Độc giả thích tác phẩm "dễ dãi" cũng là điều dễ hiểu (Trả lời PV báo An ninh Thủ đô năm 2016)

blogpost thumb

Dưới đây là bài trả lời phỏng vấn báo An ninh Thủ đô của nhà văn Hà Thủy Nguyên trong năm 2016 về những cuốn sách thuộc loại “khó đọc” của mình và gu đọc sách “dễ dãi” của độc giả trẻ hiện nay.


Phóng viên: Mai Anh

ANTD.VN – Lý giải về việc vì sao độc giả lại thích đọc những tác phẩm văn học theo kiểu “mỳ ăn liền”, nhà văn, nhà biên kịch Hà Thủy Nguyên – một trong những tác giả trẻ hiếm hoi theo đuổi đề tài dã sử cho rằng, điều này không khó hiểu vì “độc giả thế nào thì tác giả như thế”. 

– PV: Mới đây (2016) người ta thấy chị ra mắt tập thơ “Mùa dã cổ” sau một loạt tác phẩm mang tính dã sử, rồi các kịch bản phim truyền hình. Vì sao có việc dấn thân này? 

– Nhà văn Hà Thủy Nguyên: Thực ra tập thơ này được lên ý tưởng từ những năm 2005 cho đến quãng 2014-2015, tôi viết khá nhiều bài rồi lại ngắt quãng rồi lại viết. Sau cùng, tôi rút ra quyết định rằng đơn giản là mình cho ra một tập thơ coi như đánh dấu một giai đoạn của cuộc đời. Vậy thôi!

– Nhiều người nghĩ rằng chị ẩn mình vì đã hứng đủ “gạch đá” từ dư luận, nhất là sau khi bộ phim mà chị là nhà biên kịch – “Vòng nguyệt quế” lên sóng. Lúc đó, chị cảm thấy thế nào?

– Tôi còn nhớ khi bộ phim “Vòng nguyệt quế” lên sóng năm 2008, cứ trung bình mỗi ngày lại có một bài báo phê phán bộ phim. Phim này tôi viết về đời sống của nhà văn, nhà báo… nói chung là tầng lớp trí thức trong nước. Khi phim mới chiếu được 1 tập, có rất đông  nhà văn, nhà báo nhảy vào “ném đá”, họ nói bộ phim sỉ nhục giới trí thức. Nhưng tôi nghĩ rằng phim mới chỉ phơi bày được khoảng 30% những gì mọi người thấy.

– Có vẻ như chị khá lận đận với sự nghiệp viết lách, nhất là khi cuốn sách thứ hai của chị “Cầm thư quán” cũng bị thu hồi sau khi ra mắt độc giả?

– Khi ra một cuốn sách, tôi thường không tổ chức truyền thông hay sự kiện ra mắt. Vì tôi muốn rằng khi sách ra, độc giả phải đọc sách của mình đã rồi sau đó mới bình luận, khen chê. Thời điểm  “Cầm thư quán” phát hành cũng ít người biết đến nên tôi khá ngạc nhiên vì nó bị thu hồi.

Tôi không cho rằng việc cuốn sách của tôi không đến được với bạn đọc do những vấn đề tôi đề cập quá “mới mẻ” hay do thời thế, vì những tác giả có tiếng trước đây cũng đã viết truyện hư cấu lịch sử nhiều rồi.

Hiện nay (2018), Cầm Thư quán đã “tái xuất” sau 10 năm lận đận, click vào link:

https://www.hangcao.info/san-pham/cam-thu-quan/

– Một nhà văn trẻ lại gặp phải cú “sốc” như vậy, chị có nghĩ đến việc từ bỏ hay chuyển hướng, không viết văn nữa hay không?

– Lúc ấy tôi cũng từng bị chấn động và phân vân kiểu như tự hỏi: Mình có cần thiết phải viết văn hay không?

Nói thực, nếu không viết văn, tôi cũng có thể làm nhiều việc khác như truyền thông, biên tập đến viết sách, rồi viết kịch bản phim… Hơn nữa viết kịch bản phim thì được nhiều tiền hơn là viết văn (cười).

Nhưng cứ làm việc gì khác thì tôi lại chán và trong đầu lại nghĩ đến việc viết văn. Tôi “dật dờ” trong một thời gian khá dài. Khi tâm trạng,  tôi lại viết một bài thơ, hay một bài phân tích nhưng không gửi đi đâu cả, chỉ giữ riêng cho mình thôi.

– Chị có cho rằng độc giả hiện nay dễ dãi không, khi những tác phẩm chất lượng tốt thì im hơi lặng tiếng còn những cuốn sách mang tính thị trường, viết theo kiểu “mỳ ăn liền” thì được độc giả săn đón?

– Tôi cho rằng trong giới văn trẻ vẫn có những người mà họ đau đáu những tác phẩm có giá trị. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng độc giả muốn như thế nào thì đòi hỏi những tác giả ấy phải “chiều” như thế.

Việc độc giả thích thú với những tác phẩm “dễ dãi” cũng là điều dễ hiểu. Khi dạy một số lớp cảm thụ văn chương, tôi lấy một số tác phẩm rất dễ hiểu của giai đoạn 1930-1945 nhưng một số em không hiểu được những từ ngữ cơ bản trong đó.

Điều này cho thấy rất khó để đòi hỏi những bạn trẻ phải đọc những tác phẩm được viết bằng ngôn ngữ đẹp, có nhiều ẩn dụ hoặc những văn bản ẩn chứa nhiều tri thức. Một trong những nguyên nhân nữa khiến những cuốn sách dù có giá trị nhưng không được độc giả đón nhận, đó là đời sống mà nhân vật trải nghiệm không phải là đời sống mà các bạn trẻ có. Bởi vậy họ không tò mò về những tác phẩm đó.

– Vậy cũng rất khó cho nhà văn lựa chọn xem mình viết cái gì, phải không ?

– Tôi thấy các nhà văn trẻ họ đều có suy nghĩ muốn viết hay thì phải đi theo xu hướng nào đó. Chẳng hạn viết theo một tác phẩm hàn lâm thì phải viết theo trường phái “hậu hiện đại”, hay nếu viết kiểu thị trường thì phải “xách ba lô và đi”.

Những cái đó chỉ là quy chuẩn của truyền thông, còn tôi nghĩ rằng, bất cứ ai cũng có câu chuyện để kể cho độc giả của mình, cái chính là họ có muốn và có dám kể hay không mà thôi.

– Xin cảm ơn chị về cuộc trò chuyện!

LỢI DỤNG ĐẠO MẪU TÀN PHÁ CÁC DI TÍCH?

blogpost thumb

Dịp nghỉ lễ 30/4, chúng tôi (những thành viên của Book Hunter) không đi du lịch phương xa mà lang thang trên những con phố Hà Nội – nơi tưởng chừng như rất quen thuộc nhưng vẫn đầy bất ngờ với những ai muốn tìm hiểu về quá khứ của nó.

Chúng tôi xuất phát từ Joma Cafe trên phố Lý Quốc Sư rồi đi một loạt các ngôi đền và nhà cổ ở phía Đông Bắc của phố cổ Hà Nội, kéo dài từ Hàng Trống, Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm. Rồi đến buổi chiều lại qua khu Tây Bắc của phố cổ, quanh các phố Hòe Nhai, Hàng Than, Quán Thánh, Phan Huy Ích rồi nghỉ chân và buôn chuyện ở hồ Tây.

Những ngôi đền cổ ẩn mình sau các khu hàng quán ngồn ngộn, cố chống chọi với cơn bão thời gian có thể làm thay đổi mọi thứ. Có những ngôi đền và nhà cổ vẫn còn giữ được vẻ đẹp vốn có (dù đã trải qua các cuộc phục dựng), nhưng có những ngôi đền đã bị biến đổi mà có lẽ những người dân thường đến lễ tại đó cũng chẳng hề hay biết.

Phố cổ Hà Nội là một khu buôn bán, dân tứ xứ từ xưa đã thường xuyên qua lại, định cư và sinh sống. Mỗi lớp dân ấy lại mang theo một vị thần bảo trợ cho họ tới khu phố cổ này.

Chủ yếu, khu phố cổ là nơi sinh sống của những người Hoa kiều có gốc từ Phúc Kiến, Quảng Đông; và những phường nghề của người Việt di dân từ nhiều tỉnh quanh đồng bằng Bắc bộ. Bởi vậy, các đền thờ là dấu vết còn lưu lại của lớp dân cư đã sống tại khu vực này trước đây, hoặc có khi họ vẫn còn vài người rớt lại nhưng phải chịu một cảnh sống khó khăn và bực bội vì họ đã mất đi vị thế làm chủ ở khu này.

Thế nhưng, nhiều ngôi đền đã bị thay đổi cơ cấu thần và xóa đi các dấu vết lịch sử của nó để thay vào là các ban thờ mẫu lòe loẹt.

Ở phố Nguyễn Văn Siêu có đền Cổ Lương. Tấm bia trong đền ghi rõ: “Thôn Cổ Lương tiếp giáp mé sông Nhị Hà, dân cư là người làng Khúc Thủy, đền thờ hai vị chính thần là Phổ Tế và Nam Hải. Công lao sự nghiệp của thần trong tự điển có ghi chép rõ ràng. Nhưng ngôi đền lúc mới xây dựng thì lợp cỏ gianh đơn sơ. Hơn trăm năm dân cư ca mừng tụ họp ở đây mà đền thần vẫn còn như cũ… Khi đó vị lý trưởng họ Đào tên là Đằng mới tiếp nối ý cha để đứng ra hưng công xây lại đình mới, lợp ngói.”

Nhưng nếu ai vào đền Cổ Lương ngày nay sẽ chỉ thấy một màu u ám với ban thờ Mẫu Liễu Hạnh chễm chệ trong ngôi đền bê tông. Hai vị chính thần Phổ Tế và Nam Hải thì chẳng ai nhớ tới công lao nữa bởi vì công lao của họ, tôi cũng không tìm được thông tin về họ. Nhưng tấm bia ghi chép về hai vị thần này là do tiến sĩ Vũ Nhị (hiệu Đông Hầu, đốc học Hà Nội) soạn thảo, chữ Hán do Nguyễn Mặc Khanh viết dưới thời Tự Đức, vì vậy, có thể thấy hai vị này hẳn phải có công đức lớn thì mới có được sự trân trọng như vậy.

Khi sắp xếp lịch trình cuộc đi, tôi có đọc thông tin về đền Yên Thành ở phố Phan Huy Ích, ngay đoạn giao với Quán Thánh. Đây là ngôi đền thờ Lý Chiêu Hoàng, vị nữ vương cuối cùng của triều Lý. Khi đã nhường ngôi cho Trần Cảnh, bà lui về ở ẩn, có công giúp dân làng Yên Thành và một số vùng khác ở Gia Lâm an cư lạc nghiệp, bởi vậy nên được tôn thờ. Đến thời Lê, bà vẫn được truy phong.

Tại đền thờ, người dân có đặt pho tượng Lý Chiêu Hoàng ngồi trên long ngai với chế tác tinh xảo cùng với 8 bức tượng các vị vua thời Lý. Điều này được ghi chép lại trong tạp chí Thế giới Di Sản.

