"Giặc xấu" bắt đầu tàn phá Hội An?

blogpost thumb

Bài viết lên án dự án Công viên Ấn tượng và chương trình thực cảnh Ký ức Hội An

Những ngày tháng 4 vừa qua, dư luận báo chí xôn xao về sự tàn phá môi trường và cảnh quan của dự án Công viên Ấn tượng và chương trình thực cảnh Ký ức Hội An trong khu vực Phố Cổ Hội An.

Ở bài viết này tôi sẽ không đề cập đến vấn đề pháp lý hay những nguy hại về môi trường mà bàn đến vấn đề bấy lâu nay chúng ta dường như đã bỏ quên trong công cuộc xây dựng một nước Việt Nam văn minh và hiện đại: Đó là tính thẩm mỹ của cảnh quan đô thị. 

So với những vấn đề khác thì vấn đề tính thẩm mỹ không được coi trọng bởi vì ở một quốc gia mà người dân còn có trình độ dân trí thấp và coi trọng miếng ăn hơn giá trị tinh thần thì đòi hỏi về cái đẹp vẫn là quá xa xỉ.

Tuy nhiên, nếu chúng ta thay đổi cái nhìn về cái đẹp, mà cụ thể hơn là tính thẩm mỹ trong cảnh quan đô thị, thì chúng ta sẽ thấy rằng vai trò chính trị của cái đẹp cũng quan trọng không kém các quyền tự do.

Một quốc gia, một dân tộc, một cộng đồng người không thể tạo ra các tác phẩm hay sản phẩm có tính thẩm mỹ cao thì quốc gia ấy, dân tộc ấy, cộng đồng ấy cho thấy một sự suy thoái về tinh thần và sự kém cỏi về trí tuệ, nói một cách khác đó là dấu hiệu cho thấy sự man rợ và lạc hậu.

Xã hội loài người đã từng chứng kiến sự thăng trầm của những nền văn minh rực rỡ, từ Ai Cập cổ đại, Hi Lạp và La Mã cổ đại, Trung Quốc cổ và trung đại, Kỷ nguyên vàng Islam, Phục Hưng ở Châu Âu…

Những gì còn lưu lại đến nay đều là những tạo vật đẹp đẽ mà những người nghệ sĩ đã dành nhiều tâm huyết để chế tác.

Động lực thúc đẩy sự sáng tạo của nghệ sĩ chính là một xã hội biết thưởng thức cái đẹp và tôn trọng cái đẹp. Những nền văn minh này đã lụi tàn theo thời gian do quy luật thành bại của lịch sử nhưng những dấu vết để lại với tính thẩm mỹ cao đều cho chúng ta thấy khả năng tư duy hoàn hảo, tinh thần trách nhiệm, sự chuyên nghiệp trong tài năng cá nhân, sự khai phóng tinh thần trong sáng tạo và cả tư tưởng thời đại của các tiền nhân.

Chẳng ai nhớ đến các tác phẩm hay các sản phẩm xấu xí và tệ hại. Sự xấu xí chỉ tồn tại trong những cộng đồng người man dã khi khả năng tư duy còn hạn chế và kỹ thuật còn thô sơ. Đây là những đặc điểm về thẩm mỹ điển hình trong các xã hội man dã. Những đồ tạo tác của xã hội man dã không phải vô dụng, chúng có giá trị về mặt khảo cổ. Rất ít trong số chúng có độ tinh xảo nhất định thì mới có thể được đánh giá là đẹp, và cái đẹp ấy là đại diện cho sự tiến bộ.

Nhưng lịch sử có những trớ trêu khó cưỡng, đó là trong một số hoàn cảnh, người ta đứng về phía cái xấu thay vì chọn cái đẹp. Để chế tác hoặc sáng tạo một tác phẩm hay một sản phẩm xấu, người ta không cần sự kỳ công, không cần sự tính toán kỹ lưỡng, không cần sự hiểu biết, không cần đạo đức nghề nghiệp. Họ chỉ cần sự tằn tiện trong chi phí sao cho lợi nhuận tối đa.

Bởi thế, họ chọn cái xấu không phải vì họ không nhận thức được rằng nó xấu mà đơn giản rằng nó tiện lợi cho họ. Nhưng tiếc rằng, đúng như nhà văn Oscar Wilde, nhà văn duy mĩ hàng đầu của Anh quốc đã kết luận:

“Người ta thường nói như thể cái đẹp đối nghịch với cái hữu dụng. Nhưng chẳng có gì đối nghịch với cái đẹp ngoại trừ cái xấu: mọi thứ đều hoặc là đẹp hoặc là xấu, và cái có ích luôn ở về phía cái đẹp, bởi vì sự điểm trang đẹp đẽ luôn ở về phía cái đẹp, bởi vì sự điểm trang đẹp đẽ cho một vật luôn là biểu hiện của tính năng và giá trị của vật đó.

