Home Dịch thuật Dịch thơ Cổ du du hành – Lý Hạ

Cổ du du hành – Lý Hạ

Bản dịch của Hà Thủy Nguyên

Tà dương trắng núi Tây
Ánh biếc trải nơi nơi.
Cổ kim vô cùng tận
Ngàn năm theo gió trôi.
Bãi bờ đà hóa đá
Tăm cá động cầu Tần (*)
Thời gian như sóng vỗ
Đồng trụ cũng tiêu thôi.
(*) Cầu đá do Tần Thủy Hoàng xây ở núi Thanh Thành, dài 30 dặm.

Bản phiên âm Hán Việt

Bạch cảnh quy Tây sơn,
Bích hoa thượng thiều thiều.
Cổ kim hà xứ tận,
Thiên tuế tuỳ phong phiêu.
Hải sa biến thành thạch,
Ngư mạt hấp Tần kiều.
Không quang viễn lưu lãng,
Đồng trụ tòng niên tiêu.

*Bức ảnh Hoàng hôn trên sông Hoàng Hà của MelindaChan

Lý Bằng không hầu dẫn – Lý Hạ

Bản dịch của Hà Thủy Nguyên Phím Ngô đàn Thục dựng giữa thu Núi vắng mây đọng chẳng ngao du Tố Nữ rầu Giang Nga khóc trúc Lý Bằng nơi đây gẩy không hầu Phượng hoàng ca Côn Sơn vỡ ngọc Lan thơm cười phù dung sương rụng Tan tác trước sân ánh xa xăm Hai mươi ba dây động Tử Hoàng Nữ Oa luyện đá lấp muôn nơi Đá vỡ trời rung mưa thu lặng Mộng tới núi thần gặp Thần Ẩu Cá quẫy

Xuân nhật túy khởi ngôn chí – Lý Bạch

Xuân, người ta phải vui, vì mùa xuân kỳ thực rất buồn, bởi xuân là khoảng thời gian con người liên tục đối diện với hư vô và suy vong. Thu là đối diện với úa tàn, đông là sự đìu hinh cô quạnh, nhưng xuân là lúc những cái cũ đã thực sự kết thúc và cái mới đến trong một cảm thức mơ hồ về lụi tàn sắp sửa. Mở lại những trang thơ Lý Bạch mà tôi đã dịch cách đây mấy

Bồ tát man – Lý Bạch

Rừng xa tịch mịch lụa mây vờn Núi trơ một dải rợn thê lương Lầu cao bóng chiều buông Trên lầu người buồn thương Thềm ngọc hoài trông ngóng Về tổ chim chiều liệng Về nhà đường nơi đâu Đình lại quán nối nhau. Hà Thủy Nguyên dịch Bản Hán Việt: Bình lâm mạc mạc yên như chức, Hàn san nhất đới thương tâm bích. Minh sắc nhập cao lâu, Hữu nhân lâu thượng sầu. Ngọc giai không trữ lập, Túc điểu quy phi cấp.

Lậu thất minh – Lưu Vũ Tích

Núi nào bởi cao, tiên ở thành danh Nước nào tại sâu, rồng ngụ mà linh Gian nhà quê mùa, đức vang tiếng lành Biếc thềm vệt rêu phủ, rèm thưa cỏ chìm xanh Bậc túc nho cười nói, phường tục tử bặt thanh Khẽ gảy cây đàn mộc, tụng Kim cang Chẳng đàn sáo để bận tai, không án thư mà nhọc mình Nam Dương có lều cỏ, Tây Thục có nguyên đình (*) Khổng Tử hỏi: “Có chi mà quê mùa?” Hà Thủy

Hiệp khách hành – Lý Bạch

Khách Triệu dải mũ lay Gươm Ngô sương tuyết rọi (*) Bạch mã yên ánh bạc, Lấp loáng tựa sao bay. Mười bước thêm kẻ chết, Vạn dặm làm chi đây. (**) Việc xong bèn phất áo Ẩn kín thân danh này. Nhàn đến Tín Lăng chơi, Buông kiếm nhập cuộc say. Chu Hơi này chả nướng Hầu Doanh chén rượu đây. Ba chén cạn xá chi Ngũ Nhạc nhẹ như mây. Tai bập bùng hoa mắt, Ý khí sắc tỏa dày. Chùy vàng vung