dùng chung. Nếu trên đường đi, ai đó thiếu thốn cái gì, thì có thể tự do lấy thứ đó ở bất cứ đâu trên dường. Điều quan trọng của nhà lập pháp, theo Aristotle là phải “tạo ra lòng từ thiện trong mỗi công dân để họ sẵn lòng chia sẻ với nhau”. Những vấn nạn xảy ra trong xã hội sở hữu tư không phải do hệ thống ấy tạo ra, mà là do bản năng xấu xa của con người chưa được gột bỏ. Và bản năng này, trên thực tế, có nguy cơ bùng phát mạnh mẽ hơn ở những xã hội chỉ có sở hữu công.

Vấn đề là, về mặt tự nhiên, con người sinh ra đã ở vị thế hoặc là cai trị hoặc là bị trị, hoặc là người tự do, hoặc là nô lệ. Xã hội Cộng hòa mà Socrates vẽ ra làm lẫn lộn người cai trị và người bị trị, khiến người bị trị phải tư duy như người cai trị, và người cai trị bị chậm lại bởi cái ách nặng nề của kẻ bị trị khoác lên. Và lúc đó, nông dân không làm việc của nông dân, trí thức không làm việc của trí thức.Tất cả điều đó chính là sự bất ổn không phải chỉ ở giai cấp thấp mà cả ở giai cấp cao hơn. Aristotle có đề cập đến một mô hình khá bình đẳng giữa người cai trị và người bị trị, đó là xã hội tại đảo Crete: “nô lệ cũng được hưởng mọi quyền lợi như chủ nhân, ngoại trừ quyền được học tập thể lực và quyền mang vũ khí”.

Phê phán Socrates, tức là Aristotle đã phê phán chính thầy mình là Plato. Sự phê phán này đến từ logic và thực tiễn chính trị mà thày ông là Plato không có nhiều kinh nghiệm. Trái lại với sự thành công của Aristotle, Plato luôn thất bại trên con đường chính trị. Plato chưa bao giờ tham gia vào công cuộc điều hành một quốc gia, nên những vấn đề ông và thày ông là Socrate đặt ra chỉ đơn thuần là chiêm nghiệm và tính toan. Plato khác với Socrate ở điểm, ông không cực đoan với ý tưởng sở hữu công, ông cho phép sở hữu tư nhưng phải tuân thủ các chuẩn mực và giới hạn. Ví dụ như, người dân không được phép có số tài sản quá gấp 5 lần mức quy định. Aristotle cho rằng khi đặt ra giới hạn này, Plato không lường trước được rằng việc giới hạn tài sản sẽ dẫn đến việc giới hạn con cái hoặc một gia đình sẽ bị bần cùng hóa vì giới hạn tài sản không tương xứng với số con. Cùng thời với Plato và Aristotle, một số thành bang cũng xử dụng phương pháp bình đẳng hóa sở hữu tài sản như vậy với hị vọng sẽ giảm thiểu tội ác. Việc này gây ra hiện trạng là dân chủ quá mức, khiến ai cũng được phép trở thành người cai trị. Hơn nữa, Aristotle cho rằng, tội ác gây ra không phải bởi vì kẻ yếu thế muốn được bình đẳng, mà là vì lòng tham. Và không có mức bình đẳng nào thỏa mãn được họ. Cuộc cải cách chính trị đích thực không phải là tạo ra bình đẳng mà là nâng cao ý thức tinh thần của con người vượt lên trên lòng tham.

  1. Mô hình của Hippodamus

Hippodamus của xứ Miletus là người phát minh ra nghệ thuật quy hoạch thành phố, và đã quy hoạch thành phố Piraeus. Hippodamus có tham vọng là quy hoạch một quốc gia có 10.000 dân. Ông chia làm ba phần cho ba lớp người: dân thợ, nông dân và lực lượng vũ trang. Đất đai cũng chia thành ba phần: đất tế tự, đất nuôi quân, đất sinh sống và canh tác. Pháp luật chia thành ba bộ phận chính là: ẩu đả, gây thương tích và án mạng. Do đó, ông duy trì duy nhất một tòa án tối cao để “tái thẩm những trường hợp tòa dưới đã xét xử không đúng.” Ông đề cao việc ghi chép chi tiết về tình trạng của một vụ xét xử, tức là nếu có tội thì ghi là có tội, vô tội thì ghi là vô tội, không thể đi đến kết luận cũng phải ghi là không thể kết luận. Ông phản đối cách biểu quyết của hội đồng để đi đến kết luận ai đó có tội hoặc không.

Hippodamus đặc biệt tưởng thưởng cho những người đưa ra các sách lược cho quốc gia. Ông cũng chăm lo đến phúc lợi xã hội, đặc biệt là với các gia đình tử sĩ. Tầng lớp quan lại do dân bầu ra, và có trách nhiệm chăm lo cho lợi ích cộng đồng.

Aristotle phê phán cách phân chia công dân thành ba loại, và cho tất cả các quyền bình đẳng. Ông cho rằng không thể có sự bình đẳng giữa ba loại người này. Bởi thợ thuyền và nông dân do không được mang vũ khí, nên không có gì khác là nô lệ của giai cấp chiến binh. Và do yếu thế như vậy, hai loại người kể trên không có quyền lực để tham dự vào chính sự. Cũng vì không thể tham dự vào chính sự, họ không thể trung thành với quốc gia. Ngoài ra, hệ thống tòa án của Hippodamus dẫn đến tình trạng độc tài trong phiên tòa, dễ dẫn đến tham nhũng và chạy án.

Ông không giấu được sự mỉa mai với việc vinh danh người đưa ra sách lược cho đất nước, ông cho đó là rỗng tuếch. Vì đó là cơ hội cho “những kẻ chỉ điểm tố cáo những người có tư tưởng cải cách là âm mưu làm loạn.” Hơn nữa, người ta sẽ dễ dàng đưa ra các đề xuất mà không tính toán đến các khía cạnh thực tiễn trong thay đổi. Aristotle phân tích rằng, thay đổi là tốt trong nghệ thuật và khoa học, nhưng với chính trị đó là vấn đề khác. Bởi một nhà cầm quyền có thể ra chính sách nhưng người dân lại lệ thuộc vào tập quán, và luật pháp cần rất nhiều thời gian để có thể thay đổi tập quán, có thể gây ra rất nhiều xáo trộn.

  1. Mô hình của Sparta, Crete và Carthage

Tại Sparta, nông nô luôn luôn tìm cách nổi loạn, trong khi ở Crete, mối quan hệ chủ nô khá ổn định. Tại sao lại có sự khác biệt này?

Sparta là một thành bang cho phép phụ nữ sống phóng túng. Và khi phụ nữ sống phóng túng  thì nền tảng luật pháp cũng lung lay. Hậu quả của việc này đó là sự sùng phụng của cải, và đặc biệt là người chồng bị vợ chi phối. Mỉa mai là, đây là hiện trạng thường thấy trong các dân tộc hiếu võ, ngoại trừ người Celt và một số dân tộc cho phép đồng tính luyến ái nam.

Một vấn đề nữa khiến Sparta suy yếu đó là cơ quan Giám sát viện. Bình luận về cơ quan này, Aristotle kết luận ngắn gọn như sau: “Đây là cơ quan quyền lực cao nhất, nhưng Giám sát viện lại do toàn dân bầu ra trong đám thứ dân, cho nên các chức vụ này dễ rơi vào tay của những người nghèo túng, và người nghèo thì lại dễ bị hối lộ.” Thậm chí, hội đồng trưởng lão của Giám sát viện lại được duy trì đến hết đời, đây là việc phản khoa học vì khi hội đồng này già đi sẽ không thể quản lý tốt được.

Aristotle cực lực phản đối cơ chế bầu cử của Sparta. Bởi vì những người tài thì bị ấn định vào chức vụ, còn ai muốn được bầu thì phải tự ứng cử. “Ở đây cũng như trong những phần khác của hiến pháp, hiển nhiên nhà lập pháp cho thấy ý định của mình là muốn công dân phải có lòng khát khao danh vọng và chức vụ, và ấn định đó là một tiêu chuẩn mà một trưởng lão cần phải có, vì chẳng có ai tự ra ứng cử nếu không muốn có danh vọng. Tuy nhiên, tham danh và tham lợi, hơn bất cứ nhiệt tình nào khác của con người, chính là động lực đưa đến tội ác.”

Thứ duy nhất Sparta coi trọng đó là đức tính duy nhất: đức tính quân nhân. Còn lại, mọi thứ đều tệ hại. Và đó là lý do khiến ngân khố của Sparta luôn thiếu vì phải lo chiến phí, dân thì trốn thuế, quan chức thì móc ngoặc với các thế lực bên ngoài. Tất cả đều dẫn đến một Sparta ngày càng suy thoái.

Crete khá tương đồng với Sparta. Aristotle cho rằng bản hiến pháp của Sparta là bản sao chép lại của Crete. Điểm đặc biệt của Sparta và Crete đó là cả hai thành bang này thực hiện chính sách bữa ăn chung. Ở Sparta, người dân phải trả tiền cho bữa ăn chung. Còn ở Crete thì mọi hoa lợi tập trung lại rồi được chia làm ba phần: tế lễ, công quỹ và bữa ăn chung. Crete khuyến khích mối quan hệ đồng tính và đàn ông hạn chế ở chung với vợ để giảm dân số. Nhờ thế, dù gặp phải tất cả các rắc rối như ở Sparta nhưng Crete vẫn khôn khéo cheo chống.

Mô hình của Carthage  tốt hơn nhiều so với Sparta và Crete dù có chung một cơ cấu chính trị. “Điều này được chứng minh bởi dân thường Carthage luôn trung thành với hiến pháp và người Carthage chưa bao giờ có cuộc nổi loạn đáng kể nào, và chưa hề bị cai trị bởi một bạo chúa.”

Điểm khác biệt: Sparta lựa chọn người giám sát theo bốc thăm, còn Carthage chọn quan chức theo tài năng. Vua của Carthage không cha truyền con nối như Sparta mà vua được bầu bởi gia tộc nổi trội trong từng giai đoạn, và dựa trên tài năng chứ không phải tuổi tác.

Hiến pháp của Carthage dù được xây dựng dựa trên quyền lợi của quý tộc, nhưng chính quyền khá linh động trong từng hoàn cảnh: hoặc dân chủ, hoặc tinh hoa trị. Tùy từng vấn đề, họ có thể đưa ra công chúng để bàn thảo  hay không. Và khi người dân không đồng tình, người dân có thể tự do phản đối. Tuy nhiên, về căn bản, Carthage vẫn là một mô hình điển hình cho tinh hoa trị.

Mặc dù có nhiều ưu điểm, nhưng nền chính trị Carthage cũng không tránh khỏi các khuyết điểm của thể chế tinh hoa trị. Thể chế tinh hoa trị tạo ra cơ hội cho  kẻ giàu dễ dàng mua được các chức vị cao, thậm chí là chức vua. Hơn nữa, hiến pháp cho phép một người giữ nhiều chức vụ, khiến cho công việc chồng cheo và khó hoàn thành nốt, tệ hơn, có thể dẫn đến chuyên quyền. Carthage rất khôn khéo, để tránh các tệ nạn này, họ thực hiện di dân tới định cư ở các thuộc địa. Vấn đề còn lại là ở chỗ, nhà cầm quyền phải đưa ra các phương sách để phòng ngừa nổi loạn từ chính những thuộc địa ấy.

 

III – Các cột trụ của nhà nước

  1. Nhà nước là gì?

Aristotle đưa ra một quan điểm bao quát hơn so với các chính trị gia cùng thời với ông về nhà nước. Nhà nước, theo định nghĩa của ông, “là một hỗn hợp do nhiều bộ phận tạo thành; những bộ phận đó chính là công dân.” Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, ai là công dân. Bởi trong mỗi một thể chế khác nhau, công dân lại khác nhau. Ông cho biết, một công dân ở thể chế dân chủ thì không phải là công dân ở chế độ quả đầu. Ông cho rằng công dân không có nghĩa là một người dân sống ở một quốc gia nào đó. Định nghĩa của Aristotle về công dân là: “Người công dân chỉ cần có một đặc tính duy nhất là người có quyền tham gia vào việc thực thi công lý và đảm nhiệm các chức vụ trong chính quyền.””

Do mỗi chính quyền có một mô hình khác nhau thì công dân lại giới hạn trong các nhóm khác nhau. Ở xã hội dân chủ, người dân thường có thể là công dân. Nhưng ở các xã hội độc tài, dân không có quyền tham chính, nên không thể gọi là công dân. Và nhà nước chỉ hình thành khi “các công dân hợp lại nhằm đạt tới mục đích đời sống”.

Aristotle cũng đặt ra một vấn đề gây nhiều tranh cãi, ngay cả với tình trạng nước ta hiện nay: Một người dân tốt liệu có phải là một công dân tốt hay không? Ông khẳng định hai việc này rất khác nhau. Công dân có trách nhiệm giữ cho xã hội được an toàn, vận hành tốt, giống như người thủy thủ có trách nhiệm giữ cho con tàu phải giữ đúng hải trình và cập bến an toàn. Nên người công dân tốt không nhất thiết phải có đức tính tốt. Nhưng tất cả mọi người nếu là công dân tốt thì nhà nước đó là tuyệt hảo.Tục ngữ cổ Hy Lạp có câu: “Kẻ nào chưa từng vâng lời, không thể trở thành một người chỉ huy giỏi”. Đó là khi “biết cách cai trị như một người tự do và biết cách vâng lời như một người tự do”. Điều này đúng với mọi kẻ mong muốn mình trở thành kẻ cai trị vĩ đại. Bởi không biết tuân phục thì không có cái nhìn bên trong của hệ thống, và bởi thế không hiểu về hệ thống đủ để thay đổi nó. Để trở thành một lãnh đạo giỏi, cần có cả hai đức tính: công dân tốt và người tốt.

 

  1. Chế độ quả đầu, Chế độ dân chủ và Pháp luật

Aristotle phân tích rằng “hiến pháp và chính quyền có cùng một nghĩa, và chính quyền, tức là quyền uy tối thượng trong một nước, phải nằm trong tay của một người, hay của một vài người, hay thuộc về nhiều người.” Những nước mà quyền lực nằm trong tay một người hay nhóm người, theo Aristotle, đó là “hủ bại”. Bởi người dân, chỉ khi là công dân thì mới tham gia vào chính sự.