Không người thợ nào trang trí đẹp cho một sản phẩm tồi, và bạn cũng không thể có những người thợ hoặc nghệ nhân tốt mà lại không có những thiết kế đẹp. Bạn nên chắc chắn về điều đó.

Nếu bạn có những thiết kế nghèo nàn và vô giá trị, dù trong nghề thủ công nào, bạn cũng sẽ chỉ có được những người thợ nghèo nàn và vô giá trị, nhưng khi bạn có những thiết kế đẹp đẽ và tao nhã, bạn sẽ có những người với đủ sức mạnh và trí tuệ làm việc cho mình.

Có được một thiết kế tốt, bạn sẽ có những người thợ làm việc không chỉ bằng đôi tay, mà bằng cả trái tim và khối óc nữa, ngược lại, bạn sẽ chỉ có được những kẻ ngu xuẩn và lười nhác làm việc mà thôi.”

(Trích tiểu luận “Nghệ thuật và thợ thủ công”. Bản dịch của Minh Hùng, đăng trên Book Hunter)

Ở thời đại của Oscar Wilde, nước Anh phải trải qua một thời kỳ phát triển của tư bản hoang dã trong cơn hưng phấn của Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất.

Sự phát triển công nghiệp nặng, sự lên ngôi của thói thẩm mỹ trọc phú đều là những đối tượng Oscar Wilde lên án trong các tiểu luận và bài giảng về nghệ thuật của mình.

Ông đã dành toàn bộ tài năng của mình để tạo ra các áng văn chương tuyệt đẹp với tinh thần duy mỹ để chống lại sự tràn lan của cái xấu xí trong xã hội Anh thế kỷ 19.

Trước Oscar Wilde, rất nhiều nhà thơ lãng mạn của Anh dưới thời Victorian như Lord Alfred Tennyson, William Wordsworth… cũng chọn tinh thần duy mỹ và sự ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên như một sứ mệnh chính trị của mình.

Họ từ chối các đặc quyền chính trị khi trở thành nhà thơ hoàng gia ca ngợi công cuộc đổi mới để quay về với sự cô độc cá nhân trong sự đắm chìm vào thế giới đẹp đẽ của ngôn từ. Đó là thái độ bất tuân dân sự của người duy mĩ.

Những nhà làm chính trị thực tiễn thường cho rằng các nhà thơ, nhà văn duy mỹ là những kẻ thoát ly thực tại nhưng trên thực tế, họ đang tiếp tục thông qua sáng tác cá nhân để nâng cao thị hiếu người dân. Bởi vì, chừng nào họ còn sáng tác những áng văn chương tuyệt mỹ thì chừng đó cái đẹp còn tồn tại.

Ở Việt Nam, đã từng có thời tính duy mĩ được coi trọng, tuy nhiên do yếu tố man dã vẫn còn phổ biến nên những thời đại rực này đã sớm lụi tàn ngay khi bắt đầu.

Lần gần nhất được ghi dấu trong giai đoạn đầu thế kỷ 20 ở các đô thị lớn. Xu hướng này chấm dứt khi phe Nghệ thuật vị nhân sinh chiếm ưu thế trong cuộc tranh luận những năm 1940s. Các cây bút của phong trào Nghệ thuật vị nhân sinh mà dẫn đầu là Hải Triều đã có một cuộc tổng tấn công vào các nhà văn, nhà thơ lãng mạn có xu hướng duy mĩ ở Việt Nam và đả kích họ là không thực tế và thoát li hiện thực.

Quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh này đã biến tướng thành một sự cổ vũ lối thẩm mỹ đại chúng xa rời cái đẹp còn kéo dài đến tận bây giờ. Và hậu quả là tính thẩm mỹ bị lơ là trong quy hoạch đô thị nói riêng và chiến lược phát triển văn hóa – giáo dục nói chung.

Đặc biệt, từ sau khi mở cửa kinh tế và cho phép các tập đoàn tư nhân được đầu tư kinh doanh bất động sản thì sự tàn phá thẩm mỹ xã hội lại còn nhanh chóng hơn và tệ hại hơn trước đó. Xu hướng tăng trưởng kinh tế để giúp đất nước phát triển đã tạo ra một xã hội tư bản hoang dã dựa trên một nền tảng tri thức thấp kém do chính sách phát triển văn hóa sai lầm.

Trường hợp Công viên Ấn tượng Hội An của tập đoàn Gami chỉ là một trong số những ví dụ của chuỗi tàn phá không biết bao giờ kết thúc mà công cuộc xây dựng kinh tế sau Đổi Mới đã gây ra.