Thế nhưng thực tế, khi chúng tôi đến ngôi đền này thì không còn thấy dấu vết gì của Lý Chiêu Hoàng và 8 vị vua nhà Lý mà thay vào đó là ban thờ mẫu hoành tráng sơn son thiếp vàng lòe loẹt và đám đồng cốt đang nhảy đồng tưng tưng. Chen chân vào đám đồng cốt đó để tìm pho tượng Lý Chiêu Hoàng hay tượng các vua Lý đều không có, mà chỉ có tượng các ông hoàng bà chúa trong hệ thống thờ tứ phủ.

Trước đó không lâu, khi đến thăm đền Cẩu Nhi đã được sửa sang lại ở hòn đảo nhỏ trên hồ Trúc Bạch, tôi cũng chỉ thấy có ban thờ mẫu Thoải và Tứ phủ, không còn ghi chép lại sự tích.

Trong khi đó, ghi chép của Dương Bá Cung trong “Tây Hồ chí” còn kể rõ: “Thần Cẩu Nhi là con Cẩu Mẫu, triều Lý miếu thờ ở bãi Châu Chữ (bến Châu) phía Tây Bắc hồ, thời Hậu Lê gọi là chùa Trúc Bạch. Trên có Miếu Chó thần Cổ Nhi dựng từ triều Lý. Nay hãy còn” và Núi Khán: “Hai ngọn liền nhau, ở phía Nam hồ, góc Tây nội thành. Trên có miếu Cẩu Mẫu (mẹ chó thần) của triều Lý.

Trước khi nhà Lý dời đô ra Thăng Long, ở chùa Thiện Tâm trên núi Ba Tiêu – châu Bắc Giang có một con chó trắng mang thai vượt sông trên núi Khán sinh một con. Người người lấy làm lạ.

Đến năm Canh Tuất có việc dời đô, Cẩu Mẫu và Cẩu Nhi đều hoá. Vua nghe chuyện, bảo đó là Phúc Thần, bèn cho dựng miếu thờ Cẩu Mẫu, Cẩu Nhi ở dưới hồ thuộc địa phận làng Trúc Yên”.

Trong cuốn “Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX” của Nguyễn Văn Uẩn viết: “Lên đến gần đường đê Yên Phụ, ta thấy còn mấy di tích lịch sử nữa: Ở bên phải, trên một gò nhỏ giữa hồ Trúc Bạch có đền Cẩu Nhi, đền này có từ thời Lý Thái Tổ (thế kỷ XI), khởi thủy ở cạnh núi Nùng trong Hoàng Thành, khi xây lại thành sau này mới chuyển bài vị thờ thần ra đây. Về sau, những người đến lễ bái chỉ biết là đền thờ “Thủy Trung Tiên” (bà tiên dưới nước).”

Nực cười là, từ cái tên “Thủy trung tiên”, các tín đồ đạo Mẫu đã đặt vào ban thờ vị Mẫu Thoải, mẫu cai quản nước, để lấp liếm một cách hợp lý cho tình trạng tàn phá di tích này dưới danh nghĩa phục dựng và cải tạo.

Đó là còn chưa kể một cuộc xâm chiếm trong hầu hết các đền, chùa, đình của đạo Mẫu. Chỗ nào cũng thấy đặt một ban thờ đạo Mẫu. Rồi chỗ nào cũng có thể thành chỗ nhảy đồng ầm ĩ hô thần gọi quỷ (mà thần thì ít, quỷ là chính).

Và còn rất nhiều địa điểm khác, không chỉ ở Hà Nội mà còn ở khắp cả nước.

Tình trạng xâm lấn này của đạo Mẫu trên thực tế chẳng khác nào các tập đoàn tham lam muốn phá hoại các di tích cũ để chiếm đất, chiếm khả năng thu hút đám đông.

Có phải thông qua con đường cải tạo và phục dựng, người ta lợi dụng hệ thống đạo Mẫu để ngang nhiên chiếm đất ở nhiều địa điểm tâm linh?.

Cứ đà này, nếu không có sự kiểm soát, Việt Nam sẽ hoàn toàn ở dưới sự chỉ huy độc tôn của “Mẫu giáo”. Thứ “Mẫu giáo” này sẵn sàng gạt bỏ hết lịch sử và các lớp văn hóa trước đó để tiếp tục tận thu tiền của dân chúng mê muội vào tay đồng cốt.

Thực trạng tàn phá di tích này đến nay vẫn chưa được quan tâm bởi vì nó đi ngầm rất lâu. Hơn nữa, đụng chạm đến mấy thế lực tâm linh ở vùng đất vẫn còn nhiều mê tín dị đoan này, đa phần đều e ngại.

Tôi mong rằng, các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa; các nhà báo; hoặc các độc giả quan tâm đến vấn đề bảo vệ di sản sẽ đưa ra ý kiến về việc này. Bởi vì, tự do tôn giáo và tín ngưỡng không đồng nghĩa với việc cho phép tôn giáo và tín ngưỡng ấy tàn phá văn hóa.

Hà Thủy Nguyên

Yêu nước là yêu gì?

blogpost thumb

Tình yêu nước bao giờ cũng là một khái niệm khó định nghĩa. Tại sao? Bởi “nước” và “yêu” cũng là một khái niệm khó định nghĩa. Yêu nước là yêu ai? Yêu những con người cùng nòi giống, cùng tiếng nói với mình? Yêu những người cùng mình sinh sống trên một mảnh đất nào đó? Hay là yêu một quốc gia mà từ nhỏ ta đã được dạy là phải yêu, phải hi sinh cho nó – yêu một thứ mà ta không được lựa chọn như một thứ định mệnh lớn áp đặt lên chính ta?

Năm cấp 2, giống như bao nhiêu học sinh khác, tôi phải làm một bài văn nghị luận về tình yêu nước. Bài văn nghị luận ấy đã mang cho tôi một điểm 10 môn Văn từ cô giáo khó tính nhất trường. Lúc ấy, tôi đã đinh ninh rằng tôi thật sự rất yêu nước, yêu đến mức có thể hiến dâng mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước – nơi mình đang sinh sống. Trong bài văn nghị luận thuở trẻ con ấy, tôi đã viết rằng yêu nước là yêu mảnh đất nơi mình sinh sống, yêu tiếng nói, yêu con người, yêu lịch sử hào hùng và vẻ vang; trong tình yêu ấy có cả sự tự hào dòng máu Việt Nam. Những lập luận ấy không có gì mới mẻ, mà có phần tự huyễn. Càng lớn lên, tình yêu nước mờ nhạt dần bởi vì hóa ra tình yêu đó được hình thành không phải vì tôi tự hào về nòi giống của mình mà chỉ tự hào  về điểm 10 Văn ngày ấy. Cái cảm giác khi nói về một điều gì đó bất kể mình có thật lòng hay không, được người khác thừa nhận, mang lại một sự khoái cảm tinh thần nhiều đến mức tự thôi miên bản thân đồng nhất với điều đó.

Tình yêu nước mờ nhạt ấy cũng làm tôi nhớ đến nhiều mối tình trong quá khứ. Những anh chàng đã đi qua thời trẻ trung của tôi đều rất ngọt ngào và rất dễ dàng để thốt lên “Anh yêu em”. Và rồi tình yêu ấy cũng nhạt dần theo thời gian. Bất cứ tình yêu nào người ta dễ dàng phát biểu thì đều xen lẫn hoặc chút ít giả dối hoặc quá nhiều tự kỷ ám thị. Thời gian sẽ khiến những giả dối dần lộ diện và những ám thị hết hiệu lực, chúng ta sẽ dần tỉnh và nghĩ rằng tình yêu đích thực của mình là dành cho thứ khác. Cứ thế, cứ thế, ta rơi vào hết tình yêu này đến tình yêu khác: yêu người tình, yêu gia đình, yêu đất nước, yêu nhân loại, yêu trái đất, yêu vũ trụ… Sao mà người ta có thể dễ dàng nói ra lời yêu đến thế?! Có hàng ngàn, hàng vạn, vô cùng tận các cách thức để biểu hiện tình yêu, sao cứ phải phát thành lời chữ “yêu”? Chẳng phải vì một thói quen ngôn ngữ đã ăn mòn trong tâm trí ta đến mức ta không còn có thế biểu hiện theo một cách nào đó khác? Hay bởi vì ta chỉ là một cỗ máy lặp đi lặp lại những định dạng ngôn từ trừu tượng để tự thôi miên bản thân vào một kịch bản lâm li.

Tình yêu dành cho đất nước, cũng giống như mấy loại yêu khác, đòi hỏi nhiều điều hơn là sự phát biểu. Chúng ta không thể chọn được đất nước nơi mà ta sinh ra, và trong nhà trường hay trong xã hội, chúng ta được tuyên truyền về trách nhiệm của mình đối với đất nước như một thứ định mệnh mà ta bất khả cưỡng. Nhưng đất nước là gì? Tất cả dường như quá mờ ảo. Cái thứ tình yêu nước mờ ảo ấy giống như cô dâu thời phong kiến bước về nhà chồng mà còn chưa biết mặt chồng, cô ấy sẽ mã hóa sự cam chịu của mình bằng tình yêu chồng chứ khó có thể yêu anh ta thật lòng được. Khi không thể xác định được “đất nước” mình cần yêu là gì, người ta chỉ có thể tự thôi miên mình vào một thứ căn cước (Identity) để định danh bản thân, dùng lòng tự hào để tự trói buộc và hành xử theo lối “Ta về ta tắm ao ta/Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”. Bởi thế, tình yêu nước loại này mù quáng và tự đóng khung trong một mê cung chật hẹp của thứ chủ nghĩa dân tộc cực đoan mà mỗi khi chúng ta lạc trong đó, chúng ta sẽ không thể nào biến đất nước nơi ta đang sống thành một nơi tốt đẹp hơn được.

Tôi sẽ  không định nghĩa tình yêu nước là gì, tôi không muốn xây thêm bất cứ bức tường ngôn ngữ nào để giam bản thân tôi và  độc giả vào cái mê cung cũ kỹ ấy nữa. Tôi sẽ kể về một số cách người ta yêu nước, những cách không đơn thuần chỉ là phát biểu.

Hãy nhìn về lịch sử nước ta, triều đại Lý – Trần rực rỡ, một triều đại điển hình cho sự tự cường của quốc gia. Ông tổ của các vị vua Lý và vua Trần đều di cư từ Phúc Kiến (Trung Quốc) xuống miền Bắc Việt Nam; thế nhưng trong chính hai triều đại này, sự tự cường của quốc gia lại mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Hết lần này đến lần khác, triều đình Lý – Trần ngăn chặn thành công những đợt xâm lược từ phương Bắc. Tại sao? Bời vì họ không bị lệ thuộc vào căn tính sâu xa từ thời tổ tông của mình. Họ gắn bó với mảnh đất mà họ đang sinh sống, từng ngày họ nỗ lực để xây dựng và cải thiện sao cho mảnh đất này tốt đẹp hơn. Họ yêu  những thành quả mà họ đã tạo ra và cố hết sức để bảo vệ thành quả ấy. Họ là những người dám dũng cảm để khẳng định: “Nam quốc sơn hà nam đế cư” (Lý Thường Kiệt) bởi vì cái “Nam quốc” ấy có ghi dấu mồ hôi và xương máu của mỗi người trong số họ. Hoàng tộc Lý – Trần từ lâu đã vứt bỏ căn tính phương Bắc của mình để đại diện cho tinh thần Đại Việt, hợp tác với những người dân bản địa trên mảnh đất này, cùng đấu tranh và xây dựng. Tôi cho rằng, có nhiều người yêu đất nước này (dù là thuộc nòi giống khác hay nòi giống bản địa) bởi vì họ đã dày công để kiến tạo nên các giá trị tốt đẹp của đất nước. Hàng ngày, họ trăn trở vì những điều tệ hại vẫn còn đầy rẫy và không quản ngại mọi khó khăn, cản trở để chấm dứt sự tệ hại. Có thể đúc rút sự trăn trở ấy trong hai câu: “Tiên thiên hạ chi ưu chi ưu/ Hậu thiên hạ chi lạc chi lạc” (Nghĩa là “Lo trước cái lo của thiên hạ/ Vui sau cái vui của thiên hạ). Những người  này, họ ít phát ngôn lắm, họ chỉ phát ngôn khi phát ngôn của họ thực sự có thể thay đổi tình trạng hiện tại; còn lại, họ sẽ âm thầm làm việc chẳng bận lòng đến công danh.