Hiến pháp có vai trò cốt lõi để xem xét cơ cấu chính quyền. Thông qua Hiến pháp, ta có thể biết được cơ cấu chính quyền nào “gần với cơ cấu lý tưởng nhất, trong hoàn cảnh lý tưởng nhất” và xem cách thực thi hiến pháp trên các quốc gia. Một nhà lập pháp cần phải phân tích và chọn lựa cơ cấu chính trị dựa trên thực tế, bởi theo Aristotle, các nhà tư tưởng chính trị thường không có thực tế.

Aristotle vạch ra một sự phân biệt sẽ gây chấn động với chúng ta ngày nay như sau: “ta thấy có ba mô hình đúng đắn: quân chủ, tinh hoa trị và chính quyền theo hiến pháp; và ba mô hình hủ bại – bạo chúa, quả đầu và dân chủ.” Ông không đồng ý với lập luận của thày ông là Plato rằng “khi mọi thể chế đều tốt thì chế độ dân chủ là chế độ xấu nhất, nhưng khi mọi chế độ đều xấu hết, thì chế độ dân chủ là chế độ tốt nhất”. Về căn bản, các mô hình nhà nước thời đó vẫn được chia thành hai loại: quả đầu (tức nhóm thiểu số nắm quyền) và dân chủ (tức nhóm đa số nắm quyền). Aristotle thì không chia như vậy, ông phân loại theo kiểu: cơ cấu nào tử tế và cơ cấu nào hủ bại

Quyền lực khi tập hợp vào cá nhân thì gọi đó là quân chủ, mà hình thức “hủ bại” là bạo chúa. Quyền lực tập trung vào một nhóm người thì gọi đó là tinh họa trị, và hình thức “hủ bại” là quả đầu. Quyền lực cho nhiều người, ta gọi đó là dân chủ. Nhưng cả ba thể chế này, Aristotle đều cho rằng không hề quan tâm đến quyền lợi của quốc gia, bởi vì “Bạo chúa hủ bại vì nhà vua chỉ chăm lo quyền lợ của vương thất, quả đầu chỉ lo cho quyền lợi của kẻ giàu, và dân chủ chi lo cho quyền lợi của dân nghèo”

Sự khác biệt giữa quả đầu và dân chủ nhiều người cho rằng ở vấn đề thiểu số cầm quyền hay đa số cầm quyền. Sự khác biệt nằm ở tài sản, và sự khác biệt này luôn đặt ra các vấn đề về bình đẳng. Nếu chế độ dân chủ được sử dụng, tức là số đông cầm quyền. Liệu có thể lấy tài sản của người giàu để chia cho người nghèo không? Chắc chắn là không. Và đương nhiên, nếu nhóm giàu có cầm quyền, lòng tham sẽ khiến họ nhân danh nhiều thứ để tước đi tài sản của người dân. Cả hai chế độ này đều bỏ qua một vấn đề cốt lõi trong xã hội, đó là đạo đức. Bởi để một xã hội vận hành, không đơn giản chỉ dựa trên việc nhóm nào cầm quyền, mà còn dựa vào cột trụ đạo đức.

Tuy nhiên, dù không thích tình trạng số đông nắm quyền, nhưng ông vẫn phải thừa nhận số đông sẽ ưu việt hơn thiểu số tài năng. Bởi vì, một tập hợp những người dân làng nhàng, khi được tổ chức tốt sẽ có khả năng thực thi tốt hơn. Đương nhiên, không thể tránh khỏi nguy cơ những kẻ dốt nát sẽ dễ dàng tham chính. Nhưng nếu không cho những kẻ dốt nát ấy tham chính thì chính quyền còn phải đối mặt với nguy cơ nguy hiểm hơn, đó là đẩy những kẻ dốt nát ấy vào tình trạng đối nghịch và phản loạn. Chính quyền dân chủ, tạm thời là ưu việt, nhưng vẫn có rất nhiều vấn đề, mà vấn đề chủ chốt chính là dân trí. Vì đám đông với dân trí thấp sẽ tạo ra một thể chế với các lựa chọn sai lầm, những cuộc đấu tố kinh hoàng.

Vậy thì, dù là chế độ quả đầu hay dân chủ, các quy định về pháp luật là thước đo quan trọng hơn cả. Pháp luật sẽ bù đắp được những khiếm khuyết của dân trí ở chế độ dân chủ và ràng buộc được nhóm lợi ích lam quyền ở chế độ quả đầu. “Từ đó, ta có thể suy ra rằng một chính quyền được thiết lập đúng đắn sẽ nhất thiết có luật pháp công chính, còn những chính quyền được thiết lập sai lầm thì sẽ có bất công.

Cũng giống như mọi nhà chính trị, Aristotle cho rằng luật pháp bình đẳng với tất cả mọi công dân. Nhưng ông cũng cho rằng luật pháp bình đẳng này  chỉ có tác dụng với những người có tài năng hạng trung, ngang bằng với nhau về khả năng. Luật pháp không có tác dụng với người siêu tuyệt, bởi lấy một thứ pháp luật cho người hạng trung để kiểm soát người bậc cao, đó là không thể.

“Nếu có người nào hay một số người nào, dù không đủ số để tạo thành một quốc gia đầy đủ, nhưng tài năng và đức độ siêu tuyệt hơn tất cả mọi người cộng lại, thì kẻ đó hay nhóm người đó không thể được coi là một phần tử của quốc gia nữa. Bởi vì đối với họ đó là điều bất công nếu được đối xử bình đẳng như những người khác có tài năng và đức độ kém hơn. Những người siêu tuyệt như vậy chỉ có thể là thần thánh chứ không thể là người. Như thế, ta thấy rằng luật pháp chỉ liên quan tới những người bình đẳng về tài năng và gia thế, còn đối với những người siêu tuyệt như vậy thì không có luật lệ nào ràng buộc họ. Chính họ là pháp luật. Và thật lố bịch khi có những người đòi làm luật để kiềm chế họ, vì họ sẽ trả lời như trong truyện ngụ ngôn về con sư tử và đàn thỏ của Anthithenes: Khi đàn thỏ đòi bình quyền cho mọi loài súc vật, sư tử hỏi rằng các ngươi có nanh vuốt không mà đòi hỏi bình quyền?’’

Ở các chế độ dân chủ thời cổ Hy Lạp, nhiều người hùng tài ba đã bị đẩy ra nước ngoài. Trong truyền thuyết cũng nhắc đến đoàn thuyền Augonaut đã bỏ Hercules lại, không cho chàng về Argo vì sợ tài năng của chàng sẽ lấn át tất cả. Các chính quyền, dù ở chế độ nào vẫn không thể đưa ra một chính sách hợp lý với các phần tử vượt trội này. Chỉ có hai cách, hoặc đẩy họ đi, hoặc để họ làm vua cho tới chết. Bởi một bậc siêu thuyệt thì xứng đáng được làm vua. (Ở xã hội ngày nay, các bậc siêu tuyệt có lẽ sẽ không thể làm vua, vì họ sẽ bị đưa vào các phòng thí nghiệm để theo dõi và nghiên cứu)

  1. Các mô hình quân chủ

Theo cách nhìn nhận của Aristotle, mô hình quân chủ là mô hình đúng đắn nhất của chính quyền. Nhưng mô hình quân chủ, ngay thời bấy giờ cũng được chia ra làm rất nhiều loại.

Quân chủ được lập nên bởi pháp luật (mô hình tại Sparta) được xem là mẫu mực nhất. Quyền lực của nhà vua không được xem là tuyệt đối, trừ trường hợp xuất chinh hoặc các vấn đề tôn giáo. Vị vua này có thể do kế vị hoặc do dân bầu.

Mô hình quân chủ chuyên chế được nhiều quốc gia phương Đông (ý nói khu vực Lưỡng Hà và Ai Cập) áp dụng. Các vị vua thường coi người dân là nô lệ. Nhưng chế độ này, theo Aristotle đánh giá là ”bền vững và không sợ bị lật đổ vì được xem là hợp pháp và đời cha xuống đời con”. Tại đây, người dân tô vinh vua của họ thật sự, cấm vệ quân cho vua được tuyển từ dân; khác hẳn với chế độ bạo chúa, cấm vệ quân thường là lính đánh thuê và dân bị cưỡng bức tuân phục.

Mô hình quân chủ độc tài (Aesymnetia), tồn tại ở Hy Lạp thời cổ. Mô hình này có thể gọi là “quả đầu qua bầu cử”, tức là người dân bầu lên vị vua của mình, tùy theo nhiệm kỳ, nhiệm vụ hoặc trọn đời.

Mô hình quân chủ thế tập ở Thời đại anh hùng trong khu vực Địa Trung Hải. Các vị vua có truyền thống cha truyền con nối với quyền lực bao trùm. Nhưng dần dần, các vị vua này giao lại một số đặc quyền cho dân, còn mình giữ vai trò tế tự hoặc khi viễn chinh.

 

 

  1. Mô hình Tinh hoa trị và Hiến định

Aristotle dành rất nhiều ca ngợi cho mô hình Tinh hoa trị (ở bản dịch ghi là mô hình quý tộc). Ông định nghĩa mô hình này như sau: “Một chế độ chỉ được gọi là tinh hoa trị một cách đúng đăn nếu đó là một chế độ điều hành bởi những người tài đức nhất, hiểu theo nghĩa tuyệt đối, chứ không phải là những người tài giỏi theo một tiêu chuẩn nào đó.

Mô hình Hiến đình là mô hình phức hợp giữa chế độ quả đầu và chế độ dân chủ. Mô hình Hiến định được quy định bởi hiến pháp chung, thỏa thuận giữa nhóm đa số và nhóm thiểu số. Do đó các chính sách sẽ không hoàn toàn đi theo quyết định của số đông, bởi số đông có thể đưa ra các quyết định sai lầm.

Mô hình Tinh hoa trị là một mô hình hoàn hảo nhưng quá khó để đi theo bởi rất khó để khẳng định tài năng và đức độ của một người vượt trội. Trên thực tế, chưa có một nhà nước nào đạt đến Tinh hoa trị. Thông thường, các nhà nước sẽ chuyển sang hệ thống Hiến định. Hệ thống hiến định hướng con người đến sự trung dung. Tức là, “một đời sống hạnh phúc là một đời sống theo đức hạnh và có đủ phương tiện vật chất để sinh sống, và đức hành là số trung bình cộng hay sự trung dung, thì đời sống trung dung và có số trung bình mà ai củng có thể đạt được phải là đời sống tốt đẹp nhất.

Mô hình Hiến định được xây dựng bởi lớp trung lưu, không quá giàu cũng không quá nghèo. Aristotle phân tích rằng những người quá giàu hoặc quá vượt trội về tài năng sẽ không có khả năng lý trí, dễ phạm tội lớn. Những người quá nghèo sẽ bị lòng tham và sinh tồn chi phối, cũng không thể có khả năng lý trí, dễ trở thành lưu manh. Vì vậy, những người ở giữa, tức giai cấp trung lưu, nên chiếm đa số, như thế tình trạng bình đẳng sẽ dễ dàng diễn ra hơn.

Ông kết luận: “Một nước được thành lập bởi đa số công dân thuộc thành phần trung lưu chắc chắn phải là một nước có chế độ chính trị tốt nhất bởi vì họ cũng giống như những sợi chỉ dệt thành tấm vải quốc gia. Thành phần công dân trung lưu là thành phần ổn định và chắc chắn nhất của một nước, vì họ không như người nghèo thèm thuồng tài vật của hàng xóm, mà cũng không ai thèm thuồng của cải thuộc vào loại thường thường bậc trung của họ, vì người nghèo ham muốn tài vật của người giàu. Họ cũng chẳng thèm âm mưu hại lẫn nhau, mà cũng chẳng có ai thèm âm mưu làm hại đến họ, cho nên , họ sống một đời sống an toàn.” Tất cả những điều ấy khiến giai cấp trung lưu đóng vai trò quyết định. Hoàn hảo nhất là giai cấp trung lưu chiếm đa số, còn nếu không tối thiểu phải đông hơn một trong hai nhóm đối nghịch là giàu và nghèo. Khi ấy, sự quyết định của giai cấp trung lưu sẽ đóng vai trò then chốt trong cán cân chính trị và ngăn không cho các phần tử cực đoan thống trị.

Trên thực tế, mô hình trung dung này cũng rất khó thực hiện. Như Aristotle thống kê thì chỉ có duy nhất một vị vua thực hiện được, có thể là Theramenes, lãnh đạo Athens năm 411TCN. Tại Athens bấy giờ, quyền lực chính trị nằm trong tay 5000 công dân có khả năng tự chiến đấu. Một giả thuyết khác đặt ra thì chế độ trung dung đó chính là do Nhiếp chính  của Alexandre Đại đế là Antipater, bạn thân của Aristotle thực hiện tại Hy Lạp. Tôi cho rằng, người mà Aristotle nhắc đến khả năng là Antipater, bởi vì Antipater và Aristotle thường xuyên chia sẻ tầm nhìn chính trị, nên việc hai người cùng hướng tới mô hình trung dung này là điều dễ hiểu.

 

  1. Các cuộc Cách mạng

Các cuộc Cách mạng, như Aristotle nói, đều đến từ việc các nhóm giàu và nghèo cảm thấy bị đối xử bất bình đẳng. Trong khi ấy, những người có tài xuất chúng mới thực sự là người bị đối xử bất bình đẳng thì họ  lại ít khi nổi loạn. Còn những người xuất thân danh giá thường có xu hướng nổi loạn hơn. Các cuộc Cách mạng được chia làm hai loại. Một là nhằm thay đổi hiến pháp, tức là thay đổi cơ chế và mô hình chính trị. Ở mức độ nhẹ hơn, Cách mạng sẽ góp phần thay đổi một phần nào đó trong Hiến pháp. Hai là loại Cách mạng chỉ nhắm vào những cơ quan của chính quyền.

Đối với quan chức, danh vọng và đấu đá phe cánh là nguyên nhân dẫn đến nổi loạn. Với tình trạng chia bè kết cánh này, các phe sẽ đi ngược lại với hiến pháp để kiếm lợi, đục khoét công quỹ hoặc bóc lột người dân. Một nhóm cảm thấy ghen tị vì danh vọng và quyền lực không bằng nhóm khác có thể dẫn đến nổi dậy.

Một nguyên nhân đối nghịch với tự mãn về danh vọng đó là sự sợ hãi. Sự sợ hãi có thể đến từ hai phía, và thường là sợ hãi mình bị tước quyền, không được đối xử bình đẳng. Người giàu nổi loạn vì sợ đám đông dân chúng sẽ triệt hạ họ hay người nghèo nổi loạn vì sợ chính quyền tước đoạt các quyền lợi… tất cả đều đến từ sự sợ hãi.