Quá trình đô thị hoá bừa bãi, không, chính xác phải gọi là bê tông hoá đã tàn phá những cánh đồng quê êm ả, những vùng núi hùng vĩ, những con sông xanh mát, những bờ biển cát trắng, những cánh rừng huyền bí và cả những đô thị cổ còn lưu lại dấu vết của một thời văn minh đã xa…

Cái đẹp đã mất ở Hà Nội, Sài Gòn, Huế, Sapa … và bây giờ liệu có mất thêm Hội An? Một công trình của Gami chỉ có thể tàn phá một góc Hội An nhưng nó sẽ là bắt đầu cho chuỗi tàn phá của các tập đoàn khi ai cũng có thể xây dựng vô tội vạ với sự lơ là của các cơ quan ban ngành quản lý.

Thế đấy, cùng với “giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm” thì người dân Việt Nam còn phải đương đầu với “giặc xấu”, thứ giặc mà trước giờ ít người nhận ra dù sự phát triển của loại giặc này đã và đang ngày một phổ biến do sự xuống cấp của giáo dục và sự tàn phá văn hoá trong nhiều thập kỷ liên tiếp.

Nâng cao thị hiếu thẩm mỹ của bản thân cũng như của xã hội là trách nhiệm vô cùng quan trọng của văn nghệ sĩ và trí thức để đưa xã hội Việt Nam hướng tới sự văn minh đồng thời gột rửa dần các tố chất man dã.

Bởi vì chỉ có văn nghệ sĩ và trí thức mới có cơ hội cũng như khả năng để tiếp cận tri thức và trang bị cho mình các nền tảng mỹ học đủ để thẩm định và sáng tạo cái đẹp.

Văn học nghệ thuật không đơn thuần chỉ là sự phát biểu cái tôi cá nhân của văn nghệ sĩ mà đó còn là một sự tạo dựng nền tảng thẩm mỹ cho xã hội mà trong đó văn nghệ sĩ trí thức được khám phá và hoàn thiện chính mình.

Mưa máu

blogpost thumb

Thiên hà đỏ thẫm nghiêng tràn rượu
Cành cây khô dựng đứng sừng hươu
Vạch lên trăng vài đường máu
Có những tối cô độc với hoa hồng
Tôi viễn cảnh mình giác ngộ nơi nỗi buồn thăm thẳm
Gác niềm vui lên gò đống trần ai

Tôi đã vắt kiệt tôi mỗi sớm mai
Trong khoảnh khắc tỉnh bừng con mắt
Rất nhiều phần trong tôi đã đổ tràn như rượu
Da thịt tôi cháy bùng dưới dương quang như tên ma cà rồng tìm cái chết
Rồi gom vụn bụi cuộn mình theo gió
Tôi hồi sinh trong màu thẫm đỏ
Hoa hồng chúm chím trên tay

Tôi tự chuốc say bằng nỗi buồn sâu thẳm
Chẳng rượu nào sánh được hơi men
Bằng cõi lòng tôi u uẩn đêm đêm
Trong cơn la đà
Tôi bước lên dây
Chặng đường đu đưa xa tít tắp
Không chếnh choáng thì tôi đà chết chắc
Dưới sợi dây ôi khoảng không hũ nút

Tôi nẩy mình lên cao bằng nỗi buồn chắp cánh
Trời đang xanh đó ư, màu xanh sầu u
Hoa đỏ rụng như mưa
Mưa máu rồi ư
Tôi, tên ma cà rồng ngửa mình chờ thiêu rụi
Mặt trời đi trốn tôi rồi
Chỉ còn thiên hà tràn máu lên tôi

Vệt sừng hươu nẩy lá hoa
Trăng vằn lên cánh hồng nhung sắc đỏ
Đỏ như nỗi đau nơi tôi
Đỏ như cơn say đời tôi
Đỏ kiệt mình hủy diệt
Mưa máu nay đã chớm màu hồng thuỷ.

Hà Thủy Nguyên

TỰ DO VÀ BÌNH ĐẲNG TRONG TIẾP CẬN TRI THỨC – VẤN ĐỀ CHỦ CHỐT ĐỂ CẢI THIỆN NỀN HỌC THUẬT

blogpost thumb

Tự do trí tuệ và Tự do học thuật là những yếu tố căn bản trong việc xây dựng một chiến lược nhân tài của quốc gia, nhưng nếu tri thức không được tiếp cận một cách tự do và bình đẳng thì những khái niệm vừa được nêu ra chỉ là những ngôn từ sáo rỗng. Trong cả tự do trí tuệ hay tự do học thuật đều bao hàm ba kiểu quyền lợi: quyền tiếp cận, quyền lựa chọn và quyền biểu đạt. Trong đó, quyền tiếp cận đóng vai trò nền tảng hơn để xây dựng một hệ thống tri thức và học thuật tự do. (Đọc thêm về Tự do học thuật và Tự do trí tuệ: https://bookhunterclub.com/tu-hoc-thuat-va-tu-tri-tue/ )