Tôi có quen một cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam, hiện ông đang làm công việc gỡ bom mìn giải quyết hậu quả của cuộc chiến tranh Mỹ – Việt, ông cũng yêu Việt Nam lắm, yêu tới mức dành phần lớn thời gian ở nước ta và bất cứ người Việt nào cần giúp đỡ, ông đều không hề từ chối. Nhiều người cho rằng lòng tốt của ông với Việt Nam là do ông quá áy náy về tội lỗi của nước Mỹ nhưng chỉ khi trò chuyện và tiếp xúc, tôi mới thấy rằng tình yêu ấy không xuất phát từ mặc cảm. Ông chia sẻ rằng khi ở với người Việt Nam, ông thấy có sự kết nối về mặt tinh thần, gần gũi và thân tình. Mỗi khi ông ở Việt Nam, ông thấy như ở nhà. Tôi cho rằng cũng không ít người yêu nước vì cảm thấy sự kết nối với con người sống tại đó. Sự kết nối này rất khó để mô tả, chỉ có thể là cảm giác. Và cũng không thể khiên cưỡng, chỉ có thể xuất phát một cách tự nhiên do một nhịp đập vô thanh nào đó của trái tim. Trái tim có thể biến bất cứ một người thuộc bất kỳ nòi  giống hay quốc tịch nào đó khác trở thành người Việt Nam giống như những người bản địa.

Hai cách yêu mà tôi vừa kể trên, một lý trí – một tình cảm, nhưng không tình yêu nào mù mờ trong hư ảo. Họ đều cố gắng để hiểu rõ đối tượng mà mình muốn yêu và họ muốn yêu một cách hiệu quả, yêu sao cho đất nước trở nên tốt đẹp hơn. Họ không yêu chỉ để mà yêu, chỉ để phát biểu. Họ không yêu nước để được một sự thừa nhận rằng họ là “nhà yêu nước”. Họ không biến tình yêu nước thành một thứ giải tỏa cho những mặc cảm tinh thần cuộn trào dưới vỏ bọc của chủ nghĩa dân tộc. Thật nực cười khi ai đó cả một đời chẳng hề đau đáu đến sự dựng xây đất nước thành một nơi tốt đẹp hơn lại hô to rằng “tôi yêu nước” trong một cơn kích động! Chẳng gì nực cười hơn khi người ta có thể nhân danh tình yêu nước để tàn phá và giết người (Chẳng phải lịch sử của thế kỷ 20 ở nước ta đã chìm đắm trong cơn mê muội ấy hay sao?)! Tình yêu nước trong vô thức trở thành một thứ cân bằng tâm lý tự nhiên cho các hành vi trái với lương tri, nó xoa dịu các vết đau do tội lỗi và cho những người vô thức ấy một cái huy hiệu được gọi là “nhà yêu nước”.

Việt Nam ta vốn dĩ không phải một quốc gia thống nhất mà là một quốc gia đa sắc tộc và văn hóa. Những lý luận sai lầm trong nghiên cứu văn hóa và dân tộc học đã dẫn đến tình trạng cố gắng xóa bỏ sự đa nguyên ấy để hướng tới một khối đại đoàn kết dân tộc giả tạm, dần dần, trói buộc người dân vào thứ chủ nghĩa dân tộc lệch lạc chứ không phải tình yêu nước. Bởi thế, người dân mất đi  nhận thức rằng mọi sự lao động của mình đều đang để kiến tạo một quốc gia phồn thịnh và rồi họ không còn biết đâu là thành quả của mình nữa, lấy đâu động lực để giữ gìn và bảo vệ? Sự cực đoan của chủ nghĩa dân tộc che mờ con tim đến mức người với người chẳng thể kết nối hay cảm nhận thấy nhau, lấy gì để yêu nhau, để hỗ trợ nhau?

Vậy thì những người dường như có vẻ thờ ơ với đất nước thì sao? Họ không yêu nước ư? Hay họ tỉnh táo? Chỉ đơn giản vì họ không cảm thấy kết nối nào với những con người ngoài kia hoặc vì sự kiến tạo của họ đang hướng tới mục đích khác, và họ trung thực với điều ấy. Họ có đáng để lên án hay không nếu những hoạt động của họ không hề tổn hại đến đất nước nơi mà họ đang sống? Sự thờ ơ ấy có thể đến từ nhiều nguyên nhân. Tệ hại thì là do lòng tham ích kỷ và lòng tham bao giờ cũng tàn phá mọi thứ mà nó chạm đến. Khá hơn một chút là do nghĩ rằng sức của mình chẳng thay đổi được gì. Xa hơn thế là do  họ có mục đích khác để hướng tới mà mục đích ấy còn cao xa hơn các vấn đề đất nước và dân tộc, hơn những thứ tầm thường của cuộc sống. Thế thì, ai yêu nước cứ yêu nước, ai thờ ơ cứ thờ ơ. Yêu nước cũng được, thờ ơ cũng được chỉ cần đừng làm điều gì tệ hại trái với lương tri, miễn là lương tri còn ít nhiều tồn tại.

Hà Thủy Nguyên

Nhân sự việc Công viên Ấn tượng Hội An, bàn về tính chính trị của cái đẹp

blogpost thumb

Hà Thủy Nguyên

Những ngày tháng 4 vừa qua, dư luận báo chí xôn xao về sự tàn phá môi trường và cảnh quan của dự án Công viên Ấn tượng trong khu vực Phố Cổ Hội An. Ở bài viết này tôi sẽ không đề cập đến vấn đề pháp lý hay những nguy hại về môi trường mà bàn đến vấn đề bấy lâu nay chúng ta dường như đã bỏ quên trong công cuộc xây dựng một nước Việt Nam văn minh và hiện đại: Đó là tính thẩm mỹ của cảnh quan đô thị. So với những vấn đề khác thì vấn đề tính thẩm mỹ không được coi trọng bởi vì ở một quốc gia mà người dân còn có trình độ dân trí thấp và coi trọng miếng ăn hơn giá trị tinh thần thì đòi hỏi về cái đẹp vẫn là quá xa xỉ. Tuy nhiên, nếu chúng ta thay đổi cái nhìn về cái đẹp, mà cụ thể hơn là tính thẩm mỹ trong cảnh quan đô thị, thì chúng ta sẽ thấy rằng vai trò chính trị của cái đẹp cũng quan trọng không kém các quyền tự do chính trị, tự do kinh tế. Một quốc gia, một dân tộc, một cộng đồng người không thể tạo ra các tác phẩm hay sản phẩm có tính thẩm mỹ cao thì quốc gia ấy, dân tộc ấy, cộng đồng ấy cho thấy một sự suy thoái về tinh thần và sự kém cỏi về trí tuệ, nói một cách khác đó là dấu hiệu cho thấy sự man rợ và lạc hậu.

Xã hội loài người đã từng chứng kiến sự thăng trầm của những nền văn minh rực rỡ, từ Ai Cập cổ đại, Hi Lạp và La Mã cổ đại, Trung Quốc cổ và trung đại, Kỷ nguyên vàng Islam, Phục Hưng ở Châu Âu… Những gì còn lưu lại đến nay đều là những tạo vật đẹp đẽ mà những người nghệ sĩ đã dành nhiều tâm huyết để chế tác. Động lực thúc đẩy sự sáng tạo của nghệ sĩ chính là một xã hội biết thưởng thức cái đẹp và tôn trọng cái đẹp. Những nền văn minh này đã lụi tàn theo thời gian do quy luật thành bại của lịch sử nhưng những dấu vết để lại với tính thẩm mỹ cao đều cho chúng ta thấy khả năng tư duy hoàn hảo, tinh thần trách nhiệm, sự chuyên nghiệp trong tài năng cá nhân, sự khai phóng tinh thần trong sáng tạo và cả tư tưởng thời đại của các tiền nhân. Chẳng ai nhớ đến các tác phẩm hay các sản phẩm xấu xí và tệ hại. Sự xấu xí chỉ tồn tại trong những cộng đồng người man dã khi khả năng tư duy còn hạn chế và kỹ thuật còn thô sơ. Đây là những đặc điểm về thẩm mỹ điển hình trong các xã hội man dã. Những đồ tạo tác của xã hội man dã không phải vô dụng, chúng có giá trị về mặt khảo cổ. Rất ít trong số chúng có độ tinh xảo nhất định thì mới có thể được đánh giá là đẹp, và cái đẹp ấy là đại diện cho sự tiến bộ.

Nhưng lịch sử có những trớ trêu khó cưỡng, đó là trong một số hoàn cảnh, người ta đứng về phía cái xấu thay vì chọn cái đẹp. Để chế tác hoặc sáng tạo một tác phẩm hay một sản phẩm xấu, người ta không cần sự kỳ công, không cần sự tính toán kỹ lưỡng, không cần sự hiểu biết, không cần đạo đức nghề nghiệp. Họ chỉ cần sự tằn tiện trong chi phí sao cho lợi nhuận tối đa. Bởi thế, họ chọn cái xấu không phải vì họ không nhận thức được rằng nó xấu mà đơn giản rằng nó tiện lợi cho họ. Nhưng tiếc rằng, đúng như nhà văn Oscar Wilde, nhà văn duy mĩ hàng đầu của Anh quốc đã kết luận:

“Người ta thường nói như thể cái đẹp đối nghịch với cái hữu dụng. Nhưng chẳng có gì đối nghịch với cái đẹp ngoại trừ cái xấu: mọi thứ đều hoặc là đẹp hoặc là xấu, và cái có ích luôn ở về phía cái đẹp, bởi vì sự điểm trang đẹp đẽ luôn ở về phía cái đẹp, bởi vì sự điểm trang đẹp đẽ cho một vật luôn là biểu hiện của tính năng và giá trị của vật đó. Không người thợ nào trang trí đẹp cho một sản phẩm tồi, và bạn cũng không thể có những người thợ hoặc nghệ nhân tốt mà lại không có những thiết kế đẹp. Bạn nên chắc chắn về điều đó. Nếu bạn có những thiết kế nghèo nàn và vô giá trị, dù trong nghề thủ công nào, bạn cũng sẽ chỉ có được những người thợ nghèo nàn và vô giá trị, nhưng khi bạn có những thiết kế đẹp đẽ và tao nhã, bạn sẽ có những người với đủ sức mạnh và trí tuệ làm việc cho mình. Có được một thiết kế tốt, bạn sẽ có những người thợ làm việc không chỉ bằng đôi tay, mà bằng cả trái tim và khối óc nữa, ngược lại, bạn sẽ chỉ có được những kẻ ngu xuẩn và lười nhác làm việc mà thôi.”