Nguyên nhân nghiêm trọng nhất của Cách mạng là do khác biệt sắc tộc. Nên nhớ rằng khu vực Địa Trung Hải là một trong các khu vực phức tạp nhất về sắc tộc trên thế giới. Nếu dân nhập cư nhiều mà chưa có đủ thời gian để các sắc dân học cách tồn tại với nhau thì đó chính là nguyên nhân dẫn đến nổi loạn.

Lãnh thổ có thể cũng là vấn đề dẫn đến nổi loạn. Khi một quốc gia quá rộng và quá nhiều khu tự trị, chính quyền trung ương sẽ không thể thâu tóm được, dần dần hình thành nên sự không tương đồng, và cuối cùng là ly khai, có ly khai là sẽ có nổi loạn.

Nhưng cho dù là nguyên nhân gì thì điểm mấu chốt dẫn đến nổi loạn đa số đều đến từ những va chạm rất nhỏ của các nhóm quyền lợi, như một giọt nước tràn ly. Những cuộc nổi loạn này sẽ thường dẫn tới thay đổi mô hình xã hội một cách đột nngôt, đảo qua giữa hai thái cực. Tình trạng này dễ dàng diễn ra khi tầng lớp trung lưu không đủ đông để giữ cân  bằng.

Ở chế độ dân chủ, tình trạng nổi loạn gây lật đổ thường đến từ sự thật. Ở các xã hội dân chủ, thuật hùng biện và tranh biện rất phát triển. Thuật này là cách thức để các chính trị gia thuyết phục người dân tín nhiệm mình. Nhưng khi sự thật bị lật tẩy, người dân ý thức rằng tất cả chỉ là lừa mị, họ sẽ nổi dậy.

Ở chế độ quả đầu, tình trạng nổi loạn và lật đổ thường đến từ chính nội bộ. Các nhóm quyền lợi trong chính quyền sẽ không bao giờ vừa lòng với những vị trí họ có. Vậy nên, tranh chấp quyền lực chắc chắn sẽ diễn ra.

Ở chế độ tinh hoa và pháp định thì thường bị lật đổ do không giữ được các nguyên tác công chính. Nếu hiến pháp chung của người giàu và người nghèo không được tôn trọng thì nguy cơ bất bình đẳng sẽ diễn ra. Chắc chắn một nhóm sẽ nổi dậy để chống lại nhóm đang thắng thế.

 

  1. Làm thế nào để duy trì độc tài

Chế độ độc tài những tưởng sẽ khiến người dân bức xúc mà nổi dậy, nhưng thực ra các triều đại độc tài đều duy trì khá lâu. Hiện nay, chúng ta đều mặc định rằng độc tài là xấu, còn dân chủ là tốt. Nhưng Aristotle thì khác, ông cho rằng đó chỉ là hai mặt của một vấn đề mà thôi, vì ông cho rằng dân chủ mà cực đoan quá mức sẽ dẫn đến độc tài.

Nguyên nhân một nhà độc tài bị lật đổ chính là lòng oán ghét và sự khinh miệt của người dân. Chính trong chế độ độc tài, người làm vua lại càng phải chăm lo nhiều hơn cho lòng dân. Vậy thì làm thế nào để có được lòng dân?

Aristotle đề xướng: “Quyền lực của nhà vua càng bị giới hạn chừng nào thì quyền lực càng giữ được nguyên vẹn, bởi vì như vậy thì sự cai trị của nhà vua sẽ ôn hòa và không bị dân ghen ghét.

Những nhà độc tài cực đoan sẽ luôn triệt hạ những người vượt trội, có chí khí, cấm hội họp, cấm ăn chung, dạy học và giám sát người dân bằng mọi cách. Văn học nghệ thuật trong xã hội độc tài cực đoan cũng bị cấm. Chính quyền sẽ luôn gây cản trở trong việc quen biết và trao đổi giữa người dân. Từ vấn đề giám sát người dân để ngăn ngừa nổi loạn đã hình thành nên lớp người chỉ điểm, xuất hiện trong các cuộc hội họp. Chính kẻ chỉ điểm này là thứ đáng sợ nhất gây chia rẽ trầm trọng giữa nhà độc tài và người dân, bởi chúng khiến cho người dân e ngại, không dám nói lên sự thật.

Để độc tài duy trì quyền lực tốt hơn, chính quyền luôn phải gây ra chia rẽ dẫn đến tranh cãi trong người dân. Hoặc đơn giản hơn là khiến dân bị bần cùng hóa (nhưng không quá mức), vừa đủ để người dân luôn luôn phải lo kiếm sống mà không có tâm sức để làm loạn nữa. Một xã hội độc tài thường sẽ đề cao thái quá quyền lực của người phụ nữ, để người phụ nữ đóng vai trò chủ chốt trong gia đình, như thế người vợ sẽ báo cáo với chính quyền về tình trạng của người chồng nếu người chồng có ý định làm loạn. Và đương nhiên, không có chỗ cho những tư duy độc lập trong một xã hội độc tài, bởi nhà độc tài chỉ cần những người biết nghe lời và đặc biệt trọng dụng kẻ nịnh hót.

Đúc rút lại nguyên tắc để duy trì độc tài, Aristotle tổng kết các chính sách ấy như sau:

“Đó là làm mất phẩm giá của thần dân, vì những người có ý chí thấp kém thì sẽ chẳng dám âm mưu chống lại ai; tạo sự nghi kỵ giữa đám thần dân với nhau, vì chẳng ai dám lật đổ nhà độc tài cho đến khi người dân bắt đầu có sự tin tưởng lẫn nhau; đó cũng là lý do tại sao nhà độc tài luôn tìm cách đàn áp người tốt vì không những không thể cai trị họ một cách độc đoán, mà còn vì họ luôn trung thành với nhau; nhà độc tài muốn cho thần dân của mình không có khả năng hành động, bởi vì chẳng ai lại đi làm một việc bất khả thi. Nếu họ bất lực thì họ sẽ không nghĩ đến cánh lật đổ nhà độc tài.”

Nếu chỉ bằng các phương thức hạn chế như vậy, nhà độc tài sẽ không thể duy trì quyền lực tốt, họ cần các cách thức khác để tạo hình ảnh, tạo phong thái của một vị vua, chúng ta vẫn gọi đó là “mị dân”. Ví dụ như: quan tâm đến công quỹ và tỏ ra minh bạch công quỹ; thu thuế của người dân là vì lợi ích chung; luôn phải tỏ ra uy nghiêm; tránh say mê phụ nữ và hưởng lạc. Những nhà độc tài thường tỏ ra “là một người phục vụ Thượng Đế một cách nhiệt thành” để lấy niềm tin của dân chúng, khiến dân chúng tin rằng ông ta đang đại diện cho Chúa. Ở các xã hội độc tài, các vị vua cần phải trọng dụng người có tài tới mức các tài năng sẽ trung thành với quốc gia. Đối với cả hai giai cấp giàu nghèo, nhà độc tài luôn tỏ ra là công bằng, và lực lượng nào mạnh hơn thì sẽ được lựa chọn để sát nhập.

Chuyển từ quân chủ sang độc tài, theo như Aristotle nói, là bước đầu dẫn đến sụp đổ. Nhưng độc tài khi không thực hiện các chiêu trò mị dân thì chắc chắn sẽ sụp đổ.

 

IV- Giáo dục và lý tưởng chính trị

  1. Quốc gia lý tưởng

So với các phần trước, thuần túy về mô hình chính trị và lập luận thì ở chương về giáo dục, Aristotle trở lại với các chiêm nghiệm về cuôc sống:

“Những ai muốn tìm hiểu mô hfinh chính quyền nào là mô hình tốt đẹp nhất, trước hết phải xác định xem một cuộc đời đáng sống nhất là một đời sống như thế nào. Khi ta còn chưa biết chắc về điều này, thì ta cũng không biết chắc được cái mô hình chính quyền nào là tốt đẹp nhất. Tuy nhiên trong trật tự của thiên nhiên, ta có thể đoán được những người sống một đời sống tốt đẹp là những người được sống trong một chính thể tốt dẹp nhất mà hoàn cảnh cho phép. Do đó, trước hết, ta nên xác định thế nào là một cuộc đời đáng sống, và xem xét một đời sống như vậy có phải là một đời sốn tốt đẹp nhất cho cả cá nhân và chế độ hay không?

Aristotle kết luận, những người còn độc ác và tham lam thì không thể có cuộc sống hạnh phúc. Chỉ những người có đức hạnh, tức là những người có đời sống tinh thần cao, mới có được hạnh phúc. Vậy thì, một xã hội được gọi là tốt đẹp một cách lý tưởng là xã hội đạt tới các đức hạnh tinh thần và người dân có đầy đủ thể chất, vật chất để thực hiện những đức hạnh đó.

Hạnh phúc của các cá nhân cũng phản ánh lên hạnh phúc của một quốc gia. Khi một quốc gia đề cao sự giàu có của vật chất tức là các cá nhân của quốc gia ấy cũng đang quan niệm rằng sự giàu có mang lại hạnh phúc. Tương tự như thế với uy quyền hay đức hạnh. Một chính quyền khôn khéo sẽ biết cách điều phối các quan điểm về hạnh phúc để thích hợp với tất cả các cá nhân. Và quan trọng, những người nắm chính quyền phải là người đề cao đức hạnh chứ không phải là vật chất hay uy quyền.

Có một mâu thuẫn trong vấn đề đức hạnh, đó là tự do và đời sống chính trị. Luôn có mâu thuẫn giữa hai đời sống này, và phe nào cũng có đủ lập luận để thuyết phục rằng đời sống ấy là đáng sống nhưng Aristotle thì cho rằng người thật sự có tài đức siêu tuyệt là người vừa có đức hạnh vừa có khả năng hành động.

Trong phần này, Aristotle đưa ra một định nghĩa về một quốc gia lý tưởng, rất khác biệt với các tư duy chính trị thời bấy giờ. Quan niệm về một quốc gia tốt của thời bấy giờ về một quốc gia mạnh đó là phải có dân số đông và lãnh thổ rộng lớn, nhưng một quốc gia chỉ có thể phát triển tốt nhất khi nó được tận dụng tất cả các tính năng và vai trò của nó. Một nước đông dân thường dẫn khó cai trị bằng pháp luật và dễ dẫn đến bất ổn. Diện tích lãnh thổ của một quốc gia không cần quá lớn, nhưng đất đai phải đủ để cung cấp nông phẩm và dân sống thoải mái.

Địa thế của một quốc gia được gọi là lý tưởng khi nó đủ hiểm trở để ngăn giặc nhưng đủ thuận tiện cho dân cư đi lại, và đặc biệt là dễ quan sát. Thủ đô của một quốc gia thì cần phải ở chỗ thuận tiện giao thông cả đường bộ và đường thủy, để có thể vừa là trung tâm quân sự vừa là trung tâm thương mại.

Aristotle rất phản đối các quan điểm biến quốc gia của mình thành địa điểm buôn bán của bốn phương. Giao thương buôn bán với nước ngoài quá nhiều sẽ khiến việc cai trị gặp khó khăn và các nguy cơ về quốc phòng. Đương nhiên, một nước có cảng biển sẽ thuận tiện cho phát triển và phòng thủ hơn nhiều so với một nước không có cảng. Việc trao đổi buôn bán các mặt hàng với nước ngoài cũng là điều cần thiết, nhưng không nên để các mặt hàng nước ngoài lấn lướt hàng nội địa. Ông cho rằng: “Thực ra một nước nên trở thành một thị trường để đáp ứng nhu cầu của chính mình, chứ đừng nên trở thành một thị trường cho những nước khác vào buon bán. Những nước trở thành thị trường cho thế giới buôn bán là những nước nhằm tìm kiếm lợi nhuận, nhưng một nước không nên tìm kiếm những lợi nhuận như vậy, bởi thế, một quốc gia không nên biến mình thành nơi thị tứ cho thế giới”. Thiết kế tường thành ở cảng biến phải có tính phòng thủ cao và các luật lệ phải chặt chẽ để chắn những ảnh hưởng xấu do nước ngoài mang đến.

Chất lượng dân cư cũng là yếu tố Aristotle coi trọng, mà giá trị ông đề cao chính là lòng yêu chuộng tự do và sự khôn ngoan. Ông cho rằng, người dân ở phương Bắc sống tự do nhưng thiếu khôn ngoan, còn người dân ở phương Đông khôn ngoan nhưng thiếu đi nhiệt huyết, vì thế, người Hy Lạp ở giữa, có được đặc tính ở cả hai.

Việc phân chia giai cấp được Aristotle ủng hộ. Ông cho rằng công dân thì nên cho sở hữu đất đai và vũ trang để họ tự bảo vệ đất của mình. Nhưng các công dân đó thì không nên làm nghề nông. Để làm nghề nông, tốt nhất là đi bắt người chủng tộc khác thấp kém hơn, quen với đời sống nô lệ để làm nghề nông.

Cũng trong chương này, ông giới thiệu rất nhiều các mô hình về quy hoạch đô thị theo kiểu Hippodamus, quy hoạch chiến lũy, hải cảng, cách thiết kế các địa điểm ăn chung…v…v… Nhưng quan trọng hơn hết, để điều hành các đô thị ấy, pháp luật cần phải công chính.

Ông không cho rằng một nhà cầm quyền nên kéo dài quyền lực của mình mà nên thay đổi theo nhiệm kỳ, vì trên thực tế người cai trị đa phần cũng chẳng khá hơn người dân là mấy. Thay phiên nhau làm quan, làm dân thường… là cách thức để hệ thống vận hành trơn tru hơn, tránh tình trạng kẻ bất tài nắm quyền lâu dài.

Aristotle khác với Hippodamus, ông luôn chia sự vật và sự việc thành hai thái cực. Tinh thần con người, theo ông được chia thành lý trí và lý tính (thường chúng ta hay nhầm hai khái niệm này với nhau). Lý trí là tư duy, còn lý tính cao hơn cả lý trí bởi đó thứ dẫn hướng hành động và tư duy. Đời sống con người cũng được chia làm hai loại là ”công việc và thư nhàn, hay chiến tranh và hòa bình”. Việc một ai đó lựa chọn hành động như thế nào là dựa trên sự dẫn dắt của lý tính. Người dân trong một nước lý tưởng phải có khả năng chiến đấu trong chiến tranh và khả năng thư nhàn trong hòa bình, họ phải vừa là một công dân tốt và hướng tới việc là một người tốt.