Các vấn đề của quyền tiếp cận tri thức có đôi nét khá giống với quyền tiếp cận thông tin nhưng có nhiều điểm rất khác. Sự khác nhau này mấu chốt nằm ở sự khác biệt giữa “tri thức” và “thông tin”. Thông tin là một tập hợp dữ liệu liên quan đến một thực tiễn nào đó. Thực tiễn này vì nhiều lý do có thể bị giấu kín hoặc cần được tiết lộ, tùy thuộc và quan điểm của các bên sở hữu thông tin và người dân. Nhưng tri thức thì khác, tri thức là những tập hợp kiến thức được các tác giả sáng tạo hoặc nghiên cứu nên. Vậy nên, người có quyền quyết định về tình trạng công bố tri thức chỉ có thể là chính tác giả. Việc đánh đồng “tri thức” với “thông tin” đã tạo ra một tình trạng tranh cãi nhập nhằng liên quan đến việc tri thức thuộc sở hữu của nhân loại và người dân được tự do tiếp cận hay tri thức thuộc sở hữu của một người hay nhóm người. Trong khi đó, tri thức không phải thông tin và không phải đương đầu với tình trạng gây ảnh hưởng đến các vấn đề an ninh. Ví dụ như một cuốn sách nghiên cứu về lịch sử quân sự của Mỹ sẽ không gây nguy hiểm đến an ninh quốc gia bằng việc công bố thông tin của một cơ sở quân đội Mỹ bí mật. Điều này có nghĩa là, tri thức không nên bị giới hạn trong việc tiếp cận mà cần được khuyến khích và phổ biến.

Thế nhưng, thực tế là, tiếp cận tri thức vẫn rất khó khăn dù Internet đã góp phần không nhỏ trong việc phổ biến kiến thức. Phần lớn tri thức thế giới đều nằm trong kho tư liệu của các trường đại học, các viện nghiên cứu… mà không có cơ chế mở cho phép một người bình thường được phép tiếp cận. Bạn bắt buộc phải trở thành sinh viên hoặc viện sĩ mới tiếp cận được các kho tư liệu này. Nếu không, bạn sẽ chỉ được tiếp cận sách và tài liệu ở dạng thứ cấp, tức là qua các bản tóm lược của những tác giả có đủ vị thế để tiếp cận, và đương nhiên, bạn không có cơ hội để kiểm chứng bởi vì việc tiếp cận các kho tư liệu không hề dễ dàng. Việc các trường đại học hay các viện nghiên cứu giữ kín tri thức săn tìm được cho nội bộ là một hành vi độc quyền, bởi thông qua đó họ có thể tạo dựng được thế lực trí thức hoạt động cho họ. Điều này cũng tương tự với tình trạng Thư viện của Tòa thánh Vatican, khi mà Vatican không dễ dàng cấp phép cho một người được đặt chân vào thư viện và cũng không cho phép được sao chép kiến thức có trong thư viện ấy. Chỉ rất ít trường đại học và viện nghiên cứu công khai các kho tư liệu và sách nghiên cứu với yêu cầu trả phí. Việc trả phí này không phải là điều bất hợp lý, bởi vì tự do không đồng nghĩa với miễn phí. Tự do tiếp cận tri thức là quyền được có cơ hội tiếp cận, còn các mức phí là để trả một phần cho việc duy trì hệ thống hoặc cho các tác giả, dịch giả (nếu họ còn sống). Đây cũng là điều hợp lý. Nhưng độc quyền tri thức cho một nhóm người trong hệ thống nào đó tạo ra bất bình đẳng và tạo ra tình trạng phe cánh trong giới trí thức và học thuật.

Một câu hỏi đặt ra, đó là, nếu một công trình nghiên cứu hoặc sáng tạo của trường đại học hoặc viện nghiên cứu là một tri thức hữu ích, vậy thì người bình thường có quyền được tiếp cận hay không. Điều này còn tùy thuộc vào việc công trình ấy có được tài trợ bằng tiền thuế của người dân hay không. Nếu công trình nghiên cứu hoặc sáng tạo thuộc trường đại học, viện nghiên cứu hay thậm chí là của các tập đoàn, các nhóm start-up đều dựa trên các nguồn tài trợ có xuất xứ từ chính phủ thì việc công bố chúng là điều hiển nhiên. Bởi vì, những tập thể ấy đã được người dân trả công để thực hiện công trình. Ngược lại, nếu công trình được thực hiện không dựa trên các nguồn quỹ đến từ chính phủ, tức từ thuế của dân thì những công trình ấy thuộc về sở hữu của nhà đầu tư và nhà đầu tư hoàn toàn có quyền quyết định công bố chúng hay không.