(Trích tiểu luận “Nghệ thuật và thợ thủ công”. Bản dịch của Minh Hùng, đăng trên Book Hunter)

Ở thời đại của Oscar Wilde, nước Anh phải trải qua một thời kỳ phát triển của tư bản hoang dã trong cơn hưng phấn của Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất. Sự phát triển công nghiệp nặng, sự lên ngôi của thói thẩm mỹ trọc phú đều là những đối tượng Oscar Wilde lên án trong các tiểu luận và bài giảng về nghệ thuật của mình. Ông đã dành toàn bộ tài năng của mình để tạo ra các áng văn chương tuyệt đẹp với tinh thần duy mỹ để chống lại sự tràn lan của cái xấu xí trong xã hội Anh thế kỷ 19. Trước Oscar Wilde, rất nhiều nhà thơ lãng mạn của Anh dưới thời Victorian như Lord Alfred Tennyson, William Wordsworth… cũng chọn tinh thần duy mỹ và sự ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên như một sứ mệnh chính trị của mình. Họ từ chối các đặc quyền chính trị khi trở thành nhà thơ hoàng gia ca ngợi công cuộc đổi mới để quay về với sự cô độc cá nhân trong sự đắm chìm vào thế giới đẹp đẽ của ngôn từ. Đó là thái độ bất tuân dân sự của người duy mĩ. Những nhà làm chính trị thực tiễn thường cho rằng các nhà thơ, nhà văn duy mỹ là những kẻ thoát ly thực tại nhưng trên thực tế, họ đang tiếp tục thông qua sáng tác cá nhân để nâng cao thị hiếu người dân. Bởi vì, chừng nào họ còn sáng tác những áng văn chương tuyệt mỹ thì chừng đó cái đẹp còn tồn tại.

Ở Việt Nam, đã từng có thời tính duy mĩ được coi trọng, tuy nhiên do yếu tố man dã vẫn còn phổ biến nên những thời đại rực này đã sớm lụi tàn ngay khi bắt đầu. Lần gần nhất được ghi dấu trong giai đoạn đầu thế kỷ 20 ở các đô thị lớn. Xu hướng này chấm dứt khi phe Nghệ thuật vị nhân sinh chiếm ưu thế trong cuộc tranh luận những năm 1940s. Các cây bút của phong trào Nghệ thuật vị nhân sinh mà dẫn đầu là Hải Triều đã có một cuộc tổng tấn công vào các nhà văn, nhà thơ lãng mạn có xu hướng duy mĩ ở Việt Nam và đả kích họ là không thực tế và thoát li hiện thực. Sự tàn phá cái đẹp trong văn chương này đã mở màn cho một chuỗi đi xuống về thẩm mỹ trong xã hội Việt Nam ngày nay. Năm 1943, đề cương về văn hoá Việt Nam của Đảng Cộng sản Đông Dương do Trường Chinh biên soạn đã trở thành một chiến lược chống lại cái đẹp toàn diện, và là chủ trương có sẵn trong vô thức của tầng lớp quan chức Cộng sản Việt Nam nói riêng và xã hội nói chung: “chống chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa tượng trưng… làm cho xu hướng tả thực xã hội chủ nghĩa thắng.” Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam giành thắng lợi, không chỉ xu hướng tả thực xã hội chủ nghĩa mà còn xu hướng bình dân hoá trong văn học nghệ thuật cũng dẫn đến một tình trạng thẩm mỹ kém cỏi trong cảnh quan cũng như các sáng tác, tạo tác. Mở của kinh tế, những tưởng rằng sự nới lỏng các quyền tự do sẽ tạo ra một xã hội văn minh hơn, nhưng không. Đây là thứ tàn phá thẩm mỹ xã hội, thậm chí là cảnh quan còn nhanh chóng và tệ hại hơn bao giờ hết. Giai đoạn “quá độ xã hội chủ nghĩa” được bổ sung thêm tính chất của chế độ tư bản hoang dã đã tạo ra những công trình đồ sộ nhưng xấu xí, những tạo tác kệch cỡm, và một cộng đồng người bị man dã hoá do đã quen dần với môi trường sống vừa thiếu quyền làm người, vừa thiếu tri thức lại vừa thiếu thẩm mỹ. Bởi thế, việc triệt hạ cái đẹp trong xã hội là một phần của trong chính sách ngu dân và bần cùng hoá mà trớ trêu thay có lẽ chính nhà cầm quyền và ngay cả các nhà hoạt động chính trị cũng không hẳn đã ý thức được.

Trường hợp Công viên Ấn tượng Hội An của tập đoàn Gami chỉ là một trong số những ví dụ của chuỗi tàn phá không biết bao giờ kết thúc mà công cuộc xây dựng kinh tế sau Đổi Mới đã gây ra. Quá trình đô thị hoá bừa bãi, không, chính xác phải gọi là bê tông hoá đã tàn phá những cánh đồng quê êm ả, những vùng núi hùng vĩ, những con sông xanh mát, những bờ biển cát trắng, những cánh rừng huyền bí và cả những đô thị cổ còn lưu lại dấu vết của một thời văn minh đã xa… Cái đẹp đã mất Hà Nội, Sài Gòn, Huế, Sapa … và bây giờ liệu có mất thêm Hội An? Một công trình của Gami chỉ có thể tàn phá một góc Hội An nhưng nó sẽ là bắt đầu cho chuỗi tàn phá của các tập đoàn khi ai cũng có thể xây dựng vô tội vạ với sự lơ là của các cơ quan ban ngành quản lý.

Thế đấy, cùng với “giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm” thì người dân Việt Nam còn phải đương đầu với “giặc xấu”, thứ giặc mà trước giờ ít người nhận ra dù sự phát triển của loại giặc này đã và đang ngày một phổ biến do sự xuống cấp của giáo dục và sự tàn phá văn hoá trong nhiều thập kỷ liên tiếp. Nâng cao thị hiếu thẩm mỹ của bản thân cũng như của xã hội là trách nhiệm vô cùng quan trọng của văn nghệ sĩ và trí thức để đưa xã hội Việt Nam hướng tới sự văn minh đồng thời gột rửa dần các tố chất man dã. Bởi vì chỉ có văn nghệ sĩ và trí thức mới có cơ hội cũng như khả năng để tiếp cận tri thức và trang bị cho mình các nền tảng mỹ học đủ để thẩm định và sáng tạo cái đẹp. Văn học nghệ thuật không đơn thuần chỉ là sự phát biểu cái tôi cá nhân của văn nghệ sĩ mà đó còn là một sự tạo dựng nền tảng thẩm mỹ cho xã hội mà trong đó văn nghệ sĩ trí thức được khám phá và hoàn thiện chính mình.

Bài đăng trên Văn Việt

SỰ VIỆC DAN HAUER? XÚC PHẠM HAY KHÔNG? YÊU NƯỚC HAY KHÔNG?

blogpost thumb

Thường tôi không quan tâm đến những chuyện xôn xao, cãi cọ trên facebook, nhất là mấy chuyện lằng nhằng dính đến ba cái thứ được khoác mỹ tự “tinh thần dân tộc”, nhưng sự việc Dan – một thày giáo người Mỹ dạy tiếng Anh ở Hà Nội bị cả cộng đồng những người “yêu nước bằng bàn phím” xông vào chửi bới, hạ nhục, hè nhau đấu tố, đòi trục xuất, đòi giết…v…v… do lỡ dại trót đùa cợt trên facebook động chạm đến cố đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tôi quan tâm bởi lẽ tôi rất thích các video của Dan trên Youtube, không chỉ vậy mà cả con gái tôi cũng học được nhiều từ video của Dan hơn chương trình học vớ vẩn trên trường. Do cách giật tít trên báo, đa phần mọi người (thường là những người yêu nước cực đoan) chỉ nhìn thấy sự việc “Dan xúc phạm ông Giáp”, nhưng nếu nhìn đầu đuôi toàn bộ câu chuyện sẽ thấy toàn bộ sự việc phức tạp hơn thế. Thôi thì tôi xin phép được dài dòng tường thuật lại ngắn gọn sự việc một cách có hệ thống rồi sẽ phân tích phức tạp hơn.

U23 Việt Nam vào chung kết ngay trên đất Trung Quốc, chiến thắng nhiều cường quốc bóng đá Châu Á, đó là niềm vui bất ngờ sau những chuỗi ngày u tối của các scandal, các vụ cá độ, các vụ án tham nhũng…v…v… Nhưng niềm vui ấy hơi… “thái quá”. Đáng lý ra, bão trong đêm bán kết là đủ rồi, đằng này bão đến nhiều ngày sau đó. Nhiều người bạn của mình không quan tâm đến bóng đá, khi tỏ thái độ kiểu: “Sao chúng mày cuồng thế?” trên facebook thì bị nhiều facebooker lao vào chửi, xỏ xiên, thậm chí unfriend. Lố bịch nhất là bài báo trên báo “Nhân dân” có tên gì mà “Vận nước đang lên”. Việc thắng một trận bóng đá chẳng thay đổi gì cho vận nước cả, giả sử Việt Nam thua trận chung kết thì vận nước xuống à? Vận của quốc gia mà dựa vào đội bóng đá chứ không phải vào các chính trị gia, các trí thức, các đại tướng, các đại gia…v…v… thì quốc gia ấy là cái thứ quốc gia gì? Một tờ báo cơ quan ngôn luận của Đảng còn có những cái thất thố như vậy thì chả trách báo chí Việt Nam xập xệ, còn cộng đồng mạng thì manh động. Không lạ! “Hòa vào bầu không khí” ấy, nhiều doanh nghiệp tận dụng sóng truyền thông để làm PR sản phẩm, bán tống bán tháo hàng tồn kho, và có một anh Tây dậy tiếng Anh khác (không phải Dan) nói rằng sẽ xăm hình lá cờ Việt Nam lên vú nếu Việt Nam thắng chung kết. Dan ngứa mắt với lối làm truyền thông này, troll một câu tiếng Anh đại loại ý là “Vãi cả chưởng! Khi Hoàng Xuân Vinh đạt huy chương vàng Olympic 2 năm trước, tao đã khuyên vào đầu cu tao theo kiểu PA viên bi giống đầu cụ Võ Nguyên Giáp”. Thế nhưng, bà con (chắc học tiếng Anh chẳng đến nơi đến chốn) suy luận thành Dan ví đầu cụ Giáp giống đầu cu, và cho rằng anh chàng xúc phạm anh hùng dân tộc.

Nếu Dan share câu nói này trên facebook cá nhân hay trong video giảng dạy thì đó thực sự là vấn đề xúc phạm, nhưng anh chàng này chỉ comment để troll như một sự đăng đối giữa “vú – cu”, “cờ tổ quốc – Võ Nguyên Giáp”. Kể đến đây, tôi lại thấy buồn cười, tại sao “vú” của đàn ông không bị coi là tục tĩu mà “cu” lại bị coi là tục tĩu. Nếu cả cái dân tộc này mà coi thường cái “cu” thế, coi nó là bẩn thỉu, tục tĩu, sao không cắt béng nó đi cho xong. Cần cái “cu” nhưng lại coi thường nó là sao? Dị!!! Thế là bức ảnh chụp phần comment của Dan bị lan truyền ầm ĩ trên mạng cùng với caption kiểu lái hướng truyền thông thành xúc phạm anh hùng dân tộc. Việc lan truyền bức ảnh này và buộc tội Dan nằm trong một chuỗi âm mưu khác không liên quan gì đến tinh thần dân tộc.