  1. Giáo dục

Aristotle đồng ý với các nhà lập pháp khác về vấn đề giáo dục tuổi trẻ nên là mối quan tâm hàng đầu, vì khi giáo dục xuống cấp thì cơ cấu chính trị sẽ bị phá vỡ. Nền giáo dục là công cụ của nhà cầm quyền để phục vụ mô hình chính trị, và do đó phản ánh toàn bộ đặc tính của mô hình ấy. Do đó, một nền chính trị tốt chắc chắn sẽ có mô hình giáo dục tốt.

Aristotle cổ vũ mô hình giáo dục công lập và phản đối giáo dục tư nhân, vì giáo dục tư nhân không nhắm đến “những điều mang lại lợi ích chung cho mọi người”. Không thể lập luận rằng vì mỗi cá nhân khác biệt nên giáo dục khác nhau được, vì một phần tử không thể tách khỏi cộng đồng. Vấn đề ở chỗ, nền giáo dục công lập này nên được tổ chức như thế nào và hướng tới cái gì. Người dân kỳ vọng nền giáo dục hướng tới điều hữu ích trong cuộc sống, nhưng có phải điều hữu ích nào cũng nên được dậy hay không? Có điều hữu ích hạ tiện và có điều hữu ích cho người tự do. Aristotle cho rằng chỉ nên dậy cho trẻ những ngành nghệ thuật hay khoa học giúp cho thể chết và tâm trí trở nên cao cả. Ông bài trừ việc dậy những gì giúp trẻ con sau này lớn lên đi làm nghề nhận lương, vì cho rằng những thứ đó làm thui chột cả thể chất và tinh thần.

Thời bấy giờ ở Hy Lạp thường có 4 môn học: đọc viết, thể dục, âm nhạc và hội họa. Trong 4 môn học này, đọc viết và vẽ được xem là hữu ích cho cuộc sống, còn thể dục là để rèn luyện lòng can đảm. Riêng âm nhạc, ông cho biết, nhiều người vẫn hoài nghi về độ hữu ích, thậm chí còn bị xem là giải trí. Aristotle khẳng định lại, âm nhạc rất cần thiết, cần thiết cho sự thư nhàn, và “nguyên tắc đầu tiên của mọi hành động là sự thư nhàn””, thậm chí, sự thư nhàn còn quan trọng hơn cả nghề nghiệp. Thư nhàn là lúc để có những trải nghiệm tinh thần và hướng tới điều cao cả hơn. Môn đọc viết không nên chỉ coi như việc hữu ích trong xã hội mà là phương tiện để thu thập thêm nhiều kiến thức. Tương tự như vậy, hội họa không chỉ dừng ở phân biệt thật giả để tránh bị lừa gạt khi mua bán, mà nên tập cho chúng khả năng quan sát và trình độ thẩm mỹ. Bởi thế, nếu cái học chỉ hướng tới sự hữu ích thi vẫn cứ là thấp kém, cái học phải hướng tới tự do và thăng hoa.

Aristotle còn dành hẳn một chương để bàn về âm nhạc, về việc tại sao phải giáo dục âm nhạc trong nhà trường. Âm nhạc với ông, không phải đơn thuần là trò “tiêu khiển và thư giãn” như “ngủ nghê và uống rượu”. Ông cho rằng “âm nhạc dẫn đến việc hình thành đức hạnh, vì âm nhạc có thể uốn nắn được tâm trí và làm cho ta cảm được niềm vui thú thực sự”, và hơn cả thế, “âm nhạc làm tâm hồn ta hân hoan”. Đó chính là “cứu cánh hoàn hảo”, là lý do quan trọng để bộ môn âm nhạc tiếp tục ngự trị nền giáo dục. Ngoài ra, “Tiết điệu và âm điệu của âm nhạc mô phỏng được sự dịu dàng và phẫn nộ, cũng như sự can đảm và twj chủ, cũng như tất cả những tính cách tương phản với đức tính này, những tính cách rất giống với tình cảm thực sự ta từng cảm nhận được, vì khi nghe những âm điệu như vậy, tâm hồn ta cũng thay đổi theo.”

Điểm đặc biệt của các chương bàn về giáo dục của Aristotle đó là ông nói rất nhiều về âm nhạc và chơi đùa. Ngay sau chương bàn về âm nhạc, ông lại dành một chương khác về việc có nên dậy trẻ con tập nhạc và chơi đùa không. Aristotle đồng ý với việc dậy trẻ em thực tập nghệ thuật, nhưng ông phản đối việc trẻ em tập đến mức độ chuyên nghiệp, bởi nghệ thuật chuyên nghiệp thì không hướng con người ta đến giá trị tinh thần nữa mà là để mua vui. Và chính sự chuyện nghiệp ấy lại tạo nên sự thô lậu.

Đọc các chương về giáo của của Aristotle, ta có thể tổng kết lại rằng, mô hình lý tưởng của ông dường như không phải chỉ thiên về trau dồi kiến thức mà quan trọng là tăng khả năng thẩm mỹ và đặc biệt là bay bổng cùng âm nhạc. Các ý tưởng về việc giáo dục âm nhạc của ông đã kết thúc  cuốn “Chính trị luận” ở một thang bậc cao vời vượt trên cuộc sống.

Hà Thủy Nguyên

LANG GIA BẢNG – QUYỀN MƯU VÀ HAI NỬA CHÍNH TÀ (3): NỮ NHÂN TRƯỚC THỜI CUỘC

blogpost thumb

“Lang Gia Bảng” không chỉ đưa ra  sự va chạm giữa các hình mẫu nam nhân một tay dàn xếp đại sự, mà còn tạo ra một không gian mà trong đó các hình mẫu nữ nhân khi đứng trước thời cuộc lại có những phản ứng khác nhau. Nữ nhân trong “Lang Gia Bảng” tuyệt nhiên không sến súa, không hành hạ các nam nhân đến mức thổ huyết như các bộ truyện ngôn tình thường thấy của Trung Quốc. Nữ nhân của phim này đều là những người biết cân nhắc đại sự, bất kể chính tà.

Những nữ nhân hi sinh vì đại cuộc

“Lang Gia Bảng” thực sự là một bộ phim về các nguyên mẫu lý tưởng. Những nhân vật nữ chính và thứ chính của phim đều thực sự hoàn hảo, và hoàn hảo theo những cách khác nhau. Một trong các cách hoàn hảo ấy chính là tấc lòng vì đại cuộc hiếm có ở các nữ nhân thông thường.

Sự xuất hiện ấn tượng nhất phải kể đến quận chúa Nghê Hoàng. Nghê Hoàng không phải một cô gái ngây thơ cành vàng lá ngọc. Nàng là điển hình cho mẫu phụ nữ mạnh mẽ, lo toan vạn sự của phủ Vân Nam Vương, lại có sức mạnh “giương cung bạt kiếm” chẳng thua kém nam nhân. Nàng được xếp thứ 7 trong bảng danh sách các cao thủ võ lâm cho Lang Nha các xếp hạng. Tưởng như, một nhân vật mạnh mẽ như thế sẽ có ham hố quyền lực, ám ảnh trả thù. Nhưng không, Nghê Hoàng không ham hố quyền lực. Mọi hành xử của nàng là vì trách nhiệm với gia tộc. Nàng giữ khoảng cách với hoàng hậu và các vương phi trong cung, bởi tự bản thân thấy rằng chẳng có chuyện gì để nói với họ. Những người phụ nữ như Nghê Hoàng, họ sống vì người khác nhưng không vì trách nhiệm mà mất đi bản tính của mình. Sự mạnh mẽ của Nghê Hoàng được đẩy lên đến đỉnh điểm vào lúc cả triều đình đang bị vây hãm bởi quân làm phản Dự Vương. Thật thú vị khi thấy cảnh “mỹ nhân cứu anh hùng”, vung thương phi ngựa diệt trừ phản tặc. Qủa là một cảnh kỳ thú trong phim ảnh Trung Quốc.

Ẩn sâu vẻ ngoài uy vũ chốn sa trường của Nghê Hoàng là một trái tim nhạy cảm. Khi Lâm Thù, người mà nàng đã dành trọn trái tim khi còn trẻ, bị vu oan là phản tắc rồi có tin chàng qua đời, Nghê Hoàng vẫn giữ một mối tình chung. Bao nhiêu năm, nàng không hủy hôn ước, vẫn khắc ghi chàng trong tim. Lâm Thù trở về với danh phận Mai Trường Tô, dù đã thay đổi hình hài, nhưng chính nàng là người nhận ra đầu tiên. Cảnh tượng Nghê Hoàng nhận ra thân phận thật sự của Mai Trường Tô, nước mắt tuôn trào đến nghẹn lời, nhưng vẫn giữ được dáng vẻ bình tĩnh. Thật sự, đó là điều hiếm có ở nữ nhân. Chỉ những người đã từng xông pha trận mạc mới có được cái bản lĩnh ấy. Nàng ở bên cạnh Mai Trường Tô, không một sự đòi hỏi đáp trả bao nhiêu năm xa cách, không một cảnh ân ái, chỉ đứng bên cạnh ngậm ngùi nhìn chàng lo toan thế cục. Mai Trường Tô bệnh tình tái phát, không thể giữ được mạng sống, nàng cũng chỉ có thể rơi nước mắt trong thinh lặng mà không thể thốt lên lời. Nỗi lòng cuồn cuộn ẩn sau sự chừng mực ấy chỉ có thể có được ở những nữ nhân không bị tầm thường hóa. Lưu Đào vào vai Nghê Hoàng quả là đúng với những gì tôi mường tượng khi đọc “Lang Gia Bảng”. Có điều, tiểu thuyết “Lang Gia Bảng” cho Nghê Hoàng cái kết viên mãn quá, viên mãn đến mức làm hỏng hình ảnh Nghê Hoàng. Kịch bản phim có lý hơn, Nghê Hoàng chấp nhận rằng lần này Lâm Thù – Mai Trường Tô đã ra đi thật sự. Người xem hẳn sẽ cảm thấy tiếc cho đôi nam nữ chính hữu duyên vô phận này. Nhưng tiếc thì cứ tiếc, vẻ đẹp của Nghê Hoàng sáng rực trong sự dở dang ấy.

Một hình mẫu gần giống với Nghê Hoàng đó là Hạ Đông. Hạ Đông không thống lĩnh quân đội như Nghê Hoàng, mà từ nhỏ được nuôi dưỡng và huấn luyện để phục vụ cho Huyền Kính Ti – một nơi giống cơ quan tình báo của triều đình. Nếu Nghê Hoàng tránh xa mọi âm mưu thủ đoạn của triều đình thì Hạ Đông lại ở trong vũng bùn nhơ đó, ngày ngày đối mặt, thậm chí từng nhúng chàm, thế nhưng chưa bao giờ đánh mất phẩm giá của mình. Hạ Đông cùng với hai sư huynh Hạ Xuân, Hạ Thu luôn luôn quy phục sư phụ Tôn Hạ Giang của mình. Hạ Đông có một người chồng là phó tướng của Xích Diệm quân, bị cho là đã tử trận tại Mai Lĩnh năm đó. Hạ Đông luôn đau khổ vì chồng, lại ôm mối hận cho rằng gia đình Lâm gia đã ám toán phu quân của mình vì sợ âm mưu làm phản bại lộ. Đó chỉ là màn kịch Hạ Giang bày ra để đổ tội cho Xích Diệm và che giấu sự thật với Hạ Đông. Hạ Đông ôm mối thù nhưng lại không để mối thù che mờ mắt. Từng bước, từng bước, chứng kiến Mai Trường Tô lật mặt nạ của Hạ Giang, Hạ Đông bừng tỉnh và đứng về phía chính nghĩa. Ân tình với vi sư, nàng gác lại. Không phải nàng bất nghĩa, mà nàng thấu rõ rằng mình chỉ là quân cờ dưới tay Hạ Giang để Hạ Giang có thể lợi dụng đi làm việc hại người. Nhưng Hạ Đông may mắn hơn Nghê Hoàng, nàng có cơ hội để được hạnh phúc khi người chồng của nàng quay trở về, kể cả khi người ấy không nói được và hình hài bị biến đổi dị dạng. Nghê Hoàng không có cơ hội ấy, nàng chỉ có những giây phút ngắn ngủi ở bên Mai Trường Tô mà thôi.

Cung Vũ là một hình mẫu đối nghịch với Nghê Hoàng và Hạ Đông. Nàng yểu điệu thướt tha, xinh đẹp kiều diễm, luôn nhu mì dịu dàng, luôn tìm mọi cách để được ở bên người mình yêu. Nàng là một nữ gián điệp dưới trướng Mai Trường Tô, là hậu nhân của Kiệt tộc (kẻ thù của Mai Trường Tô), một ca nương nổi tiếng kinh thành. Cung Vũ luôn xuất hiện với tấm áo lụa mỏng tựa tiên nga. Người đời ít ai đề phòng nàng. Ngay cả Tần Ban Nhược, một nữ gián điệp sừng sỏ của Kiệt tộc cũng bị nàng thuyết phục. Nàng vào sinh ra tử vì Mai Trường Tô chỉ vì yêu chàng, những mong được chàng một lần đối xử nhu mì. Nàng biết trái tim Mai Trường Tô chỉ có Nghê Hoàng, nàng cũng chỉ có thể chấp nhận. Sự chấp nhận ấy không phải vì nàng không ghen tuông, không ích kỷ, mà bởi nàng chứng kiến tất cả những đau đớn của Mai Trường Tô, bởi nàng hiểu tính mạng của Mai Trường Tô như ngọn đèn trước gió, vậy thì so đo tranh giành sủng ái cũng để làm gì. Nàng chỉ có dốc hết tâm sức vì chàng mà thôi. Thế nên, Cung Vũ hi sinh vì thế cục không phải vì nàng mưu định thiên hạ, mà nàng vì người đàn ông nàng yêu say đắm. Chọn Cung Vũ hay chọn Nghê Hoàng, quả thực cũng khó cho Mai Trường Tô. Thôi thì, chết đi âu cũng là lựa chọn dễ dàng hơn cả.