Tại Việt Nam, tình trạng tự do tiếp cận tri thức gặp rất nhiều cản trở. Cản trở lớn nhất đến từ việc tri thức không hề được coi trọng. Các trường đại học, ngân quỹ không được đầu tư chính đáng cho việc xây dựng các thư viện với khối lượng sách đa dạng và cần thiết cho các chuyên ngành. Các thư viện công có số lượng đầu sách ít, đa phần là sách phục vụ tuyên truyền thể chế và sách giải trí, không nhiều sách tri thức. Những kho tri thức chỉ phục vụ cho một số ít các nhà nghiên cứu được cấp phép. Với tình trạng như vậy, không chỉ một người bình thường mà ngay cả sinh viên và các nhà nghiên cứu cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm tư liệu. Đó là còn chưa kể đến sự chênh lệch rõ rệt trong vị thế của các nhà nghiên cứu, trí thức thuộc hệ thống của chính quyền và của các nhà nghiên cứu, trí thức độc lập.

Đôi khi, việc tự do tiếp cận tri thức lại phụ thuộc vào vấn đề kiểm duyệt của một quốc gia. Nếu một dạng tri thức bị kiểm duyệt, đặc biệt là trong các nhà nước độc tài như thời kỳ Cách mạng văn hóa ở Trung Quốc, hay xa xưa hơn là Châu Âu dưới đêm trường Trung Cổ với quyền lực của giáo hội, thì một người sẽ mang tội nặng nếu muốn tiếp cận. Ở Việt Nam hiện nay, tuy không bị phạt tội nặng cho việc tiếp cận tri thức cấm nhưng cũng không dễ dàng gì để đọc một cuốn sách đã bị cấm phát hành. Tình trạng cấm đoán một số dạng tri thức càng khiến cho tình trạng độc quyền tri thức được củng cố và tai hại hơn, còn tạo ra các công trình nghiên cứu hoặc sáng tạo khiếm khuyết. Liên quan đến tình trạng kiểm duyệt tri thức, tôi sẽ có một bài viết khác.

Do đó, nếu muốn thay đổi thực trạng tồi tệ của nền học thuật Việt Nam hiện nay, không thể đầu tư vô tội vạ vào các công trình nghiên cứu mà cần thiết là giải quyết tận gốc: Tạo cơ hội tiếp cận tri thức một cách tự do và bình đẳng. Việc tạo cơ hội này đương nhiên sẽ đe dọa vị thế của một số trí thức được bảo trợ bởi chính quyền, nhưng bù lại là cơ hội để xuất hiện thêm nhiều trí thức có tài năng và có niềm đam mê hơn.

Hà Thủy Nguyên

Lời nguyền của bầy sói

blogpost thumb

Rừng già phủ một lớp sương dày đặc… Hơi ẩm lạnh của đất thấm xuyên qua gan bàn chân khiến ta không thể điều khiển nối chân mình. Vút! Ta phi thân qua một miệng vực. Vút! Một vũng nước in bóng ta đã bị bỏ lại đằng sau…

Thong thả lại đi… Có tiếng động gì đó xa xa lẫn với mùi của máu thịt! Còn cả một thứ mùi đói khát thỉnh thoảng cứ dâng lên theo từng nhịp móng vuốt cào trên mặt đất. Mùi của máu thịt càng lúc càng trở nên quyến rũ, nó kích động huyết mạch của ta sôi trào. Khí lạnh của núi rừng cũng chẳng thể làm dịu đi chút nào cơn say này. Phải thật nhanh! Ta ngửi thấy mùi sợ hãi! Ta ngửi thấy mùi cuồng dại! Ta ngửi thấy cơn thèm thuồng đã bấy lâu nay rời bỏ ta xâm chiếm dần trong từng tế bào.

Một bầy sói đang dồn con mồi vào vách đá. Con mồi này có mùi hương thật thơm ngon, chẳng trách mà chúng vây chặt nó như vậy. Con mồi run lên bần bật trong từng nhịp thở. Sự sợ hãi đã thêm phần ngon lành cho bữa ăn tối của ta. Không ngần ngại, ta nhẩy vào giữa bầy sói gầm gừ.

Đám sói lùi lại, ta chỉ cần cào cào dưới đất vài đường cũng đủ khiến chúng cong đuôi mà bỏ đi. Lũ sói hèn hạ, thảo nào chúng đi theo bầy. Ta chỉ có một mình, và cũng chỉ cần một mình mà thôi. Men chiến thắng suýt nữa khiến ta quên con mồi, quay ngoắt lại, nó vẫn chưa hề bỏ chạy. Con mồi trắng nõn phủ phục sõng soài trên phiến đá. Nó ngất lịm đi tự lúc nào.