Chả là cách đây không lâu, Dan tung ra một video Youtube góp ý về lối phát âm, lối giao tiếp tiếng Anh sai thường thấy mà các giảng viên người Việt của nhiều trung tâm tiếng Anh thường mắc phải. Trong số các trung tâm tiếng Anh ấy, có trung tâm Elight, một trung tâm cũng gọi là kha khá lớn nhảy dựng lên đòi kiện cáo rồi phân bua, rồi khóc lóc. Hẳn là trung tâm tiếng Anh này cùng một số trung tâm khác được xuất hiện trong Youtube của Dan chịu thiệt hại không ít khi những lỗi sai ấy bị bới móc. Cá nhân tôi đánh giá khá cao việc Dan tranh cãi với các trung tâm ấy, bởi vì các trung tâm tiếng Anh ở Việt Nam trong một thời gian dài đã tạo ra những thói quen học tiếng Anh chộp giật, nhai lại thường thấy hiện nay. Khi Dan bị “lỡ mồm trót dại” do không hiểu các khác biệt trong truyền thống văn hóa Việt Nam, thì cộng đồng của các trung tâm kiểu này hùa vào share, chửi, buộc tội. Rồi tôi thấy đâu đó người ta tag nhau gọi đàn Dư luận viên (DLV) vào để chửi hội đồng. Rồi báo chí cũng hợp thức hóa cuộc buộc tội ấy bằng việc mấy ông luật sư, mấy bà nghiên cứu xã hội buộc tội Dan, kêu gọi tẩy chay Dan. Song song với đó, các nhà hoạt động dân chủ cũng lên tiếng bênh vực Dan vì cho rằng đó là quyền tự do ngôn luận của anh chàng. Thế là từ một trò troll đã trở thành vấn đề khác biệt văn hóa, thành xúc phạm dân tộc, thành nhân quyền. Khổ quá!

Qua vụ phức tạp này, tôi thấy có mấy vấn đề sau cần định nghĩa lại rõ ràng:

Thứ nhất, thế nào là “xúc phạm”. Như đã nói ở trên, việc Dan xâu khuyên có hình cụ Giáp vào cu có phải xúc phạm không? Nó là xúc phạm nếu chúng ta coi thường cái cu. Còn cái cu mà được thờ như tục thờ sinh thực khí thì thiêng chết đi được. Cái cu đại diện cho Thượng Đế đấy ạ! Và đối tượng mà Dan troll là anh Tây mượn mấy trò cổ vũ đám đông để bán khóa học chứ chả xúc phạm gì đến cá nhân hay dân tộc nào cả. Mặc dù vậy, Dan vẫn xin lỗi gia đình cụ Giáp (chẳng biết có đến tận nhà xin lỗi) hay không, nhưng mà chắc vẫn ấm ức nên vẫn phàn nàn về đám người “chủ nghĩa dân tộc cực đoan”. Cái này thì cần gì phải Dan, nhiều trí thức, nhiều bạn bè và bản thân tôi cũng phàn nàn suốt, troll suốt. Càng phàn nàn, càng troll thì đám đông càng cực đoan. Trách là trách bạn Dan này không chịu tìm hiểu về chính trị và văn hóa bản địa. Ngày xưa mấy ông Tây sang đây truyền đạo, nghiên cứu miệt mài văn hóa dân tộc Việt, thế mà vẫn còn bị bắn giết tơi bời, đâu có dễ.

Thứ hai, thế nào là “tinh thần dân tộc”, thế nào là “yêu nước”? Từ “dân tộc” ra có thể hiểu là “chủng loài dân”, ở đây không biết người ta muốn nhắc đến chủng loài nào? Khái niệm “người Việt” đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi. Ở mảnh đất này, các tộc người di cư rồi hòa huyết, có tộc còn giữ thiết lập cũ của tộc có tộc thì hoàn toàn vong thân chẳng nhớ gì. Thường mấy bạn “vong thân” này lại hay bám víu vào “tinh thần dân tộc” và hay hô hào “tinh thần dân tộc”, thế mới kỳ! Tình trạng này không chỉ diễn ra ở Việt Nam mà ngay cả ở Trung Quốc cũng thế, các bạn đừng nghĩ rằng tất cả Trung Quốc đều là người Hán và đừng nghĩ rằng người Hán tức là người Hán. Còn về “yêu nước” thì càng lố bịch. Hóa ra chỉ cần đi cổ vũ bóng đá, chửi Tây, làm anh hùng bàn phím ca ngợi các danh nhân Việt Nam thì gọi là yêu nước. Tạo ra sản phẩm tốt, miệt mài lao động các kiểu để tạo ra giá trị tốt mà không biết cổ vũ bóng đá, không biết bảo vệ anh hùng dân tộc, không biết chửi thằng Tây nào nó troll người Việt, thì hẳn là không yêu nước.

Sau tất cả, Dan là người chịu thiệt, vì thiếu hiểu biết, nên sẽ bị mất việc, bị kì thị, cái được duy nhất là bài học ở các nước bị tâm lý thuộc địa. Những người muốn học tiếng Anh nghiêm túc cũng bị thiệt, vì mất đi một người hướng dẫn thông minh, thân thiện, có kiến thức tốt. Tôi và con gái tôi coi như mất một kênh Youtube giải trí có ích. Việt Nam cũng thiệt vì hóa ra chả khá lên được tí nào, vẫn dân tộc cực đoan, vẫn đám đông manh động, vẫn thiếu vị tha, và nếu vụ này bung bét trên báo chí nước ngoài thì chắc cũng chẳng tốt đẹp gì cho nhà cụ Giáp hay cho nền kinh tế đang định hướng du lịch của nước ta. Sau vụ này, chỉ đám trung tâm tiếng Anh kém cỏi là có lợi vì đã hất cẳng được một ông Tây suốt ngày soi mói, phê phán. À, còn cả đám đông yêu nước cực đoan nữa, nhân vụ này chắc bệnh dịch còn lan rộng. Cứ thế, chả mấy chốc lại quay lại cái thời đấu tố tưởng như đã xa. Thời Internet, tưởng rằng học được thêm kiến thức là sẽ hết cái bệnh dịch này, nhưng mà xem chừng sẽ còn lan xa nữa. Thôi, chúc Việt Nam may mắn, cứ vui niềm vui bóng bánh đi, bóng bánh xong rồi sẽ tỉnh mộng đối mặt với mớ bòng bong do sự kém cỏi, bất tài và tham lam cố hữu tạo ra.

Hà Thủy Nguyên

TẾT THÌ LÀM GÌ?

blogpost thumb

Gần đến Tết rồi, người ta vẫn bàn cãi nhau về chuyện giữ Tết hay không giữ Tết. Bên thì cho rằng gần “gìn giữ bản sắc dân tộc” nên phải giữ, bên thì cho rằng Việt Nam cần “phát triển” nên tốt nhất là “gộp chung Tết tây Tết ta”. Cãi qua cãi lại, mất đi cái vui ngày Tết. Không có gì tốn năng lượng bằng tranh luận, mấy năm làm “keyboard warrior” đã dạy cho mình điều ấy.

Mình không hiểu nghĩa lắm cái thứ các bạn “tân tiến” gọi là Tết Tây. Ở Tây, người ta nghỉ Tết từ Giáng Sinh cho đến hết mồng 1. Nghi lễ cũng đủ trò lắm, tốn kém phải biết! Có phải quan niệm Tết Tây của các bạn chỉ là nghỉ mỗi một ngày 1/1? Mà phải có tuyết thì mới ra không khí Tết Tây. Số lượng ngày nghỉ cũng có thể coi là ngang ngửa Tết Ta nhỉ! Tết Ta thì cũng thường nghỉ từ 29 âm đến mồng 5 Tết, nghỉ nhiều hơn Tết Tây ở phương Tây một chút. Có mấy bạn nhà văn đọc được vài ba xu chữ cũng lớn tiếng hô hào vì tương lai của đất nước nên dẹp bỏ Tết Ta. Nhảm shit! Họ chả hiểu gì về ngày lễ Tết cũng như chả hiểu gì về phát triển.

Để một đất nước phát triển thì chính phủ phải chăm lo cho dân chúng, người dân cư xử có văn hóa, nhân tài được đối đãi xứng đáng, quân đội phải bảo vệ vững chắc cho bờ cõi… chứ liên quan quái gì đến Tết Tây hay Tết Ta. Phương Tây phát triển không phải vì họ làm cật lực không nghỉ ngơi, mà họ dùng não nhiều hơn chân tay, họ biết cải tiến công nghệ, học hỏi kiến thức để làm sao cho tốn ít sức người nhất mà đạt hiệu quả công việc cao. Còn nước ta kém phát triển vì có đám tự xưng là trí thức nhưng sách không đọc, chỉ biết hóng hớt chém gió, ăn tiền của nước ngoài để dèm pha dư luận; và những đám quan chức chỉ muốn vinh thân phì da bòn rút của dân càng nhiều càng tốt. Các cụ xưa nói, “biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”, nhưng báo chí giờ đây đã trở thành diễn đàn cho những kẻ dốt nát được phép đăng đàn thuyết pháp định hướng dư luận. Những vụ như thế nào sao Ban tuyên giáo không ý kiến gì? Muốn đất nước phát triển, mình mong sao bọn dốt nát ấy câm bớt mồm lại.

Tết Nguyên Đán sắp đến rồi, có hoa đào nở – thứ mà Tết Tây chả có! Khí trời mưa lất phất bay cũng là thứ phương Tây không thể có được. Ngày Tết, xin thưa, vốn dĩ là đánh dấu bước chuyển của Thời gian. Giáng Sinh ở phương Tây vốn là ngày Đông Chí, cũng là ngày sao Bắc Đẩu sang rõ nhất trên bầu trời. Việc này có ý nghĩa với dân du mục hay dân hàng hải, vốn lấy sao Bắc Đẩu để định hướng. Còn ở nước ta, vốn là mảnh đất nông nghiệp định cư, ngày lễ Tết đánh dấu ngày đầu của mùa xuân bằng hoa đào nở. Mà mùa xuân cũng là lúc cây cỏ đâm chồi nảy lộc, vươn mình sinh trưởng. Đó là lý do ngày Tết, dân ta cúng bánh chưng và bánh dầy. Xin nói thêm, hình ảnh bánh chưng bánh dầy vốn không phải biểu tượng là trời tròn đất vuông đâu, mà bánh chưng vốn dĩ có hình dài như bánh tét của miền Nam, tượng trưng cho cái Linga, còn bánh dầy tròn là cái yoni. Linga và Yoni kết hợp thành một cặp biểu tượng sinh thực khí, tượng trưng cho nghi lễ nông nghiệp. (Nhà nào giờ chỉ cúng bánh chưng mà không cúng bánh dày thì coi chừng FA nha! Đừng đổ tại trời!)

Quay lại chuyện Tết Tây – Tết Ta. Các bạn cuồng Tây, sung bái Tây, thôi thì cuồng Nhật, sung bái Nhật, thì cứ nhận luôn đi. Đừng viện cớ phát triển. Hoặc đơn giản, đời sống tinh thần của các bạn này quá nhạt nhẽo, thấy bông hoa đẹp không có rung cảm, không có người nào đủ thân để vui vầy, không cảm nhận được sự chuyển mình của thời gian. Loại vỗ ngực tự xưng là nhà văn, nhà báo, trí thức… như thế thật đáng xấu hổ, chẳng qua chỉ là lũ điếm chữ mà thôi.