Tĩnh Phi có phần nào cũng giống Cung Vũ, chỉ khác ở đối tượng mà vì họ bà sẵn sàng hi sinh. Cung Vũ hi sinh vì Mai Trường Tô, Tĩnh Phi cũng làm mọi việc vì Tĩnh Vương. Tĩnh Phi vốn bản tính hiền lương, không muốn tranh đấu chốn hậu cung. Bà chưa bao giờ được Lương Đế sủng ái, lại vì vụ án Xích Diệm năm xưa mà bị Lương Đế bỏ bê. Dù thân cô thế cô trong cung, nhưng bà vẫn sẵn lòng giúp các chị em chịu thiệt thòi do không biết cư xử. Thế nhưng, khi Tĩnh Vương nói với mẹ: “Con muốn tranh ngôi thái tử”, tức thì Tĩnh Phi đã thay đổi. Khi ấy, ta mới nhận ra rằng bà thông minh đến mức nào. Mọi âm mưu cung đều không qua mắt được bà. Thậm chí, chưa từng gặp Lâm Thù mà chỉ nhìn cuốn sách Tĩnh Vương mượn của Mai Trường Tô bà đã có thể dựa trên phân tích mà đoán ra Mai Trường Tô chính là Lâm Thù. Một cách tự nhiên, bà đoạt được sự sủng hạnh của Lương Đế. Cũng không phải mất nhiều tâm sức hay lời ngon tiếng ngọt, bà chỉ cần biết cho Lương Đế thứ mà các phi tần khác như Hoàng hậu và Việt quý phi không làm được. Tĩnh Phi không mè nheo đòi hỏi, chỉ lặng lẽ chuẩn bị các loại thức ăn, loại nước tắm có thuốc bổ nhằm bồi bổ cho sức khỏe của Lương Đế. Thuở trẻ trung, vị vua nào cũng ham mê nữ sắc, chứ đã có tuổi, cái cần lại là sự yên bình tĩnh dưỡng và một bàn tay chăm sóc. Đó lại là điều mà Tĩnh Phi giỏi hơn hẳn. Lương Đế tin cẩn bà, giao cho bà bí mật thờ cúng Thần Phi (một sủng phi họ Lâm của Lương Đế đã qua đời do liên đới đến vụ án Xích Diệm). Sự việc này bị Hoàng hậu phát hiện, làm om sòm, lại còn định kết tội bà. Thế nhưng, Tĩnh Phi vẫn không lên giọng nói rằng bà thờ Thần Phi theo lệnh Lương Đế, mà nhận tội hết về mình. Vậy là bà lấy được hoàn toàn niềm tin của Lương Đế. Lương Đế là kẻ đa nghi, điều ông ta cần nhất chính là một phi tử nhất nhất nghe lời mình, sẵn sàng bảo vệ mình. Từng bước một, Tĩnh Phi thuyết phục được Lương Đế giao quyền Thái tử cho Tĩnh Vương mà không hề mở miệng cầu xin lấy một lời. Tĩnh Phi quả thực là một phi tử cao tay, không cầu xin mà có tất cả. Sự cao tay của người thiện lương hơn hẳn sự cao tay của kẻ âm hiểm, bởi người thiện lương biết chừng mực, còn kẻ âm hiểm thì không.

Nữ nhân tham gia chính trị, dù là vì trách nhiệm của bản thân hay vì người mình yêu quý, rốt cuộc, điều quan trọng nhất chính là ở điểm gác lại thói quen ích kỷ và những ham muốn bình an yên ổn, vinh hoa phú quý lại. Nữ nhân đi giữa ngày tháng gió tanh mưa máu của triều đình giữ mình đã khó, bảo vệ người thân càng khó hơn, nếu không có óc phân tích và sự thâm trầm hơn người thì tuyệt đối không thể vượt qua được. Những hạng nữ nhân ồn ào, âm hiểm khiến thế cục rối ren, phần lớn đều là vì bản thân mà thôi.

Những nữ nhân tham quyền đoạt vị

Triều chính của Lương quốc bị thao túng bởi tay Thái Tử và Dự Vương, nhưng kẻ thao túng đằng sau hai vị hoàng tử ấy lại chính là Việt quý phi và Hoàng hậu. Việt quý phi được Lương Đế sủng ái, nhờ thế con trai được phong làm Thái tử. Nhưng Thái tử vô đức vô năng, không giỏi âm mưu, nên mọi sự dàn xếp đều do một tay Việt quý phi thực hiện.  Việt quý phi kiêu ngạo vì sự sủng ái, coi thường quy chế của hậu cung, coi thường Hoàng hậu, vậy là tự bà ta tạo ra thế đối lập cho mình. Hoàng hậu không có con trai nên coi Dự vương (vốn dĩ mồ côi mẹ) như con đẻ, muốn ủng hộ Dự vương lên ngôi. Nếu Việt quý phi không quá tự mãn, chịu cúi đầu trước Hoàng hậu thì có lẽ Hoàng hậu đã vui lòng ủng hộ Thái tử. Đó là cái ngu dốt thứ nhất của Việt quý phi. Thái tử dù sao cũng là thái tử, không dễ để bị phế, nhưng mẹ con Việt quý phi không an phận, luôn tìm cách  để tranh quyền và triệt hạ các thế lực khác, đến mức gây ra các sự việc kinh động. Thái tử mất đi chức vị chẳng qua cũng vì sự tư vấn sai lầm của Việt quý phi. Đó là cái ngu thứ hai. Hai cái ngu căn bản ấy đã kết thúc cho sự sủng ái của Lương Đế với bà ta. Hoàng hậu thâm hiểm hơn, thế nhưng cũng không khá hơn. Khi Tĩnh Phi được sủng ái, bà ta tìm mọi cách để triệt hạ Tĩnh Phi, mà không tìm hiểu xem sức hút của Tĩnh Phi thực sự nằm ở đâu. Cái đầu của bà ta không có gì khác ngoài tranh giành. Thời điểm bà ta đồng ý cho Dự Vương làm phản lật đổ Lương Đế thì bà ta cũng đặt dấu chấm hết cho tương lai của mình. Vậy nên, nữ nhân tham lam quá rất khó thành công. Thêm nữa, hai người đàn bà này, họ quá ồn ào bên tai Lương Đế, tranh giành hết điều này đến điều khác, tị nạnh từng li từng tí, dần dần họ là Lương Đế chán. Chính sự ồn ào của họ đã tạo điều kiện cho Tĩnh Phi được sủng ái vậy. Thế đó, phụ nữ muốn làm việc lớn thì không nên ồn ào.

Trái ngược với sự ồn ào của hai vị phi tử là Tần Ban Nhược. Tần Ban Nhược là mẫu nữ nhân tham gia chính trị với một lòng phục thù, không có chút tình cảm cá nhân, không chút thương tình, và đương nhiên cũng không từ thủ đoạn. Tần Ban Nhược muốn đưa Dự Vương lên ngôi để phục quốc chứ không hết lòng vì Dự Vương. Cô ta và nữ nhân Kiệt tộc của cô ta, ôm ấp mộng phục quốc mà sẵn sàng ám toán, hại người, không chút nương tình. Sư tỉ của Tần Ban Nhược muốn rút lui, đem lòng yêu người khác, cô ta cũng lợi dụng tình yêu ấy để được lợi cho mình. Cái thứ yêu nước bị đẩy tới mức thù hận đã biến toàn bộ nữ nhân của Kiệt tộc thành cỗ máy giết người. Nhìn hệ thống gián điệp của Kiệt tộc và các hành vi của Tần Ban Nhược, ta không khỏi rùng mình ghê sợ những đám đông được nuôi dưỡng bằng thù hận. Rốt cuộc, sự thù hận ấy cũng thất bại. Trăm phương nghìn kế không đọ lại được sự minh bạch các bí mật. Một khi sự thật bị phanh phui, những quyền lực dựa trên âm mưu sẽ sụp đổ.

Kết luận

Xoay quanh những nam nhân một tay dàn xếp thế cục và những nữ nhân có thể dùng nhan sắc và khả năng quyến rũ của mình để lật ngược tình thế, còn có rất nhiều những nữ nhân khác bị cuốn vào vòng xoáy tranh quyền đoạt vị. Họ không mong cầu quyền lực, họ không có tài năng tuyệt đỉnh, họ chỉ muốn được sống bình yên cùng người yêu thương. Họ là Lỵ Dương công chúa, là phu nhân của Dự Vương, là sư tỉ của Tần Ban Nhược… Họ không thể thay đổi số phận của họ, nhưng cũng không muốn mình trở thành quân cờ. Họ là những người đau đớn nhất. Đau đớn bởi họ yếu đuối, đau đớn bởi họ bất lực. Tôi dành phần kết luận để nói về những nữ nhân luôn muốn xa rời thế cuộc những mong yên bình, nhưng lại trở thành nạn nhân của thế cuộc. Họ là điển hình cho mấy câu thơ của Nguyễn Du: “Đau đớn thay, phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” vậy.

Hà Thủy Nguyên

LANG GIA BẢNG – QUYỀN MƯU VÀ HAI NỬA CHÍNH TÀ (2): TĨNH VƯƠNG TIÊU CẢNH DIỄM

blogpost thumb

Tĩnh Vương – hình mẫu chính trị gia hoàn hảo

Nếu Mai Trường Tô là đại diện cho những quân sư áo vải ốm yếu ngồi trong màn trướng mà định thiên hạ thì Tĩnh Vương  là nguyên mẫu điển hình cho bậc quân vương chí nghĩa chí tình. Điều đặc biệt trong việc khắc họa nhân vật Tĩnh Vương đó là tác giả tiểu thuyết cũng như các nhà làm phim vượt ra khỏi khuôn mẫu quân vương thông thường của chính trị cổ điển Trung Quốc. Nếu bạn để ý kĩ từng hành  động của Tĩnh Vương, các bạn sẽ thấy Tĩnh Vương thoáng cái dáng dấp của các chính trị gia có xu hướng pháp quyền, lấy mọi giá trị chuẩn mực làm điều tin tưởng.

Tĩnh Vương không phải người con được yêu quý nhất của Lương Đế, mẫu thân của chàng ta cũng không được sủng ái, lại không có nhu cầu đua tranh. Tĩnh Vương lớn lên trong phủ Kỳ Vương (người con đã từng được Lương Đế yêu quý nhất nhưng vẫn bị xử tử vì bị cho là phản nghịch), thân thiết thiếu soái Lâm Thù (tức Mai Trường Tô) của quân Xích Diệm. Khi toàn quân Xích Diệm bị tiêu diệt, Kỳ Vương phải uống thuốc độc tự tử, Tĩnh Vương còn đang chinh chiến ngoài biên ải, mặc dù có công nhưng không được trọng dụng. Hơn ai hết, chàng là người không thể chấp nhận rằng quân Xích Diệm, Kỳ Vương và người bạn Lâm Thù của chàng lại là những kẻ “loạn thần tặc tử”.

Tình bạn của Lâm Thù và Tĩnh Vương làm ta nhớ đến vở tuồng “Sơn hậu” với tình bạn của Khương Linh Tá và Đổng Kim Lân. Đó là những người bạn mà có thể sống chết vì nghĩa, vì tình. Từ ngày xảy ra sự việc quân Xích Diệm bị tận diệt, Tĩnh Vương không còn chút tham vọng hay nhiệt huyết nào. Chàng chỉ làm điều cần làm theo bổn phận và để bảo vệ người mẹ của chàng. Bao nhiêu năm, chàng cũng không động tâm với bất cứ một bóng hồng nào. Cũng từ đó, chàng chán ghét triều chính, chán ghét tranh quyền đoạt vị, khinh bỉ những kẻ mưu sâu kế hiểm có thể bất chấp thủ đoạn để đạt được quyền lực. Chàng chấp nhận để những kẻ đó đè đầu cưỡi cổ, nhưng trong lòng chàng có một sự khinh mạn với trò tranh giành của Thái tử và Dự vương, trò cân bằng quyền lực lố bịch của Lương Đế…v…v… Không phải Tĩnh Vương hèn hạ, mà bản thân chàng đã mất hết toàn bộ động lực.

Khi xây dựng nhân vật Tĩnh Vương, có lẽ tác giả và các nhà làm phim cũng phần nào ẩn dụ cho tình hình chính trị của Trung Quốc. Tĩnh Vương là một mẫu quân tử, chỉ làm điều đúng đắn, hoàn thành bổn phận, giữ khoảng cách với xung quanh và không đua tranh với đời. Một Tĩnh Vương như vậy, làm sao có thể dành được quyền lực? Điều này hoàn toàn trái với các hình mẫu vua như Hán Cao Tổ, Chu Nguyên Chương…v…v… vốn gian hùng, biết cách lèo lái thế cục. Còn Tĩnh Vương, bản thân chàng luôn cho rằng đó là một thế cục màn chàng không muốn trở thành quân cờ, cũng không muốn đụng vào nó.

Ấy vậy mà Mai Trường Tô, vị Kỳ Lân tài tử nổi tiếng với tin đồn “Ai có được Kỳ Lân tài tử sẽ có cả thiên hạ” không chọn Dự Vương hay Thái Tử mà lại chọn Tĩnh Vương. Tĩnh Vương không hề biết rằng Mai Trường Tô chính là Lâm Thù năm xưa, đương nhiên không khỏi kinh ngạc mà bật cười ha hả. Mai Trường Tô chọn Tĩnh Vương vì nhiều lẽ. Không phải chỉ vì tình nghĩa năm xưa, mà chính thái độ khinh mạn và khí chất quân tử của Tĩnh Vương là thứ mà chàng nhận ra rằng nó cần thiết để định thiên hạ. Thái tử và Dự vương đều dùng những trò âm độc để hại người, vậy thì muốn dẹp yên âm độc cần phải chí dương. Thái độ của Tĩnh Vương, hành động của Tĩnh Vương, con người của Tĩnh Vương chính là chí dương. Chỉ có Tĩnh Vương mới dám đi đến tận cùng của sự thay đổi để lật tẩy tất cả những sự thật bị quyền mưu che đậy. Chỉ có Tĩnh Vương mới dám bất chấp sự nguy hiểm của mình để đòi lại công bằng cho gia tộc họ Lâm và quân Xích Diễm. Trong tiền định, có lẽ, Mai Trường Tô và Tĩnh Vương – Lâm Thù và Cảnh Diễm, đã là một đội, vốn dĩ không thể tách rời.