Bây giờ thì chẳng cần phải vội, nó đã nằm gọn trong tay ta. Ta cần hưởng thụ cái mùi thịt non và dòng huyết tươi trẻ đang rần rật chạy trong người nó. Ánh hoàng hôn buông xuống nhuộm một màu đỏ khắp núi rừng và lan dần trên lớp da của con mồi. Mặt trời xuống núi soi chiếu từng tia sáng có lẽ để giúp ta nhìn xuyên thấu vào tận trong từng kẽ xương của nó dù ta chưa hề xé xác nó.

Nhưng ánh hoàng hôn cũng thật nguy hiểm, nó thiêu đốt của ta. Trời ơi, sao thế này? Những lớp lông rụng tơi tả làm ta đau nhói. “Hú… ú… ú… Hú… ú… ú…” Ta nghe thấy tiếng hú của mình nhỏ dần, tắt dần theo ánh mặt trời.

Bầu trời chuyển sang tím sẫm. Ta nhổm người dậy, cảm giác say máu biến mất. Ta như bừng tỉnh khỏi cơn mê đắm hỗn loạn. Quờ tay về phía trước! Giật mình! Một cái chạm mát rượi khiến ta tỉnh hẳn.

Nằm trên phiến đá là một thiếu nữ trong bộ váy trắng, trên nét mặt nàng vẫn thoáng sự căng thẳng vì sợ hãi. Nàng có đôi môi thật khôn tả. Một làn môi mong mỏng, tươi đỏ tương phản với nước da trắng đến rợn mình. Ánh trăng bắt đầu chiếm lĩnh núi rừng, soi thẳng xuống phiến đá. Làn da của nàng cũng sáng bừng lên và đôi môi trở nên đỏ hơn một cách ma quái. Ô hay, ta không làm chủ nổi đôi bàn tay của mình. Nó đã chạy dần trên cánh tay, bờ vai và dừng lại ở đôi môi. Ngón tay của ta bị đôi môi ấy níu giữ. Và bây giờ, ta cũng không làm chủ được cả cặp môi của chính mình. Nó tìm đến cặp môi đỏ kia như muốn ăn tươi nuốt sống.

Giống biết bao câu chuyện khác trong cổ tích, nụ hôn có thể đánh thức người đẹp, nàng khẽ mở mắt dậy. Kinh ngạc vì sự xuất hiện của ta, nàng định đẩy ta ra. Ta thật sự không làm chủ được mình nữa rồi. Ta siết chặt lấy nàng trong tay, ta hôn nàng như muốn thọc sâu vào tận trái tim… cho đến khi sự kháng cự yếu dần.

Và bây giờ nàng đã nằm ngoan ngoãn trong vòng tay của ta. Đôi mắt mê đắm không rời khỏi đôi mắt ta, cặp vú phập phồng lên xuống theo nhịp thở gấp, và những ngón tay của nàng cũng đang mơn man sống lưng của ta nhưng đang chơi một bản nhạc đầy mê hoặc. Kìa, nàng mỉm cười, những ngón tay đã chạy đến khuôn mặt. Những ngón tay mềm mại ôm lấy khuôn mặt ta, kéo sát lại gần nàng.

Chỉ cần nhắm mắt lại, ta có thể thấy chúng ta: nàng và ta đang đi sâu vào nhau. Trong chốc lát, cơn them thuồng bấy lâu nay lắng dịu. Ta cảm nhận thấy sự cô đơn, trống trải bấy lâu nay mà nàng đã phải chịu. Nàng là kẻ lạc loài giữa loài người và nàng không còn muốn sống với con người nữa. Còn ta, ta là kẻ lạc loài giữa bầy sói.

– Ta vốn dĩ là một con sói hoang – Vừa kể, ta vừa liếc nhìn xem thái độ của nàng. Nàng vẫn đang chờ đợi ta nói tiếp – Trước đây, ta là sói đầu đàn, chúng nghe lời ta răm rắp. Cho đến một ngày, tự dưng ta muốn tránh xa lũ hèn hạ ấy, ta muốn rời bầy, ta chỉ thích đơn độc một mình trên mỏm núi mà thôi. Bầy sói không đồng ý và vào một đêm trăng tròn, chúng đã nguyền rủa ta. Cứ mỗi khi mặt trời khuất núi, ta biến thành người để trải nghiệm hết sự cô đơn mà ta mong muốn. Sáng ra, ta lại trở về làm sói và mọi ký ức về quãng thời gian làm người sẽ biến mất.

Nàng chỉ mỉm cười và khẽ đặt một nụ hôn lên mắt ta. Nàng chỉ tay lên mặt trăng với luồng hào quang trắng và nói:

– Chàng nhìn xem, chưa bao giờ ta thấy trăng đẹp như thế này!

