Home Dịch thuật Dịch thơ Lý Bằng không hầu dẫn – Lý Hạ

Lý Bằng không hầu dẫn – Lý Hạ

Bản dịch của Hà Thủy Nguyên

Phím Ngô đàn Thục dựng giữa thu
Núi vắng mây đọng chẳng ngao du
Tố Nữ rầu Giang Nga khóc trúc
Lý Bằng nơi đây gẩy không hầu
Phượng hoàng ca Côn Sơn vỡ ngọc
Lan thơm cười phù dung sương rụng
Tan tác trước sân ánh xa xăm
Hai mươi ba dây động Tử Hoàng
Nữ Oa luyện đá lấp muôn nơi
Đá vỡ trời rung mưa thu lặng
Mộng tới núi thần gặp Thần Ẩu
Cá quẫy sóng mòn điệu giao long
Ngô Chất tựa gốc quế chẳng ngủ
Gót ướt sương khuya lạnh lẽo trăng.

Bản phiên âm Hán Việt

Ngô ty Thục đồng trương cao thu,
Không sơn ngưng vân đồi bất lưu.
Giang Nga đề trúc, Tố Nữ sầu,
Lý Bằng trung quốc đàn không hầu.
Côn Sơn ngọc toái, phụng hoàng khiếu,
Phù dung khấp lộ, hương lan tiếu.
Thập nhị môn tiền dung lãnh quang,
Nhị thập tam ty động Tử Hoàng.
Nữ Oa luyện thạch bổ thiên xứ,
Thạch phá thiên kinh đậu thu vũ.
Mộng nhập thần sơn giáo Thần Ẩu,
Lão ngư khiêu ba sấu giao vũ.
Ngô Chất bất miên ỷ quế thụ,
Lộ cước tà phi thấp hàn thố.

*Ảnh minh họa mượn từ phim “Dương Qúy Phi”

Thần huyền khúc – Lý Hạ

Chiều xuống non tây, thẫm non đông Gió thốc ngựa phi vó mây tung Đàn thanh sáo trắng âm huyên náo Quần hoa sột soạt lớp phong trần Lao xao rừng quế hoa rơi rụng Lệ huyết linh miêu lạnh xác hồ Cù long uốn đuôi tường vách cũ Thần mưa nhẹ cưỡi lội đầm thu Cú già trăm tuổi thành tinh mộc Lửa xanh lét ổ vẳng cười vang.   Bản Hán Việt: Tây sơn nhật mộ đông sơn hôn Đoàn phong xuy mã,

Lạc hoa – Lý Thương Ẩn

Lầu cao khách xa rồi Góc vườn hoa tả tơi Lưa thưa đường uốn khúc Tiễn bóng chiều xa xôi Thương tâm nào nỡ quét Trông cảnh lại ngóng người Nỗi lòng ngày xuân cạn Đẫm lệ áo này thôi Hà Thủy Nguyên dịch Bản Hán Việt: Cao các khách cánh khứ, Tiểu viên hoa loạn phi. Sâm si liên khúc mạch, Điều đệ tống tà huy. Trường đoạn vị nhẫn tảo, Nhãn xuyên nhưng dục quy. Phương tâm hướng xuân tận, Sở đắc thị

Lậu thất minh – Lưu Vũ Tích

Núi nào bởi cao, tiên ở thành danh Nước nào tại sâu, rồng ngụ mà linh Gian nhà quê mùa, đức vang tiếng lành Biếc thềm vệt rêu phủ, rèm thưa cỏ chìm xanh Bậc túc nho cười nói, phường tục tử bặt thanh Khẽ gảy cây đàn mộc, tụng Kim cang Chẳng đàn sáo để bận tai, không án thư mà nhọc mình Nam Dương có lều cỏ, Tây Thục có nguyên đình (*) Khổng Tử hỏi: “Có chi mà quê mùa?” Hà Thủy

Khúc Giang – Đỗ Phủ

Kỳ 1 Một mảnh hoa bay xuân đã phai Gió bay vạn nẻo khách sầu ai Tàn hoa cứ ngắm cho lòng thỏa Say rượu chớ từ kẻo đau hoài Trên sông nhà nhỏ chim làm tổ Bên vườn mả cũ ngựa nằm dài Ngẫm đời phải lẽ nên hành lạc Cớ gì danh lợi vướng thân đây.   Kỳ 2 Mang áo xong chầu vội về ngay Đầu sông ngày ngày thỏa trân say Tiền rượu nợ nần ai mà chẳng Cõi đời thất

Cảm phúng kỳ 3 – Lý Hạ

Bản dịch của Hà Thủy Nguyên Núi Nam đìu hiu thế Mưa quỷ tưới cỏ suông Thu kinh kỳ khuya khoắt Gió qua bao kẻ già. Con đường chiều chạng vạng Cây sồi gió xoay xoay Trăng ngụ cây đứng bóng Ánh bạc trùm cô sơn Đuốc đêm đón kẻ mới, Đóm lập lòe cõi ma. Bản Hán Việt Nam sơn hà kỳ bi, Quỷ vũ sái không thảo. Trường An dạ bán thu, Phong tiền kỷ nhân lão. Đê mê hoàng hôn kính, Niểu