Bi kịch lớn nhất của tình bạn này chính là Tĩnh Vương không biết Mai Trường Tô chính là Lâm Thù, người bạn thân thiết của mình. Sau khi quân Xích Diệm bị tiêu diệt, Lâm Thù trúng độc hỏa hàn, phải thay đổi dung mạo và giọng nói, hóa thân thành Mai Trường Tô. Mai Trường Tô trở về, với người thân thiết nhất là Tĩnh Vương, chàng lại giữ bí mật. Tĩnh Vương mặc dù chấp nhận thỏa thuận với Mai Trường Tô rằng sẽ tham gia vào tranh quyền đoạt vị những mong lật lại vụ án xưa, nhưng luôn tỏ thái độ khinh bỉ Mai Trường Tô bởi “bình sinh” chàng ghét nhất là kẻ dùng mưu kế (Có lẽ bị tổn thương vì những người thân yêu nhất của chàng đều chết vì âm mưu hiểm độc). Việc này đã đẩy Mai Trường Tô vào những cơn dày vò tâm lý, chấp nhận mọi sỉ nhục của Tĩnh Vương.

Với sự ngây thơ ấy, Tĩnh Vương giữ sự chính trực của mình, chiếm lấy niềm tin của những vị quan tài giỏi nhưng không có ưu thế trong triều. Thái tử và Dự Vương bị rơi vào thế cục bàn cờ do Mai Trường Tô sắp đặt, đấu đá tận diệt nhau đến chết. Tất cả các phe cánh của họ đều bị tỉa dần dần. Lương Đế dần mất lòng tin vào hai phe cánh này. Cùng lúc ấy, Tĩnh Phi (mẫu thân của Tĩnh Vương) bắt đầu được sủng ái dần trong cung do ông ta cũng chán ghét hoàng hậu và Việt quý phi vì con mình mà đấu đá, không chăm lo cho ông ta. Nhờ thế, Tĩnh Vương bướng bỉnh và không quan tâm đến chính sự lại trở thành một người thực sự cần thiết đối với kẻ đa nghi như Lương Đế. Rõ ràng, giữa một nền chính trị bẩn thỉu, chỉ những người chính trực và trong sáng mới có thể đại diện cho hi vọng. Do đó, sự lựa chọn của Mai Trường Tô quả nhiên không hề đơn giản. Phải là người có tâm thế bên ngoài thế cục mới dám đi nước cờ liều mạng như vậy.

Nhưng nhìn lại thì, Tĩnh Vương có thật sự ngây thơ hay không? Không! Chàng ta không hề ngây thơ. Mọi trò diễn trong triều đình, chàng ta thấu rõ không kém gì Mai Trường Tô. Vấn đề của Tĩnh Vương là quá bướng bỉnh, quá định kiến, quá thẳng thắn. Để giữ được sự chính trực ấy, chàng lao đầu vào những trận chiến ngoài biên ải để không phải về triều vào luồn ra cúi. Mai Trường Tô, từng bước từng bước gỡ bỏ những định kiến của Tĩnh Vương. Còn lại định kiến cuối cùng, đó là sự đề phòng của Tĩnh Vương với những kẻ mưu sâu kế hiểm mà Mai Trường Tô đang diễn vai, cũng bị chàng gỡ bỏ nốt. Để gỡ bỏ định kiến ấy, sự thật phải hiển lộ. Giây phút biết Lâm Thù là Mai Trường Tô, Tĩnh Vương có thể nói dối không chớp mắt trước Lương đế. Thậm chí, khi Lương đế ép Mai Trường Tô uống thuốc độc, Tĩnh Vương dám giật lấy chén thuốc. Hẳn rằng cả Lương đế và Mai Trường Tô cũng giống như chúng ta lo lắng rằng Tĩnh Vương sẽ uống chén thuốc độc ấy thay Mai Trường Tô. Nhưng không, đúng như đã nói ở trên, Tĩnh Vương là một mẫu hình tượng chính trị gia hoàn toàn khác, chàng hất chén rượu đi với một thái độ gườm gườm rồi đường đường chính chính cùng Mai Trường Tô bước ra khỏi hoàng cung. Hành động hắt chén rượu ấy là một câu trả lời ngầm ẩn với Lương đế rằng: “ Tất cả thế cuộc ta đã nắm trong tay, không phải ai thích làm gì thì làm!” Đó chính là biểu hiện trưởng thành của Tĩnh Vương.

Tĩnh Vương tìm lại được bạn cũ, nhưng chàng không có cơ hội để bù đắp lại 13 năm không gặp. Khi công thành danh toại thì Mai Trường Tô cũng đã qua đời. Tĩnh Vương chỉ còn lại cô độc. Nhìn những cảnh cuối bộ phim khi Tĩnh Vương lên ngôi hoàng đế, không có Mai Trường Tô bên cạnh mới thấm thía hai chữ “quả nhân”.

Chặng đường chính trị mai sau của Tĩnh Vương không được ghi vào trong truyện. Tĩnh Vương sẽ là một bậc minh quân hay lại đa nghi, vị kỷ giống như Lương đế, không ai có thể biết. Lương Đế cũng đã cảnh báo Mai Trường Tô rằng việc ngồi lên chiếc ghế hoàng đế sẽ làm Tĩnh Vương biến chất. Nhưng Mai Trường Tô không bận tâm, chàng chỉ thấy đáng thương cho Lương Đế mà thôi. Chàng vốn dĩ hiểu rằng không còn một phương án nào khác để tin tưởng, ngoài Tĩnh Vương. Tạo ra một hình mẫu chính trị gia như Tĩnh Vương, phải chăng những nhà làm phim cũng đang gửi gắm điều gì đó?

Còn tiếp…

Lang Gia Bảng - Quyền mưu và hai nửa chính tà (1): Mai Trường Tô

blogpost thumb

“Lang Gia Bảng”, không còn gì phải bàn cãi, chính là bộ phim truyền hình cổ trang đỉnh cao nhất của Trung Quốc trong 10 năm trở lại đây. Bộ phim có thể sánh ngang với những tác phẩm truyền hình kinh điển như “Thủy Hử” (1996), “Tiếu ngạo giang hồ” (2001), “Anh hùng xạ điêu” và “Thiên long bát bộ” (2003). “Lang Gia Bảng” tạo nên một không khí hoàn toàn khác hẳn với những bộ phim truyền hình trước đó: Một câu chuyện tranh quyền đoạt vị được diễn ra trên tông màu thủy mặc trong nền nhạc bi tráng – câu chuyện của chàng thư sinh ốm yếu Mai Trường Tô với tấc lòng ưu thời mẫn thế, của Tĩnh Vương khẳng khái muốn đòi lại chính nghĩa, của Lận thiếu các chủ, Mông đại thống lĩnh… một lòng vì bạn, của những cô gái đẹp một cách phi thường trong khí chất  như Nghê Hoàng quận chúa,  Cung Vũ, Hạ Đông…v…v… Đã lâu lắm rồi, trong những bộ phim đấu đá chính trị, cái đẹp và chính nghĩa mới có vị trí thắng thế như vậy.

Phân tích quyền lực thật sự của Mai Trường Tô

Mở đầu bộ phim là hình ảnh Mai Trường Tô thức dậy sau cơn ác mộng “gió tanh mưa máu” về ký ức năm xưa. Mai Trường Tô chính là tướng quân Lâm Thù của đội quân Xích Diệm năm nào, vì quá xuất sắc trên chiến trường, nên đã trở thành nạn nhân của những cuộc đấu đá quyền lực trong triều đình. Chỉ bằng một sắc lệnh, toàn bộ quân Xích Diệm đã bị giết chết. Cha của Lâm Thù là tướng quân Lâm Tiếp cũng tử trận. Cả nhà họ Lâm bị xếp vào tội phản tặc, bị xử tử. Ngay cả Kỳ Vương, một vị vương tử ôm ấp mộng mang lại sự thái bình thịnh trị cho dân cho nước, cũng vì liên đới đến Lâm gia mà bị ép vào tội âm mưu phản nghịch. Lâm Thù may mắn còn sống, nhưng bản thân bị trúng độc Hỏa Hàn, nên phải từ bỏ dung mạo của mình, từ bỏ võ công của mình, làm một cuộc lột xác, những mong quay trở lại, phơi bày sự thật. 13 năm, Lâm Thù sống với hình hài mới, danh tính mới, phận vị mới, và được đỡ đầu bởi Lang Gia Các – một thế lực giang hồ có khả năng thu thập mọi thông tin trong thiên hạ và đưa ra những bảng xếp hạng cao thủ trong từng lĩnh vực.

Ý tưởng về Lang Gia Các là một điểm rất khác biệt trong cách xây dựng cơ cấu quyền mưu của bộ phim này. Một trong những quyền lực lớn bao trùm toàn bộ bộ phim chính là Thông Tin. Sức mạnh của Lang Gia Các dựa trên việc thu thập thông tin từ rất nhiều nguồn, phân bố và chọn lựa việc cung cấp thông tin ra bên ngoài, và từ đó chiếm luôn quyền lực của thẩm định. Lang Gia Các có thể chỉ bằng một vài thông tin là có thể thao túng được quyền lực trong các triều đình và trong các tổ chức bang phái giang hồ. Cùng với Lang Gia Các cũng có một số tổ chức khác trong phim đi săn tin như Huyền Kính Ty và Hồng Tụ Chiêu. Huyền Kính Ty dựa vào hệ thống an ninh điều tra, trung thành với triều đình. Bởi vì hệ thống Huyền Kính Ti này chủ yếu dựa trên giám sát bá quan, cho nên thông tin có phần hạn hẹp hơn. Bản chất của hệ thống này tập trung vào việc kiểm soát hành vi và độ trung thành của bá quan, cho nên rất cần thiết với người cai trị, nhưng lại dễ dàng trở thành công cụ cho các thế lực tranh quyền đoạt vị. Hồng Tụ Chiêu là hệ thống tình báo dựa trên năng lực của những cô gái làng chơi và nữ tì. Mỗi cô gái trong Hồng Tụ Chiêu đều là gián điệp, nghe ngóng thông tin từ ông chủ và khách làng chơi, rồi báo tin lại cho người đứng đầu là Tần Ban Nhược.  Tần Ban Nhược cũng là kỹ nữ nổi tiếng kinh thành, trá hình để che đậy cho mưu đồ phục quốc của Hoạt tộc.  Tần Ban Nhược làm quân sư cho Dự Vương, một tay điều khiển và lợi dụng Dự Vương để đạt được quyền lực cho riêng mình. Ba mô  hình quyền lực thông tin ấy, mỗi bên tác động đến triều chính theo một cách khác nhau và có những mục tiêu khác nhau. Huyền Kính Ty và Hồng Tụ Chiêu đã gây ra vụ án oan Xích Diệm. Trong khi đó, Lang Gia Các vì ân tình với quân Xích  Diệm năm xưa mà đỡ đầu Mai Trường Tô (tức Lâm Thù) lập nên Giang Tả Minh và tìm cách đưa Mai Trường Tô quay lại triều đình.

Câu chuyện chính diễn ra khi Hoàng đế Đại Lương bắt đầu già yếu, Thái tử và Dự Vương (vị Hoàng tử được vua yêu chiều nhất) tranh nhau ngai vị. Thái tử xây dựng quyền lực dựa vào Ninh Quốc Hầu (quản lý quân đội), còn Dự Vương dựa vào Hồng Tụ Chiêu mà đứng sau là Huyền Kính Ty (một dạng giống như An ninh). Đây là một tình thế quen thuộc trong chính trị hiện nay mà bất cứ ai quan tâm đến chính trị có thể nhận ra.  Bất cứ vị quan nào đi theo hai thế lực này đều sẽ dễ dàng thăng tiến, còn nếu không, dù tài năng đến đâu cũng không thể được ân sủng của Hoàng đế. Đỡ đầu Thái tử là Việt quý phi (cung phi được sủng ái nhất), đỡ đầu Dự Vương là hoàng hậu (người đứng đầu cung cấm). Giữa bối cảnh ấy, Mai Trường Tô xuất hiện bằng một tin đồn do Lang Gia Các tung ra: “Ai có được Kỳ lân tài tử sẽ có cả thiên hạ”. Bốn chữ “Kỳ lân tài tử” ấy dùng để ám chỉ “mưu trí vô song” của Mai Trường Tô.

Trong lịch sử Trung Hoa, không ít mưu sĩ nổi tiếng sử dụng mưu trí của mình để phò trợ minh quân, bình định thiên hạ. Tôn Vũ, Trương Lương, Quách Gia, Gia Cát Lượng, Ngô Dụng… đều chỉ một thân áo vải có thể điều khiển ba quân tướng sĩ, dẹp loạn quần hùng. Nhân vật Mai Trường Tô cũng được xây dựng dựa trên hình mẫu này. Tuy nhiên, chúng ta không nên nhầm lẫn Mai Trường Tô với những mưu sĩ chỉ dùng ba tấc lưỡi thao túng thiên hạ như Ngũ Tử Tư, Tô Tần, Trương Nghi. Điểm nổi trội Mai Trường Tô, cũng như Tôn Vũ, Trương Lương, Quách Gia, Gia Cát Lượng, Ngô Dụng, đó là dù có thể dùng mưu kế âm hiểm, nhưng tâm vẫn giữ một lòng trinh bạch. Trong khi ấy, loại quân sư như Ngũ Tử Tư, Tô Tần, Trương Nghi chỉ vì lợi ích cá nhân mà thôi. Trong Lang Gia Bảng, những quân sư như thế có thể kể đến Tôn Hạ Giang của Huyền Kính Ty, Tần Ban Nhược của Hồng Tụ Chiêu, Tạ Ngọc của Ninh Quốc phủ…v…v… Mai Trường Tô phải đối phó với những kẻ âm hiểm như vậy.