Mặt trăng cứ mỗi lúc một lên cao, thời gian của một đêm ngắn lắm. Ta rung mình nghĩ đến lúc phải trở lại trong lốt sói. Ta sẽ quên mất nàng, và lúc ấy ta không còn để tâm tới đôi môi của nàng nữa mà có thể chỉ là cái yết hầu căng mọng máu tươi kia thôi.

– Nàng hãy hứa với ta một điều, trước khi bình minh, nàng hãy trốn thật xa. Và mỗi khi hoàng hôn, ta sẽ gặp nàng ở chính phiến đá này…

Nàng lại mỉm cười và mắt vẫn không rời ánh trăng. Nhưng vòng tay nàng ôm chặt lấy ta tựa thể không bao giờ có thể buông rời…

Bình minh, ta nhổm dậy. Grừ… con mồi đã biến đi đâu? Chạy đâu cho thoát. Mùi máu thịt tươi mới của nó vẫn còn phảng phất, thấp thoáng trong hơi ẩm của lá rừng. Mùi ấy vướng vào cánh hoa mà ta vừa đạp chân lên, len lỏi trong kẽ đá ven suối. Thật là một con mồi khôn ngoan. Nó biết lội qua suối để trốn cái mũi thính nhạy của ta… Chỉ cần sang bên kia suối thôi, là ta lại có thể theo dấu nó.

Việc nó thoát khỏi móng vuốt của ta làm ta sôi máu, giận dữ đến điên người. Gặp nó, nhất định ta phải xé xác nó thành trăm mảnh. Ta sẽ cắn ngập răng nanh sắc nhọn của mình vào cổ nó. Dù chẳng bao giờ đụng đến, nhưng lần này ta sẽ nuốt trọn trái tim nó để thỏa cơn khát máu đang dày vò ta lúc này.

Nó dẫn ta chạy suốt một ngày trời loanh quanh trong cánh rừng. Grừ… sao nó lại về bên suối? Nó biết rằng ta đang đuổi theo nó chăng? Mặt trời đang xuống dần với ánh sáng chói chang, nó sẽ chẳng thể chạy xa hơn.

Đây rồi, không lẫn vào đâu được. Mùi máu tươi ngày một rõ, tiếng nhịp đập lần này không còn sợ hãi nhưng có gì đó nhiệt huyết hơn! Không sao! Máu nóng càng ngon! Ta không thể chậm trễ, kẻo bầy sói hèn hạ kia sẽ mò đến mất! Con mồi đang quay trở lại vách đá lần trước. Ta muốn nhìn thấy máu đổ dưới ánh đỏ chiều tà.

Con mồi đang ngồi chờ đợi điều gì đó không chút đề phòng! Sao phải rình rập? Ta lao vào như một cơn gió lớn và đổ ập xuống nó. Nó hốt hoảng rú lên. Lạ quá! Lần này nó không sợ hãi, ánh mắt nhìn ta khiến ta thoáng chút bối rối, nhưng mùi máu của nó quả là một thứ gây nghiện, ta không thể nào kìm hãm được. Hai chân trước của ta đè lên ngực nó, hai chân sau của ta giữ chặt đùi nó, và răng của ta đã cắt đúng yết hầu đang đập cuồn cuộn của nó. Thật là thích chí! Những ngón tay của nó níu chặt lấy lông cổ của ta và nhìn ta bằng đôi mắt trĩu buồn.

Rút răng ra khỏi yết hầu, một dải máu tươi phun ra như suối. Màu trắng đang bị thay dần bằng màu đỏ chết chóc. Ta nghển cổ hú một tràng dài dưới ánh hoàng hôn. Ôi chao! Ánh mặt trời như thiêu như đốt làm ta khó chịu. Tự dưng ta chẳng còn thích thú chút nào với mùi máu tanh nữa.

Bừng tỉnh! Trời ơi! Ta đã làm gì nàng thế này? Máu ướt đầm tà váy trắng tinh khiết của nàng, hơi thở nàng nặng nhọc sắp tắt. Ta ôm chầm lấy nàng không thể giữ nổi những giọt nước mắt trào ra. Vậy mà nàng lại mỉm cười… Ta cố ngăn để máu không chảy nữa nhưng vô ích vì vết thương quá sâu và quá hiểm. Mặt trời xuống để mặt trăng lên, ánh đỏ cuối cùng vụt tắt. Nàng cố thu lấy chút sức lực cuối cùng, áp long bàn tay đã lạnh ngắt vào má ta:

– Trăng hôm nay cũng đẹp lắm… chỉ cần hàng đêm chàng ngước nhìn trăng… nỗi cô đơn… quạnh quẽ giữa rừng già… sẽ tan biến…