Cuối năm có mấy lời cay nghiệt xả nốt, lấy chỗ sạch sẽ cho đầu óc những ngày Tết trong sạch. Tết năm nào cũng vậy, mình đi ngắm cảnh khắp Hà Nội rồi về viết lách cái gì đó. Năm nay sẽ vui hơn, các bạn Book Hunter quyết định sẽ làm việc xuyên Tết. Mọi người đừng ngạc nhiên gì, làm việc để lấy cớ gặp nhau là chính thôi! Với cả, cuộc đời bọn mình hôm nào chẳng là Tết!

Bài đăng trên Facebook ngày 13/1/2017

Hà Thủy Nguyên

Sự mông muội vĩ đại

blogpost thumb

Qúa nhiều những lời khuyên bảo tôi nên tìm về với tôn giáo để tìm sự bình yên. Nực cười! Thực ra chưa bao giờ tôi thèm muốn sự bình yên. Cái tôi đói khát là sự điên rồ lớn lao mà chẳng bao giờ có được. Mọi thứ cứ nhàn nhạt trôi qua. Những thứ mọi người coi là đau khổ, trong đầu tôi chỉ hiện lên cách đưa tình huống ấy vào tiểu thuyết thế nào. Những thứ mọi người hưng phấn, tôi chỉ thấy “cũng tạm được”. Tôi khát khao một cái gì đó mang tính sử thi… nhưng làm gì có giữa thế giới bị xé vụn này…

Có lẽ tôi quá hẹp hòi, tôi không thể chịu nổi những kẻ sùng tín tôn giáo.Sự ngu xuẩn của sùng tín nằm ở chỗ họ cần ai đó để cứu giúp chính mình, cần một điều gì bên ngoài để cứu giúp chính mình. Tôi không phủ nhận điều thiêng liêng, nhưng tôn giáo là sự suy thoái của điều thiêng liêng. Chỉ khi con người mất đi khả năng nhận biết điều thiêng liêng của tồn tại, họ tìm về đủ các thể loại tôn giáo để lấy lại cảm giác rằng mình còn có thể kết nối, mình còn vĩ đại, mình còn hơn cái lũ người mông muội không biết trích lấy vài ba câu kinh câu chú làm thứ đầu môi chót lưỡi. Ừ thì cũng đúng, dù sao đi nữa cũng hơn đám người duy vật tưởng rằng có thể đem Chúa, đem Phật lên bàn mổ và phẫu thuật.

Tôn giáo có thể thu hút đám đông không phải vì nó thiêng liêng, mà vì đám đông cần sự thiêng liêng, và tôn giáo mang cho họ sự thiêng liêng giả tạo. Đừng nhầm lẫn với việc tôi phủ nhận những người thiêng liêng như Đức Phật, Đức Jesus, thánh Ala hay bất cứ bậc nào đã nhập làm một với toàn thể. Họ chưa bao giờ là người thành lập tôn giáo, chỉ đám đệ tử còn đang mông muội của họ lập đên các tôn giáo và đưa cả thế giới này vào một sự mông muội vĩ đại. Họ ra tay cứu giúp nhân loại, cảm thương với người nghèo, rao giảng lời hay ý đẹp… tất cả chỉ để xóa đi cái mặc cảm họ là những kẻ mông muội. Việc của họ là tu chứ không phải là chối bỏ chính mình.

Cuối thiên niên kỷ trước, chúng ta đối mặt với một cuộc chiến: Cuộc chiến của các tôn giáo và những con người đi tìm điều thiêng liêng đích thực, cuộc chiến của đám đông sùng tín và những con người đích thực là con người. Có thể là cuộc chiến bạo lực hoặc không, đám đông sùng tín có thể thắng, nhưng cho dù có vĩ đại thì họ vẫn là những kẻ mông muội.

Hà Thủy Nguyên

(7/7/2014)

Ngạc nhiên với "Điệu nhạc trần gian"

blogpost thumb

Khi nhà sách Đông Đô đưa bản thảo Điệu nhạc trần gian (*) nhờ đọc, tôi đã ngạc nhiên. Đó là câu chuyện tưởng tượng pha trộn huyền thoại, dã sử và hình như cả… chưởng nữa! Đến khi gặp tác giả tôi càng ngạc nhiên. Nguyễn Thị Phương Thảo (bút danh Hà Thủy Nguyên) khi viết những dòng đầu tiên cho tác phẩm đầu tay này chỉ mới 14 tuổi.

Điệu nhạc trần gian là tiểu thuyết viết theo lối chương hồi một cách phóng túng. Cuốn tiểu thuyết cuốn hút người đọc theo những bước chân phiêu lãng, những cuộc tình đắm say của những chàng trai, cô gái từ trên trời xuống làm việc thiện, việc nghĩa; chấp nhận những thử thách đến từ cái ác, cái xấu.

Tìm hiểu thêm về Tiểu thuyết “Điệu nhạc trần gian”: https://hathuynguyen.com/tieu-thuyet-dieu-nhac-tran-gian/ 

Tôi không nghĩ là Thảo không bị ảnh hưởng của những gì em đọc. Nhưng tôi muốn chia sẻ cùng các bạn cảm giác ngạc nhiên khi đọc tiểu thuyết này. Bố cục, lớp lang liền mạch, nhân vật rõ ràng, tả người có dáng, tả cảnh có hình, tả tình có điệu. Cô nữ sinh Hà Nội gốc Nghệ An (học Trường phổ thông cơ sở Marie – Curie, rồi trung học Hồ Xuân Hương) khiến người đọc phải tự hỏi: từ đâu ở độ tuổi của mình em đã thâu nạp được nhiều kiến thức văn chương cổ và biết vận dụng chúng linh hoạt đến vậy? Và trên hết là một óc tưởng tượng kỳ thú.

Vậy tác giả muốn gửi đến mọi người điều gì? Đó là tình yêu. Gia tộc yêu long bị các loài thần long trong đại dương xua đuổi nên căm thù muôn loài trong trời đất. Nhưng tám nàng công chúa tuyệt đẹp của gia tộc yêu long lại đem lòng yêu tám chàng trai tuấn tú trên dương thế. Và tám đứa con ra đời từ cuộc tình này phải trải qua một kiếp khác để được trở lại là mình. Trên hành trình ấy, tình yêu và lòng nhân hậu đã giúp họ chống chọi và chiến thắng bao hiểm nguy, thù địch.

Hiểu như vậy người đọc sẽ đỡ băn khoăn rằng vì sao một học sinh nhỏ tuổi lại viết truyện ma quái, mà không viết những chuyện thực quanh mình. TrongĐiệu nhạc trần gian có một phần tác giả lồng câu chuyện nước Đại Việt xưa, bên cạnh nước Đại Hoàng hư cấu. Nhưng không chỉ có thế. Xin lưu ý hoàn cảnh thôi thúc Thảo cầm bút. Em ham viết, nhưng em còn muốn viết cho bạn bè của mình, và em đã chọn cách viết mình thích mà các bạn cũng thích.

Chuyện là chuyện tiên, ma nhưng đời là đời thực, tình là tình thực. Có thể liên hệ trường hợp Harry Potter. Theo tôi, cái hấp dẫn của Harry Potter là ở chỗ vào thời đại tin học nhưng tác giả đã đưa con người trở lại thế giới phù thủy. Con người càng phát triển về trí tuệ thì càng lo âu về lẽ huyền bí trong sự sinh tồn. Đồng thời cuộc sống nếu mất hết mọi bí ẩn thiêng liêng thì rất đáng chán! Văn học phải chở che con người trong nỗi bí ẩn đó.

Không thể chắc Nguyễn Thị Phương Thảo sẽ trở thành nhà văn Hà Thủy Nguyên sau cuốn tiểu thuyết đầu tay này (Thảo đang viết một cuốn mới, vẫn là khai thác xứ Đại Hoàng) nhưng tôi tin em đủ “lực” để đi tiếp hướng đi của mình. Tác giả Điệu nhạc trần gian có một vốn từ tiếng Việt khá dồi dào mà ở lứa tuổi em (và có khi nhiều người lớn) lại thiếu hụt.

Phạm Xuân Nguyên (2004)

Bài viết là Lời giới thiệu của Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên dành cho tiểu thuyết đầu tiên của Hà Thủy Nguyên có tên “Điệu nhạc trần gian”. Bài viết mang tính “tiên tri” cho con đường viết của Hà Thủy nguyên. Bài viết này được đăng lại trên báo Tuổi Trẻ Online.

Link báo: https://tuoitre.vn/ngac-nhien-voi-dieu-nhac-tran-gian-62149.htm 

"Chúng ta quá lý trí để quên đi những điều kỳ diệu"

blogpost thumb

Đây là bài phỏng vấn của tác giả Dương Tử Thành cho tạp chí Evan (tạp chí văn nghệ của VnExpress, hiện đã đóng cửa) khi Nhà văn Hà Thủy Nguyên mới xuất bản tác phẩm “Thiên Mã” vào năm 2010.


Đi tìm tự do tuyệt đối

Trước đây bạn đọc từng ngạc nhiên với tiểu thuyết “Điệu nhạc trần gian” của một tác giả còn rất trẻ, từ đó đến nay chị đã bước tiếp con đường văn chương mà mình “trót” đặt chân lên thế nào?

– Ngay từ khi bắt đầu viết văn, tôi đã biết rằng mình không thể bước đi trên bất kỳ con đường nào khác. Những con chữ có một sức mạnh vô cùng lớn lao nhưng lại vô hình mà tôi tin rằng tôi bị ràng buộc vào đó hơn bất cứ một mối quan hệ nào trên đời thực. Sau “Điệu nhạc trần gian”, tôi còn viết “Cầm thư quán” – nhưng có lẽ cuốn sách đó ra đời không đúng thời điểm nên nó gặp phải vô vàn khó khăn ngay từ lúc dự định phát hành, để rồi kết quả là nó bị thu hồi ngay sau khi ra mắt chưa đầy một tháng. Từ khi hoàn thành cuốn đầu tiên đến giờ đã là 10 năm, tôi đã thấy yên tâm hơn với con đường của mình.

Khi còn là trẻ con thì chị đã “dám” viết văn người lớn, nhưng khi đã thực sự thành người lớn rồi thì chị lại… viết cho trẻ con, vậy đâu mới là hướng đi chủ đạo trong văn chương của Hà Thủy Nguyên?

– Tôi cho rằng không nên phân biệt người lớn và trẻ nhỏ. Bạn có thể chắc rằng một người già sẽ luôn luôn thông suốt các vấn đề của cuộc đời hay một đứa trẻ bằng sự trong sáng lại giải quyết các khó khăn, tháo gỡ phức tạp một cách ổn thỏa và hợp lý? Sẽ rất khó đoán biết được ai sáng suốt hơn. Còn về bản thân tôi, tôi luôn là một đứa trẻ tò mò muốn khám phá thế giới. Khi còn ít tuổi, tôi luôn muốn được phiêu lưu nên tôi đã vẽ ra một thế giới phiêu lưu trong “Điệu nhạc trần gian”. Rồi theo thời gian, như bao nhiêu người khác, tôi bị cuốn vào cuộc sống lo toan hàng ngày với cơm áo gạo tiền tới mức mệt mỏi, bế tắc. Và tôi bắt đầu lại nhớ về những giấc mơ bay bổng thuở thiếu thời. Nhưng cho dù là lúc còn thơ ấu hay hiện tại đã trở thành một người mẹ, tôi vẫn là một Hà Thủy Nguyên, khát khao đi tìm tự do tuyệt đối.