Sức mạnh thật sự của Mai Trường Tô thật sự không đến từ mưu trí vô song. Nếu xét về mưu trí, Mai Trường Tô không hơn Tạ Ngọc hay Hạ Giang. Sức mạnh thật sự của chàng đến từ tấm lòng trinh bạch đại diện cho chính nghĩa của chàng. Nhờ tấm lòng ấy, Mai Trường Tô có những người bạn hết lòng vì chàng  như Mông đại thống lĩnh, Lận thiếu các chủ, Ngôn Dự Tân, Tiêu Cảnh Duệ…; có những người con gái sẵn sang liều mạng vì chàng như Nghê Hoàng quận chúa, Cung Vũ cô nương; có những người anh em chẳng ngại vào sinh ra tử để thực hiện mưu đồ cùng chàng. Trong khi ấy, Tạ Ngọc nhờ mưu kế mà chiếm đoạt công chúa làm phu nhân, nhưng phu nhân của ông ta không hề nghĩ tới ông dù chỉ mảy may bận tâm, thậm chí còn có chút oán hận. Tôn Hạ Giang nuôi ba đứa trẻ mồ côi là Hạ Xuân, Hạ Thu, Hạ Đông, thì chính Hạ Đông khi biết được mưu kế thâm hiểm của Hạ Giang đã đứng về phe Mai Trường Tô. Hai người đàn ông mưu trí tột đỉnh ấy, tưởng rằng có thể dùng  mưu trí để thâu tóm thiên hạ, bất chấp thủ đoạn gây hại đến chính những người thân tín nhất bên cạnh mình. Trong khi ấy, Mai Trường Tô luôn có được nhân tâm vì tấm chân tình của chàng với những người ở bên chàng. Bằng mọi mưu kế, điều tâm niệm của chàng đều là bảo vệ người mình thân yêu nhất, không chỉ là tính mạng mà còn nhân phẩm. Còn nhớ cảnh Mai Trường Tô nói chuyện với Mông đại thống lĩnh:

Mông Chí: “Tĩnh vương bẩm sinh không giỏi mưu mô, lại chán ghét tranh đấu đoạt quyền vị, Đoạt ngôi là việc vô cùng nguy hiểm. Với tính cách như vậy của ngài ấy, sao ngài ấy có thể đọ lại được với Dự vương và Thái tử thủ đoạn nham hiểm, thế lực hùng hậu chứ?”

Mai Trường Tô: “Chẳng phải vẫn còn ta sao, những tội nghiệt và đau khổ này, Tĩnh vương không chịu đựng nổi thì cứ để ta gánh vác. Những việc đen tối, nhuốm đầy máu tươi, thì cứ để ta làm.”

Nhận về mình mọi cái ác, để những người quanh mình giữ được bản tính thiện lương… Chấp nhận mình như một kẻ mưu đồ thâm hiểm, để vị minh quân của mình trong tương lai nguyên vẹn là viên ngọc trai không tì vết. Đó là điều tâm niệm mà cũng là sự dằn lòng trong đau đớn của chàng. Cứ mỗi một mưu kế được bày ra thì độc tố trong người chàng đều phát tác đến mức không thể chịu đựng được. Những giây phút ấy, không ai có thể chịu thay chàng, chỉ có thể ở bên ngoài săn sóc và chờ đợi.

Hơn nữa, so với Tạ Ngọc, Hạ Giang và Tần Ban Nhược, Mai Trường Tô có 13 năm lên kế hoạch kỹ lưỡng cho kế hoạch trở về. 13 năm ấy, Mai Trường Tô giống như nằm trong kén bướm đợi ngày xuất hiện. Sau 13 năm, tất cả những kẻ đã từng đẩy quân Xích Diệm và gia tộc của chàng vào biển máu đều chỉ là những quân bài bị tiêu diệt dần dần. Trước mọi sự cố, chàng đều có một sự định tâm hơn người thường. Sự định tâm ấy thể hiện ở thái độ an nhàn trước mọi sự. Xung quanh khua đao múa kiếm, chàng vẫn ngồi ăn quýt. Kẻ khác mời chào, chàng vẫn bình tâm uống trà. Kẻ địch ám sát, chàng vẫn thản nhiên đọc sách. Sự định tâm ấy không đơn giản có từ việc chuẩn bị kỹ lưỡng kế hoạch, mà có từ khả năng thấu rõ thế sự và niềm tin chắc chắn vào khả năng giải quyết tình huống của bản thân. Có lẽ, đây sẽ là vấn đề trừu tượng, chúng ta có thể có một cách diễn đạt khác. Trong truyện mô tả Mai Trường Tô không biết chơi cờ, nhưng mưu trí của chàng không ai có thể hơn được, tại sao? Kẻ chơi cờ thắng được nhờ biết luật và tuân thủ luật. Nhưng, trên thực tế, người chơi cờ bị chính luật trên bàn cờ điều khiển. Người chơi cờ, ở góc nhìn toàn thể, cũng chỉ là một quân cờ mà thôi. Còn Mai Trường Tô ở bên ngoài toàn bộ thế cục đó, cũng không cần biết đến luật của bàn cờ. Chính chàng đã biến hai thế lực của Thái Tử và Dự Vương thành những kẻ chơi cờ mà không biết rằng họ cũng chỉ là quân cờ. Từ tâm thế của người đứng ngoài cuộc, chàng nhìn rõ thế cục. Rõ thế cục đã khiến chàng định tâm hơn những kẻ đang lao vào cuộc chơi cờ kia. Trong lúc hai kẻ chơi cờ lao vào cuộc chiến, Mai Trường Tô mới dốc sức đào tạo Tĩnh Vương, tìm người tài về dưới trướng Tĩnh Vương mà không hề lộ ra biểu hiện phe cánh. Một sự phân định rõ ràng đã được sắp xếp: Kẻ tham lam chạy theo tranh quyền đoạt vị, người có tâm sẽ một lòng dốc sức vì dân vì nước. Và những người một lòng dốc sức vì dân vì nước, không cần ràng buộc quyền lợi, cũng sẽ luôn hỗ trợ nhau. 13 năm nằm trong kén, Mai Trường Tô đã ngẫm ra chân tướng của cuộc đấu đá, nhờ thế mà có thể đứng ở bên ngoài cuộc đấu đá mà vẫn thao túng được thiên hạ.

Đối nghịch lại với Mai Trường Tô là Hoàng đế Đại Lương (Lương Đế). Lương Đế bị ám ảnh về cân bằng quyền lực, bởi vậy mới cố tình tạo ra thế cục hai bên đấu đá nhau ở trong triều. Nhưng càng đẩy các bên vào đấu đá để giữ vững quyền lực cho bản thân mình, ông ta càng mất đi những người thật sự thân tín. Những người thật sự một lòng với ông như Kỳ vương hay tướng quân Lâm Tiếp của quân Xích Diệm đều trở thành nạn nhân của những mưu hèn kế bẩn.  Còn bản thân ông ta lại không thể phân biệt được thị phi. Lương Đế kích thích đấu đá và cũng vì thế mà triều đình của ông ta suy yếu, gian thần lộng hành tham nhũng khắp nơi. Mai Trường Tô xuất hiện, lợi dụng thế cục đấu đá ấy, mượn tay các bên để diệt trừ gian thần. Sức mạnh giúp Mai Trường Tô thanh trừng đối thủ đó chính là sự thật. Trong khi ấy, hai thế lực kia lại xây dựng quyền lực dựa trên dối trá và dùng sự dối trá để triệt tiêu nhau. Sự thật giống như quả bộc phá có thể đập tan mọi bức tường thành kiên cố nhất mà dối trá chất chồng dối trá đã tạo nên, quyền lực ấy, chỉ Mai Trường Tô là người thực sự hiểu.

Mai Trường Tô dàn xếp thế lực, không chỉ bằng quyền lực và mưu trí, mà còn bằng tình nghĩa. Mai Trường Tô chọn minh quân dựa trên rất nhiều tiêu chuẩn. Thứ nhất phải không tham, thứ hai phải nhiều công trạng, thứ ba phải có động lực trong việc đòi công bằng và lật lại vụ án oan, thứ thư, quan trọng nhất, phải là người mà Mai Trường Tô thực sự tin tưởng. Bởi vì, chàng biết hơn ai hết, chàng sẽ qua đời sớm, chàng không thể ở bên để xây dựng triều chính, thế nên, người lên ngôi phải là người thân tín, người chàng có thể chắc chắn sẽ không phản bội lý tưởng chính nghĩa của chàng. Bằng tấm lòng đó, chàng đã thuyết phục được Tĩnh Vương cố chấp vốn chán ghét mưu kế. Cũng bằng tấm lòng đó, Tĩnh Vương không sợ mất quyền lực đã gây dựng được mà liều chết cứu chàng. Dự Vương không thể làm thế vì Hạ Giang, Thái tử cũng không thể làm vậy vì Tạ Ngọc.

Như vậy, quyền lực thật sự của Mai Trường Tô dựa trên ba yếu tố: Sự hiểu biết, tình nghĩa và tấm lòng trung chính. Các bậc quân sư xưa đều cho rằng có hai dạng mưu kế. Một là âm mưu thủ đoạn dùng để triệt hạ địch thủ. Hai là dương mưu, vốn là những kế hoạch kiến thiết, xây dựng. Kẻ mưu sĩ thâm sâu là người vừa dùng cả âm mưu, dương mưu và không tham quyền lực. Kẻ mưu sĩ thấp hèn là loại người chỉ biết tranh quyền đoạt vị, ám toán hại người. Âm mưu có thể tranh đấu với âm mưu nhưng không thể thắng. Chỉ có ai ở trên tất cả những thứ âm độc ấy mới có thể dẹp yên loạn lạc, khiến cho thiên hạ thái bình. Với cách sử dụng quyền mưu của Mai Trường Tô, ta có thể thấy bộ phim vượt trên các phim đấu đá chính trị cùng thời điểm, thậm chí ngay cả khi so sánh với bộ phim bom tấn của Holywood là “Game of Thrones”.

(Còn tiếp)

Hà Thủy Nguyên

Trailer phim: 

DÂN CHỦ HAY CỘNG SẢN? TÔI CHỌN CON NGƯỜI!

blogpost thumb

Tôi sinh ra trong những năm đầu Đổi Mới và được vây quanh bởi một không khí những người Cộng sản tử tế và hiền lành. Lúc tôi lớn lên một chút, có nhận thức riêng, khoảng 12 tuổi, cuốn sách đầu tiên khiến tôi đặt vấn đề nghi ngờ về đời sống tuyệt đẹp mà tôi đang có, đó là tập nhật ký của Nguyễn Huy Tưởng bị vứt lăn lóc trong góc Thư viện Hà Nội. Tôi chọn đọc nhật ký của ông, bởi vì tôi thích những cuốn tiểu thuyết như “Sống mãi với thủ đô”, “Đêm hội Long Trì” của ông. Trong nhật ký, ông đã viết về một thời đại mà các nhà văn bạn bè không dám nhìn mặt nhau, không dám trò chuyện… Tôi đã tự hỏi, tại sao những người tử tế có thể khiến nhau trở nên như vậy? Và tôi đã về hỏi bố tôi, bố tôi kể cho tôi nghe về vụ án Cải cách ruộng đất, Nhân Văn- Giai phẩm…v…v… Lúc ấy, tôi mới biết rằng đời không như mình tưởng. Những người tử tế tôi gặp chỉ là một số rất, rất ít ỏi trong xã hội, và họ hoàn toàn có thể bị suy thoái bởi thứ tư tưởng cực đoan đã bị bóp méo không còn giống thứ lý tưởng mà Carl Marx đã dành cả đời để đắm đuối.

Khi tôi còn trong đại học, tôi có nghe về Tập hợp thanh niên dân chủ, tôi đọc các bài viết của họ, tìm hiểu họ. Cùng lúc ấy, tôi đã được nghe về bạo loạn ở Tây Nguyên, tàu Việt Nam bị Trung Quốc bắn, những tranh luận xung quanh sự việc Bauxite Tây Nguyên…v…v… Những người bạn cùng trường Nhân Văn với tôi, họ không đọc cũng không quan tâm gì cả! Họ vẫn chỉ cày ngày cày đêm để đạt điểm cao, để sau này “vinh thân phì da”, và nhìn những người hoạt động dân chủ với ánh nhìn khinh thị, như thể lũ thiên thần ăn bám Chúa cười khẩy trước sự nổi loạn của Lucifer.

Và rồi, tôi đã bước chân vào giới hoạt động dân chủ. Tôi cũng từng xuống đường biểu tình chống Trung Quốc, nhưng không hợp. Tôi đã từng cùng các anh chị NoU đi hoạt động thiện nguyện giúp người dân miền Trung trong đợt lũ, cũng không hợp. Tôi cũng từng tham gia các hoạt động khai dân trí, tức là nói đi nói lại rằng dân chủ là con đường tốt nhất để hướng tới (có thể nói theo các cách khác nhau), tôi cũng không thích. Cảm thấy không hợp, không thích là do bởi tôi có nhu cầu truy tìm sự thật và mong muốn thay đổi bề sâu của một vấn đề hơn là làm những công việc cụ thể. Sau khi tôi rút khỏi những hoạt động ấy một thời gian, rất nhiều vụ scandal của giới dân chủ bắt đầu tràn lan trên giới truyền thông, nội bộ những người dân chủ có nhiều xung đột. Một nhóm người bắt đầu miệt thị những người khác, và tôi đã từng ở trong số ấy. Thay vì phải đấu tranh với chính quyền, họ chuyển sang xúc xiểm và đấu đá lẫn nhau.

Và rồi, như các bạn thấy trên facebooker của các nhà dân chủ, có hai đối tượng họ thường xuyên công kích: Một là những người Cộng sản (bất kể xấu tốt), hai là chính những người hoạt động dân chủ. Các công kích này là công kích cái vỏ ngoài. Bởi vì, chúng ta đang công kích cái căn cước mà họ khoác lên (cái căn cước ấy không có tội), chứ không phải chính bản thân họ. Nếu một người dân chủ nhưng không biết tôn trọng các giá trị con người thì người ấy không hiểu về các giá trị dân chủ nhưng lại khoác trên mình cái áo dán nhãn dân chủ. Điều này cũng giống như rất nhiều người Cộng Sản tồi tệ khác. Những người Cộng Sản theo đúng lý thuyết của Marx phải không có lòng tham, không tư hữu, nhưng những kẻ tham lam lại tận dụng nó cho chiến lược độc chiếm của công. Và nếu số đông là những người hoạt động dân chủ không biết trân trọng các giá trị con người, không hiểu các vấn đề nền tảng của dân chủ, thì cho dù họ là trí thức hay cần lao, một tương lai xa cho những vụ án như Cải cách ruộng đất, Nhân Văn – Giai Phẩm, Xét lại chống Đảng… là điều có thể nhìn thấy trước.