Có ý kiến cho rằng viết cho trẻ con sẽ… dễ hơn viết cho người lớn, chị thấy thế nào?

– Viết cho trẻ con đúng là dễ viết hơn cho người lớn nếu chúng ta vẫn còn giữ một tâm hồn trong sáng như trẻ thơ. Trẻ con là những sinh linh hoàn hảo và vị tha nhất. Còn người lớn đầy định kiến, thù hằn nên họ rất khó tiếp nhận bất cứ điều gì khác biệt. Chuyện khó – dễ vô cùng tương đối. Một đứa trẻ có thể dễ dàng đọc một tác phẩm dành cho người lớn, nó có thể không thấy hấp dẫn nhưng tôi tin nó hiểu. Còn người lớn chúng ta thì sao? Không nhiều người có thể hiểu được cho đúng một câu chuyện thần tiên hay một cuộc phiêu lưu kỳ thú. Họ sẽ cho đó là ngớ ngẩn. Tôi biết, vì tôi cũng từng có thời như thế. Nhưng khi chán nản với cuộc sống đầy định kiến và quy tắc này, tôi mới phát hiện ra một điều: mình thật nhỏ bé trước những đứa trẻ.

Theo chị, khác biệt cơ bản giữa tác phẩm văn học cho thiếu nhi của Việt Nam với các tác phẩm văn học cho thiếu nhi của nước ngoài là gì?

– Đa phần tác phẩm văn học thiếu nhi Việt Nam đều hướng tới thế giới thực với các bài học quá khiên cưỡng. Chúng ta không cho phép trẻ em được lựa chọn giữa việc làm đúng và sai mà luôn cưỡng ép chúng phải thế này, phải thế kia. Hơn nữa, chúng ta đã quá lý trí để quên mất những điều kỳ diệu, những phép màu, những cuộc phiêu lưu… Lâu rồi tôi không thấy nó trong các tác phẩm văn học thiếu nhi.

Thiên Mã sẽ là… điểm nổ

Chị thấy người trẻ viết cho thiếu nhi sẽ có lợi thế gì so với các tác giả có thâm niên nhưng đồng thời cũng lớn tuổi?

– Tôi không cho rằng người trẻ viết cho thiếu nhi có lợi thế hơn những bậc tiền bối ở vấn đề tuổi tác. Các bạn có thể thấy khi “Hoàng tử bé”, “Biên niên sử Narnia”, “Harry Potter” ra đời thì Saint Exuperi, C.S.Lewis hay Rowling đều là những người đã trưởng thành thậm chí còn nhiều tuổi. Vậy vấn đề không phải là tuổi tác, vấn đề là ở tâm hồn.

Chị có thấy rằng luôn cần những thay đổi trong cách viết cho thiếu nhi bởi chúng ta luôn có những thế hệ bạn đọc “nhí” mới với những nhu cầu cảm thụ mới, nhưng nhìn chung những sáng tác dành cho thiếu nhi ở Việt Nam còn khá mô phạm và cũ kỹ?

– Tôi nghĩ ban đầu phải xóa bỏ những định kiến, rồi thì cách viết sẽ tự đến. Chúng ta trước hết phải tự hỏi rằng chúng ta có hiểu hết những sở thích, những phản ứng, những biểu hiện của lũ trẻ hay không? Trẻ con có cách tư duy khác chúng ta, chúng làm mọi việc đều có lý của chúng. Và cái lý mà chúng ta muốn áp đặt cho chúng sẽ gây ra hai hậu quả: hoặc là chúng sẽ phản đối mãnh liệt tới mức bất cần, hoặc là chúng sẽ ngoan ngoãn nghe lời và khoác trên mình thật nhiều lớp mặt nạ tới mức mất bản sắc. Hãy cho chúng quyền được lựa chọn và khéo léo giúp chúng tìm thấy điều tốt đẹp trong những điều tồi tệ nhất chứ không phải là sự ép buộc, áp đặt chúng làm những điều mà ta cho là tốt. Khi bạn không muốn con bạn chơi game, bạn mà nói game là xấu, chắc chẳng đứa trẻ nào tin đâu. Bạn tìm cách cấm chúng lại gần game sẽ càng thôi thúc sự thèm muốn và bướng bỉnh ở trẻ. Thực ra chơi game không xấu, chỉ con người chúng ta làm nó xấu thôi. Nếu chúng ta quan tâm và có hiểu biết về game để hướng dẫn con trẻ đến với những game hay và tốt thì những thứ game bạo lực tồi tệ sẽ không thể tiếp cận được. Còn khi chúng ta không quan tâm, con trẻ sẽ tiếp nhận bất cứ cái gì đến với chúng.

Như vậy, với việc nhận ra những thứ mà bạn đọc nhỏ tuổi đang cần, độc giả có thể đặt nhiều kỳ vọng vào “Thiên Mã”, cuốn truyện thiếu nhi mới xuất bản của Hà Thủy Nguyên?

– Tôi hy vọng như vậy. Có thể nó chưa xuất sắc, nhưng tôi tin nó sẽ là một điểm nổ đầu tiên. Đã đến lúc chúng ta phải vượt qua những đường biên, những ranh giới, những quy tắc cũ mòn để thả tâm hồn bay bổng tới bất cứ nơi đâu, làm bất cứ điều gì. Kinh Thánh có câu: “Hãy gõ cửa rồi cửa sẽ mở! Hãy tìm rồi sẽ thấy!” Chẳng ai ràng buộc, giam hãm chúng ta cả, chỉ có chúng ta tự giới hạn mình thôi.

Tìm điều mới mẻ trong thế giới cũ

Chị viết “Thiên Mã” trong tâm thế nào?

– Khi bắt đầu viết “Thiên Mã” tôi đang trong một tâm thế chán nản và thấy tiếc nhớ một điều gì đó khó hiểu. Có lẽ là “Nhớ rừng” vì tôi đã “Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt” quá lâu. “Thiên Mã” có thể coi là sự xổ lồng của tôi.

Với chất giả tưởng, kỳ ảo, “Thiên Mã” đã vẽ ra một thế giới mới mẻ. Khi đọc sách, trí tưởng tượng của bạn đọc sẽ được phát huy ở mức cao nhất, đó có phải là một dụng ý của chị trong quá trình viết?

– Thực ra tôi không vẽ ra một thế giới mới, tôi chỉ đi tìm những điều mới mẻ trong một thế giới mà ai cũng thấy rằng nó đã cũ thôi. Nói một cách khác, thế giới này không thực đến vậy, còn vô vàn điều huyền bí mà chúng ta không hiểu. Tại sao chúng ta không đi tìm phép lạ ở ngay thế giới này?

Khi viết “Thiên Mã”, điều chị quan tâm nhất là gì?

– Điều tôi quan tâm nhất khi viết “Thiên Mã” đó là tôi hy vọng sẽ đánh thức con thiên mã trong giấc mơ của mỗi người, dù người đó còn là đứa trẻ hay bạn đã bạc đầu. “Thiên Mã” chỉ là cuốn đầu trong cả series của tôi. Sẽ còn có những cuộc hành trình khác cho các nhân vật chính trong tương lai.

“Thiên Mã” được chị viết theo gợi ý “đặt hàng” của biên tập viên NXB Kim Đồng và nó đã được đánh giá cao, như vậy có thể hiểu, viết theo đơn hàng cũng có thể cho ra một sản phẩm văn chương chất lượng?

– Tôi cho rằng chuyện “đặt hàng” ấy có thể là một cái duyên để đưa tôi bay bổng và thoát khỏi đời sống thực. Tôi chẳng quan trọng chuyện “đặt hàng” hay không, tôi chỉ viết những điều hợp với tôi. Nếu sự “đặt hàng” đó không thích hợp, tôi sẽ không bao giờ dám nhận.

Theo chị, sáng tác theo đặt hàng có là một yếu tố phản ánh sự chuyên nghiệp của người viết?

– Tôi không cho là vậy! Sự chuyên nghiệp thể hiện ở tay nghề chứ không phải là có theo đặt hàng hay không. Đôi khi sự “đặt hàng” lại là một sự gợi ý, và chúng ta có quyền lựa chọn sự gợi ý đó hay không.

Nhiều người có nhận xét, với cách viết khá… Tây cùng với cách trình bày, minh họa bìa của “Thiên Mã” cũng khá… Tây khiến nhiều người liên tưởng đến những cuốn sách thiếu nhi của nước ngoài, chị vui hay buồn trước nhận xét này?

– Giữa một “thế giới phẳng”, tại sao lại còn có những ý niệm Đông – Tây. Tôi không lựa chọn cách viết cho mình, mà nó tự đến một cách tự nhiên. Khi viết cuốn sách nào đó, tôi sống hoàn toàn trong bầu không khí của cuốn sách ấy.

Ai cũng có sứ mệnh của riêng mình

Khi còn là trẻ con chị có mong ước nhiều điều “viển vông” không?

– Chắc hẳn rằng bạn đã nhận ra sự viển vông của tôi. Không phải chỉ lúc trẻ con tôi mới mơ mộng viển vông. Tới giờ, tôi vẫn vậy. Nhiều người cho rằng tôi dại dột, nhưng tôi lại thấy yên lòng với những sự dại dột đó.

Chị có nghĩ rằng sẽ xuất hiện một thế hệ nhà văn viết cho thiếu nhi cập nhật đời sống hiện đại tốt hơn, gần gũi với trẻ em Việt Nam hôm nay hơn khi những tác giả mới này vốn bước ra từ “thế hệ độc giả @”?

– Tôi tin vào điều ấy. Bất cứ người bình thường nào ta gặp hàng ngày sau này cũng có thể trở thành một nhà văn nổi tiếng, thậm chí là vĩ đại. Trước khi trở thành một tác giả, tôi cũng là một độc giả và đến giờ tôi vẫn là một độc giả.

Đã thử bút ở tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện dài, kịch bản phim, chị có ý định sẽ đầu tư chiều sâu vào một thể loại nhất định?

– Tiểu thuyết luôn là niềm đam mê của tôi. Truyện ngắn, thơ, hay tản văn chỉ là đôi phút xúc cảm tới mức không chịu được mà phải viết ra. Còn kịch bản phim là một phương tiện thuận lợi cho cuộc sống của tôi, thuận lợi hơn là nó dễ dàng đến với đông đảo khán giả để nói hộ tôi những điều mà tôi muốn nói. Hãy coi những thể loại khác như những người bạn, còn tiểu thuyết là người tình của tôi.

Đoạn kết của “Thiên Mã” có câu “Định mệnh đã gắn tôi với những điều kỳ diệu. Chắc chắn tôi được sinh ra để thực hiện một sứ mệnh nào đó”, ứng câu này vào tư cách của một người viết văn, chị có tin như thế?

– Tôi xin mượn hai câu thơ của Lý Bạch để nói về điều này: “Sinh ta trời có chỗ dùng/ Nghìn vàng tiêu hết lại trông thấy về”. Ai cũng có sứ mệnh riêng của mình, phải không nào!