Vậy thì, vấn đề không phải chuyện ai đó là Cộng sản hay Dân chủ, cũng giống như việc họ là tín đồ tôn giáo hay kẻ vô thần, là người thích giao đãi hay là người khép kín…v…v… Phân biệt như vậy dễ khiến chúng ta bị rơi vào thứ tâm lý bầy đàn bị định hình bởi cái nhãn mác mà ta khoác lên. Các mô hình đều có lý ở một khía cạnh nào đó, và đương nhiên sẽ bộc lộ ra tất cả các yếu kém khi được đưa vào thực tế. Và các mô hình sẽ sụp đổ trong một thời điểm nào đó, rồi sẽ lại trỗi dậy. Thế nên, vấn đề không nằm ở mô hình, mà nằm ở con người. Chính việc con người của chúng ta có để chúng ta trở thành con người hay không, hay là suy thoái như loài zombie, hay là những cỗ máy huyễn hoặc mình là thần thánh, mới mang tính quyết định xem một xã hội có thật sự tốt hay không? Trong bất cứ mô hình xã hội nào, bất cứ cộng đồng được định danh nào, nếu không phải con người đang cầm quyền mà là những con zombie hay những cỗ máy huyễn hoặc kia nắm ưu thế thì sẽ vẫn là hết tệ hại này chất chồng tệ hại khác mà thôi.

Trong các mối quan hệ xã hội của mình, tôi không nhìn vào việc họ là người Cộng sản hay người Dân chủ, họ theo tôn giáo hay vô thần, họ là trí thức hay người lao động ít học…v…v… để đánh giá họ có đáng để mình mất thời gian cho một mối quan hệ bằng hữu hay không. Tôi dựa vào cách họ tôn trọng con người, cách họ tư duy về vấn đề có độc lập hay không, cách họ chịu trách nhiệm về công việc của mình, cách họ tận hưởng cuộc sống…v…v… Có những người luôn đưa ra những tuyên ngôn rất hùng hồn, rất thần thánh, chạy theo những lý tưởng rất cao đẹp, sẵn sàng dấn thân đấu tranh vì một cộng đồng…v…v…, thế nhưng họ không thể suy nghĩ độc lập, họ có thể xót thương cho cả dân tộc nhưng lại không thể thông cảm được với nỗi đau của những người thân thiết, họ có thể nói chuyện về quyền con người nhưng không biết cách đối xử với người khác theo cách của con người, họ có thể đeo đuổi các lý tưởng cao vời nhưng không thể mó tay vào để làm những việc nhỏ nhặt có thể giúp thế giới tốt đẹp hơn…v…v… Những người như thế, tôi không đủ kiên nhẫn để tiếp xúc. Dè bỉu không khiến họ tỉnh ngộ, chỉ khiến họ bám sâu hơn vào những ảo tưởng ấy mà thôi. Vậy thì coi như họ chưa từng tồn tại trước mắt mình là điều tốt nhất, cho tôi và cho họ.

Như tôi đã nói ở trên, một xã hội sẽ tệ hại khi có những con zombie hoặc những cỗ máy ảo tưởng rằng mình là thần thánh nắm quyền. Vậy thì việc đầu tiên để có một xã hội tốt đẹp hơn đó là chúng ta đừng biến mình thành những con zombie hay những cỗ máy (việc chửi bới sẽ khiến chúng ta nhanh chóng trở thành zombie, việc cắm mặt đi theo lý tưởng sẽ biến ta thành cỗ máy). Việc thứ hai, chúng ta là con người, mà con người thì luôn khôn ngoan, phải nắm quyền cai trị bằng việc thiết lập lại các tiêu chuẩn của một xã hội mà con người có thể ở được. Việc thứ ba, với tư cách con người, chúng ta hãy hiện thực hóa tiêu chuẩn ấy bằng mồ hôi và nhiệt huyết chứ không phải bằng những lời hô hào. Và con người phải đấu tranh để mình là con người, được sống trong thế giới con người… Đó là một cuộc hành trình dài không biết đến bao giờ mới là hồi kết.

Hà Thủy Nguyên

“V for Vendetta” – Cuộc nổi dậy của lý tưởng

blogpost thumb

“V for Vendetta” là một bộ truyện tranh nổi tiếng vào thập niên 80-90 của thế kỷ 20 (Alan Moore & David Loyld) kể về một giả tưởng đen tối dự báo về sự cầm quyền độc tài ở nước Anh trong tương lai và cách thức con người phản kháng chống lại hệ thống. Nhân vật chính là V và Evey, những nạn nhân của hệ thống, đã tổ chức một cuộc đánh bom tòa nhà quốc hội vào ngày 5-11, kỷ niệm 400 năm ngày Guy Fawkes âm mưu làm nổ điện Westminster (1605). Biểu tượng V với chiếc mặt nạ Guy Fawkes đã gây một sức ám ảnh lớn với giới trẻ Âu Mỹ. Năm 2005, “V for Vandetta” được chuyển thể thành phim bởi anh em nhà Wachowski, tác giả của phim “The matrix” – 2000 và “Cloud Atlas” – 2012.

Mở đầu bộ phim là lời kể lại của Evey như một sự khẳng định về sức mạnh của lý tưởng: “Chúng ta được bảo rằng hãy ghi nhớ lý tưởng chứ không phải con người. Bởi vì con người có thể gục ngã, ông ta có thể bị bắt, bị giết và bị lãng quên. 400 năm sau một lý tưởng vẫn có thể thay đổi thế giới. Tôi đã tận mắt chứng kiến sức mạnh của lý tưởng, người ta giết chóc và chết để bảo vệ chúng. Nhưng bạn không thể hôn một lý tưởng, ôm lấy hay chạm vào nó. Lý tưởng không thể chảy máu, chúng không biết đau, chúng không biết yêu…” Bỏ qua tất cả những gì bạo lực, cực đoan, những hạn chế của đặc trưng văn hóa, chúng ta sẽ hiểu được rằng tác giả của “V for Vandetta” và ẩn ý của đạo diễn trong việc kích động một nghệ thuật nổi dậy mới – điều mà các cuộc bạo loạn trước đây chưa từng có trong lịch sử. Bởi thế mà V với chiếc mặt nạ Guy Fawkes trở thành biểu tượng chung cho Tổ chức hacker thế giới Anonymous.

Các cuộc nổi dậy trong lịch sử không dựa trên sự thật, chúng đều được tổ chức bằng những lời hứa hẹn của các lãnh tụ chính trị về một tương lai tốt đẹp hơn. Thế nhưng, tương lai của các cuộc nổi dậy hay cách mạng đều là chuẩn bị một cái lồng mới tinh vi hơn để thay thế cái lồng cũ, những “lời nói dối trắng” đã bị bôi bẩn theo năm tháng và trở thành tội ác được giấu diếm để duy trì quyền lực. Chỉ khi hệ thống phải che đậy quá nhiều sự dối trá, bảo mật thông tin của hệ thống mới được đề cao. Thế giới được mô tả trong “V for Vandetta” là một thế giới không có lời nói thật, các tác phẩm nghệ thuật và kiến thức, âm nhạc, nghệ thuật đều bị cấm, một nơi mà hoa hồng cũng bị tuyệt chủng. Những người dân trong đó vừa lòng với cuộc sống tiện nghi, bị đe dọa bởi nhà cầm quyền và an toàn trong nỗi sợ hãi. Thế nhưng, đâu đó vẫn có những người vi phạm điều luật về lòng trung thành để tàng trữ kiến thức, để giúp đỡ những kẻ nội dậy, những người mà ý chí tự do mạnh mẽ hơn nỗi sợ, những người tìm kiếm sự thật. Và “V for Vandetta” mô tả về một cuộc nổi dậy mới, không dựa trên những mô tả không tưởng về một xã hội tốt đẹp hơn, chỉ đơn giản là Sự Thật. Bất cứ con người nào sinh ra trên Trái Đất này cũng được quyền biết về Sự Thật, biết về những gì đang kiểm soát và chi phối đời sống của họ, biết về những gì ẩn đằng sau lời nói dối đang lan tràn như bệnh dịch trong bầu không khí.

Âm mưu dối trá của tên độc tài Adam Sutler là về dự án virus của chính phủ nhằm tạo ra một loại vũ khí sinh học để ngăn ngừa chiến tranh với tính hủy diệt Trái Đất ít hơn so với bom hạt nhân. Đó là lý lẽ để thuyết phục những khoa học gia ngây thơ về chính trị tham gia vào dự án. Thế nhưng, đằng sau lời hứa hẹn về chấm dứt chiến tranh, là âm mưu kiểm soát chặt chẽ hơn của những kẻ tham vọng quyền lực. Hãy tưởng tượng về một bệnh dịch tràn lan và giết chết hơn 80.000 người, và chỉ một nhóm quyền lực nắm được phương thuốc chữa trị. V là nạn nhân trong dự án ấy, anh bị đem ra làm vật thí nghiệm và là cá thể duy nhất còn sống sót. Biết được sự thực anh đã thiêu hủy khu trại thí nghiệm, khoác lên mình bộ áo choàng đen thời trung cổ và che dấu bộ mặt bằng xương bằng thịt của mình bằng mặt nạ Guy Fawkes. Ẩn dưới chiếc mặt nạ không phải một bộ mặt khác mà là một lý tưởng: Nếu hệ thống được dựng lên bằng lời dối trá thì nó sẽ bị hạ bệ bởi Sự Thật.

Người dân không nên sợ chính phủ của mình. Chính phủ nên sợ người dân của họ.
Người dân không nên sợ chính phủ của mình. Chính phủ nên sợ người dân của họ.

Evey là biểu tượng cho người dân thường. Anh trai cô bị chết vì bệnh dịch, bố mẹ cô nổi dậy chống lại chính quyền và bị ám sát… thế nhưng cô lại chôn vùi mình trong cuộc sống của sự dối trá thông thường… cho đến khi V xuất hiện. Với V, cô được sống lại những nguồn cảm hứng lý tưởng trong mình, được tiếp xúc với nghệ thuật, được nhớ về Shakespeare, Goethe, Tchaikovsky… Nhưng nỗi sợ hãi vân còn đó trong cô, có lẽ điều cô sợ không phải là cái chết, cô sợ đối mặt với sự thật. Cô đóng giả là cô gái mua vui đến gặp linh mục Lilithman và niềm tin sụp đổ khi thấy linh mục này hàng ngày khoác trên mình bộ trang phục kẻ tôi đòi của Chúa nhưng lại không thoát khỏi những ham muốn dâm loàn. Linh mục Lilithman là đại diện cho tầng lớp tăng lữ phục vụ các loại hệ thống, những kẻ tôi đòi của Chúa nhưng lại bán linh hồn cho Qủy Dữ. Thật đúng là “Với bộ mặt ngoan đạo và những hành động đạo đức giả, ta bọc đường cả quỷ dữ” Nhưng điều thật sự truyền cảm hứng đến Evey là tự truyện của Velery – một trong những tù nhân của thí nghiệm virus, từ đó cô hiểu rằng có nhiều điều còn quan trọng hơn cả cái chết, đó là sống với sự thật.

Mọi thứ được hệ thống tạo ra đều phục vụ hệ thống: chính phủ, nhà thờ, tập đoàn, trường học, an ninh, truyền thông… đều sẵn sàng nói dối để bảo vệ sự trật tự. Trong “V for Vandetta”, sau sự xuất hiện của V, những người trong chính phủ không thể không biện minh “Bịa đặt là công việc của chính phủ trên khía cạnh tích cực”. Hệ thống có thể nói dối nhưng con người thì không. Vì sợ hãi, con người thường tự ru ngủ mình bằng lời nói dối. Vì lý tưởng, con người được đánh thức bởi Sự thật. Và đó là cách lý tưởng tồn tại vĩnh viễn. Nhờ lý tưởng mà con người luôn hoài nghi hệ thống, chỉ cần ai đó cho họ biết rằng có nhiều người cũng đang hoài nghi điều giống họ, sự hỗn loạn hệ thống bắt đầu. Không có gì phá vỡ hệ thống mạnh mẽ hơn những con người đầy hoài nghi và tìm kiếm Sự Thật. Chúng ta đều là con người, dù bạn là chính trị gia, linh mục, thương gia, sinh viên, điều tra viên, phóng viên truyền hình… hay đơn giản là những công nhân, nông dân, nhân viên văn phòng… bạn đều được quyền quyết định về hệ thống như V đã nói: “Người dân không cần phải sợ chính phủ của họ, chính phủ cần phải sợ người dân của mình”.

V chỉ là người gieo rắc lý tưởng, anh không phải người hoàn thành nó.Người hoàn thành cuộc tấn công tòa nhà quốc hội là Evey, thám trưởng Finch và hàng vạn người đeo chiếc mặt nạ Guy Fawkes dũng cảm phá hủy hệ thống cũ. Cái gì đến sau khi sự thật được tiết lộ khi mọi hệ thống chính trị trong lịch sử đều dựa trên dối trá, đúng như Evey nghi ngờ: “Mỗi khi thế giới thay đổi nó lại trở nên tồi tệ hơn”. Thế nhưng lý tưởng tìm kiếm Sự Thật sẽ tiếp tục được nhắc đi nhắc lại hết thế hệ này đến thế hệ khác cho đến khi một hệ thống lý tưởng ra đời.

Lý tưởng ấy đến nay ngày càng được nhiều người hướng đến vì thế kỷ 21 là bắt đầu của kỷ nguyên thông tin và mọi sự bảo mật dối trá đều vô vọng. Người ta không thể giấu diếm sự dối trá hàng thế kỷ giống như những thời đại trước. Nếu một hệ thống không được hình thành bằng sự trung thực thì sẽ không bao giờ có được lòng trung thành. Giống như phản ứng Domino, Sự Thật lây lan như virus và chẳng bao lâu sẽ hủy hoại hệ thống cũ đang mục ruỗng từng ngày từng giờ. Điều này không chỉ xảy ra trên một quốc gia, nó xảy ra trên mọi quốc gia trên toàn thế giới.

Vậy bạn còn chần chừ gì nữa? Tại sao bạn không cho mình lựa chọn, hoặc là phần tử của niềm tin cũ, lối tư duy cũ, nhận thức cũ, tuân thủ hệ thống cũ; hoặc đạp bỏ hệ thống đó, hướng tới điều vĩnh cửu và chờ đợi một hệ thống mới mẻ tự nảy sinh. Lý tưởng không giúp tạo nên hệ thống vì lý tưởng luôn ở bên ngoài hệ thống, nhưng lý tưởng là nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy sự hình thành hệ thống mới. Sự Thật có thể không mang đến cho bạn sự kỳ vọng vào tương lai, nhưng cho bạn quyền tự do chịu trách nhiệm về cuộc đời mình. Và một lời hào hùng của thiên tài Goethe sẽ kết thúc bài viết này để gieo rắc trong bạn những câu hỏi về Sự Thật: “Bằng sức mạnh của Sự Thật, tôi chế ngự cả vũ trụ” (“Faust”)

Anonymous

Nguồn: Internet