Dương Tử Thành phỏng vấn

Nguồn: Evan

Chúng ta – Một thế hệ lạc lõng

blogpost thumb

Nếu tôi nói với các bạn rằng chúng ta – những thanh niên sinh ra vào cuối thế kỷ 20 và lớn lên vào đầu thế kỷ 21 – là một thế hệ lạc lõng, có thể các bạn cho rằng tôi đang nói điều tiêu cực. Khi tôi nói điều đó, tôi không có  ý muốn nói chúng ta là những kẻ lạc loài, và hi vọng rằng các bạn đừng nhìn nhận điều tôi nói ở khía cạnh xấu của ngôn từ. Ngôn từ thật sự rất dễ gây hiểu lầm. Từ “lạc lõng” ở đây mà tôi muốn nói đến là một cảm giác mà tôi tin rằng rất nhiều bạn trẻ ở thế hệ của chúng ta đều cảm thấy rõ rệt: một sự đơn độc, khó có thể kết nối với xung quanh, khó tìm kiếm sự đồng cảm từ những thế hệ trước. Và không biết các bạn có nhận ra không, chúng ta gần như tách biệt hoàn toàn với những người sinh ra đầu thập niên 80 đổ về trước. Và đã bao giờ bạn tự hỏi, điều gì gây ra biến động lớn đến vậy?

Những thế hệ đi trước hình dung như thế nào về chúng ta? Có phải chúng ta là những kẻ vô tâm và thờ ơ với xung quanh? Có phải chúng ta chỉ biết chìm đắm trong chủ nghĩa tiêu dùng? Có phải thế hệ chúng ta là một thế hệ suy đồi đạo đức? Khi báo chí truyền thông mổ xẻ thế hệ chúng ta ở những câu chuyện tiêu cực, họ đã vẽ nên một chân dung không đúng với sự thật. Miếng mồi của báo chí là những câu chuyện giật gân “cướp, giết, hiếp”, và rõ ràng họ sẽ chẳng thể kiếm đủ miếng cơm manh áo bằng những câu chuyện “người tốt việc tốt” thực sự. Để viết một câu chuyện “người tốt việc tốt” hấp dẫn, cần quá nhiều kiến thức và công sức khảo cứu, điều này đòi hỏi một tinh thần trách nhiệm cao trong lương tâm của một số hiếm hoi các nhà báo, không chỉ ở Việt Nam, mà cả trên thế giới. Và các bạn có biết ai là những nhà báo chê bai chúng ta không? Họ không ở trong thế hệ của chúng ta, họ không phải đối mặt với những gì chúng ta phải đối mặt, họ không tận hưởng những thú vui theo kiểu của chúng ta, họ không làm bạn với chúng ta. Và tôi nói không ngoa, chính họ góp phần làm bố mẹ chúng ta (vốn đã không hiểu về chúng ta) giờ đây lại càng thêm phần không hiểu.

Cảm giác lạc lõng đầu tiên mà chúng ta thấy rõ rệt là ngay trong gia đình của chúng ta. Dù gia đình bạn êm đềm, yên ấm hay đầy sóng gió, thì bạn cũng vẫn luôn thấy một sự khác biệt quá lớn giữa hai thế hệ. Và điều đó tạo ra xung đột giữa hai bên, hoặc có một cách để tránh xung đột là chúng ta không thể cho các bậc phụ huynh biết được những gì chúng ta thật sự muốn làm, những gì chúng ta cảm nhận, những gì chúng ta đang suy nghĩ trăn trở. Sự khép kín đã đẩy chúng ta vào một cảm giác đơn độc triền miên. Mọi sự chăm sóc, chiều chuộng không bao giờ là đủ một khi chúng ta cứ phải khép mình để giữ một trạng thái ổn định trong gia đình. Liệu các bậc phụ huynh có hiểu được biết bao vấn đề đằng sau khuôn mặt thờ ơ hay thái độ cắm mặt vào Iphone hoặc máy tính của con cái? Nói lên điều chúng ta suy nghĩ, dám làm những mong muốn ở sâu thẳm bên trong… chúng ta phải đối mặt với sự phản đối kịch liệt. Nhẹ nhàng hơn, chúng ta sẽ bị phủ nhận rằng những điều chúng ta dự định chỉ là ảo tưởng, là không thật, là vô nghĩa. Cái gì là thật đối với đa số các bậc phụ huynh: Học hành chăm chỉ, có bằng cấp, công ăn việc làm đầy đủ, lấy vợ, đẻ con và… chết. Họ đã quá quen với việc: “dùng tiền chúng ta không có, mua những thứ chúng ta không cần, để cố vừa lòng những người chúng ta không thích” (Trích phim “Fight Club”) Đó là cuộc sống bình thường theo quan điểm của thế hệ phụ huynh chúng ta.

Không thể trách họ, họ chỉ muốn điều họ cho là tốt nhất với con cái. Nhận thức và tư duy của đa số các bậc phụ huynh được xây dựng trong một nền tảng xã hội và giáo dục đề cao chủ nghĩa vật chất. Trong thời thanh niên, họ phải chật vật kiếm sống và khẳng định vị trí xã hội của mình. Điều này khiến cho họ tin rằng mọi giấc mơ thuở thiếu thời đều là viển vông. Họ sẽ thấy vô nghĩa khi con cái mình say mê đọc sách nghiên cứu về vũ trụ, hay bỗng một ngày con mình chuyển sang ăn chay và ngồi thiền, và cũng chẳng dễ dàng gì thấy con mình nhảy Hip hop ngoài đường… Đó là còn chưa kể đến những người cha, người mẹ có lối suy nghĩ đơn giản: chỉ cần cho nó ăn ngon mặc đẹp, vật chất đầy đủ là ổn thỏa. Nếu thế giới này chỉ được xây dựng bằng vàng bạc, tiền tài, hàng hóa… có lẽ tôi nghi ngờ sự lâu dài của nó. Liệu rằng cái gì còn lại sau một cơn hồng thủy? Sẽ là nhà lầu xe hơi ư? Không! Cái còn lại là những mảnh rơi rớt của trí tuệ con người, những giá trị sống đích thực như tình yêu thương, sức mạnh ý chí, và lòng khát khao cái đẹp.

Đọc đến đây chắc sẽ có nhiều người thuộc thế hệ đi trước cười ruồi và bảo: “Đúng là tuổi trẻ nông nổi! Tuổi trẻ thời nào mà chẳng nông nổi thế!”. Đây không phải vấn đề tuổi tác, mà là vấn đề về chuyển dịch nhận thức và tư duy. Trong suốt thế kỷ 19 – 20, gần như cả thế giới đều tin rằng: con người chúng ta là sự sắp xếp của các nguyên tử, chúng ta chỉ là một dạng vật chất và tinh thần cũng từ đó mà hình thành. Với niềm tin như vậy, con người chỉ quan tâm chăm lo cho cái ăn, cái ở. Khoa học Công nghệ được đẩy cao hơn giá trị tinh thần, chủ nghĩa hiện thực được ưu ái hơn những ước vọng cao đẹp, thái độ hoài nghi được thay thế cho tình yêu thương đại đồng. Và hãy nhìn xem hai thế kỷ vừa qua: Bạo loạn, bất công, môi trường bị hủy hoại, đại chiến thế giới, đại suy thoái kinh tế, con người tuyệt vọng chìm đắm trong sắc dục, ma túy, giết chóc. Ở trong một thời đại như vậy và cũng góp phần nhúng tay vào tình cảnh hỗn loạn ấy, các thế hệ đi trước của chúng ta trên thực tế không đủ tư cách để nói rằng thế hệ chúng ta là một thế hệ suy đồi về đạo đức. Họ đã quá quen với cách tư duy tuyến tính một chiều, chỉ nhìn nhận được một dòng chảy của vấn đề. Với họ, tốt là thuần túy tốt, xấu là thuần túy xấu. Trong khi ấy, sự việc và con người nào cũng có vô vàn góc độ đánh giá. Thế hệ của chúng ta thì ngược lại, bằng một bước chuyển vô hình nào đó (mà nhiều người gọi là bắt đầu của kỷ nguyên Bảo Bình), chúng ta đã bắt đầu nhìn sự vật, sự việc và con người như một tổng thể. Điều này khiến chúng ta không quá quan trọng chuyện tốt xấu theo các quy chuẩn xã hội, và đương nhiên các bậc phụ huynh nói riêng và thế hệ đi trước nói chung không tránh khỏi sự khó hiểu, thậm chí đến mức không bằng lòng. Chúng ta được sinh ra ở thời kỳ khá đầy đủ về vật chất, và đương nhiên chúng ta đột nhiên nhận ra rằng đó không phải tất cả những thứ chúng ta cần. Chúng ta cần các giá trị tinh thần như nghệ thuật, triết học, tâm linh, những công việc thiện nguyện, khả năng gắn kết giữa người với người…

Sự khác biệt ấy khiến cho chúng ta chơi vơi trôi nổi giữa một thời đại mà cái cũ đang dần dần đi vào ngày tàn trong khi cái mới chưa thành hình. Chúng ta lạc lõng vì chúng ta đang ở giai đoạn giao thời, một sự chuyển dịch lớn của lịch sử nhân loại và chưa ai dự đoán trước được nhân loại sẽ chuyển dịch theo hướng nào. Chúng ta lạc lõng vì chúng ta muốn vươn đến đỉnh cao của các giá trị tinh thần nhưng lại bị quá nhiều lực cản của thế giới cũ. Và chúng ta đứng giữa hai con đường rõ rệt: hoặc mạnh dạn phiêu lưu theo nguồn cảm hứng mới mẻ bất chấp mọi hiểm nguy, hoặc chấp nhận vùi dập ước mơ của mình trong một thế giới an toàn nhưng cũ kỹ. Đứng giữa các lựa chọn khiến chúng ta cũng bị phân hóa, sự phân hóa này lại làm chúng ta ngày một hoang mang. Người mạnh dạn đi theo giấc mơ thì đôi khi cảm thấy mơ hồ và đơn độc, người chấp nhận đời sống xã hội an toàn thì luôn luôn ở trong tình trạng chán nản triền miên đến mức chỉ cảm giác mình như những cỗ máy biết tư duy đi lại dật dờ.

Tôi viết bài này không phải đêu kêu gọi các bạn đi theo cái mới. Tôi chỉ có hai mong muốn: Một là chia sẻ với các bạn sự đồng cảm về cảm giác lạc lõng giữa một thế giới 7 tỉ người mà chẳng có sự kết nối nào với nhau. Hai là muốn nói với những thế hệ những người đi trước rằng họ không nên mất thời gian vào việc chê bai thế hệ của chúng ta. Thật đáng tiếc vì họ không nhìn thấy  những người bạn của tôi: những người sẵn sàng xuống đường tìm kiếm những em bé lang thang và dạy cho chúng học đọc, học viết; những người bỏ hết công sức và tiền bạc để thu gom kiến thức nhân loại và tìm mọi cách để chia sẻ với mọi người; những người dám xông xáo tìm kiếm một cách tân nghệ thuật có giá trị mang tầm thời đại; những người lao đầu vào các dự án bảo vệ môi trường và cộng đồng người; những người đang cố giữ gìn nền tảng đạo đức tôn giáo bất kể sự xuống cấp của niềm tin; những người sẵn sàng rũ bỏ đời sống vật chất giả dối để lên đường đi phiêu lưu khắp thế giới cố gắng tìm kiếm một sự kết nối với chính bản thân mình và kết nối với vũ trụ… Còn rất nhiều, rất nhiều những người như thế có thể rằng tôi cũng chưa được biết tới. Và nếu ai đó nói rằng những người tôi biết chỉ là thiểu số, vậy thì có lẽ tôi đã quá may mắn được kết bạn với họ, được cùng họ chia sẻ ý tưởng về thời đại mới và ở bên họ, tôi biết rằng mình chẳng bao giờ đơn độc nữa!

Hà Thủy Nguyên