Bàn tay nàng buông thõng xuống, không còn nghe thấy hơi thở của nàng. Máu lênh láng trên tảng đá. Ta đã giết nàng thật rồi… Ta gào rú lên trong điên loạn. Bây giờ ta mới thấu được hết nỗi đau đớn của sự cô đơn. Nó dằn vặt ta khiến ta chỉ muốn chết, nhưng ta biết rằng chết cũng không hết cô đơn vì linh hồn chẳng bao giờ quên những gì nó đã trải qua. Phải rồi, chỉ sáng mai khi thức giấc, quay trở về làm sói, ta sẽ quên. Có điều, lúc hoàng hôn buông xuống thì sao? Nó lại trở về hết ngày này qua ngày khác. Chuỗi ngày đằng đẵng ấy khiến ta thấy sợ…

– Chỉ cần ngài trở về làm sói, mọi ký ức này sẽ tan biến! – Một con sói cái già đột ngột cất tiếng, theo sau là bầy sói.

Cả bầy sói cúi rạp trước ta, chúng muốn ta trở về làm con sói đầu đàn và quên đi giấc mơ trăng êm đềm đêm trước. Ừ thôi cũng được! Miễn là ta có thể quên! Miễn là cảm giác cô đơn không bao giờ quấy nhiễu ta nữa. Chỉ cần một cái khẽ gật đầu…

Từ ấy, bầy sói trong rừng nổi tiếng khắp nơi: Chúng không ăn thịt loài động vật thong thường mà chỉ ăn thịt người. Còn con sói đầu đàn mới gọi là có sở thích quái đản, nó chỉ thích ăn thịt những nàng thiếu nữ vào các đêm sáng trăng. Nỗi kinh hoàng ấy ám ảnh loài người cho đến khi sói đầu đàn già yếu và bị một con sói non trẻ khác cắn chết.

(5/2012)

Hà Thủy Nguyên

Trích từ tập truyện ngắn “Bên kia cánh cửa”

“Dead Poets Society” – Thi ca, tự do và niềm đam mê

blogpost thumb

Tôi xem “Dead Poets Society” (Tên Việt: “Cộng đồng những nhà thơ chết”, “Hội thi nhân quá cố”, “Cộng đồng thi sĩ quá cố”) cách đây 5 năm. Lúc ấy, tôi đã chán nản với văn chương, bởi nghĩ thầm “Thời nay ai mà đọc văn chương” nữa và nghĩ rằng có lẽ mình nên chấm dứt con đường ấy của mình. Thế nhưng,  tình cờ, bật TV lên trong một ngày  nhạt nhẽo, tôi đã gặp bộ phim này với gương mặt của người diễn viên tôi yêu thích – Robins William. Bộ phim tạo ra một không gian văn chương mà ở đó nhân vật chính là thầy dậy văn chương Anh John Keating và những cậu học trò trẻ tuổi. Bằng một tình yêu văn chương say đắm của mình, thầy Keating đã đánh thức khả năng cảm nhận văn chương, sự say mê cuộc đời và tinh thần tự do ở những chàng trai trẻ.

Ấn tượng đầu tiên khi nhìn những chàng trai trẻ trong phim đó là vẻ ngoài ngây thơ, ngơ ngác mà ẩn chứa một lòng khao khát, tò mò đến mức hồi hộp. Trong đầu tôi lập tức bật lên mấy câu thơ của Huy Cận:

“Chân non dại ngập ngừng từng bước nhe

Tim run run trăm tình cảm rụt rè

Tuổi mười lăm gấp sách lại, lắng nghe

Lòng mới mở giữa tay đời ấm áp”

(“Tựu trường”)

Những gương mặt ấy, mở đầu phim, phải tỏ ra nghiêm túc để nghe về những điều luật của trường học, phải ngoan ngoãn một cách chán nản để theo học tiếng Latin, Toán học, Hóa học… Những chàng trai trẻ ấy khi vì ký túc xá dù vui vẻ với nhau những cũng thu lại mỗi người một góc riêng, kìm hãm giấc mơ của mình để vừa lòng bố mẹ. Giữa những chuỗi ngày ấy, thầy Keating đã xuất hiện với một chân dung khác hẳn. Keating khiến cho tất cả những người học trò ấy đều cảm thấy kỳ quặc vì thầy vừa đi vừa huýt sáo, thầy bắt học trò gọi mình là “O Captain! My Captain” (Tên một bài thơ của Walt Whitman). Hơn thế nữa, Keating ngay từ buổi đầu tiên đã truyền cảm hứng cho những học trò của mình một thông điệp: “Carpe, carpe diem, seize the day boys, make your lives extraordinary.” (“Carpe, Carpe diem, nắm bắt từng ngày hỡi các chàng trai, hãy biến cuộc đời của các em trở nên phi thường)

Đỉnh điểm của sự kỳ quặc, đó là khi Keating gọi đống lý thuyết văn chương sử dụng để đo đạc “độ hay của tác phẩm” được viết trong sách giáo khoa là “bullshit” giữa lớp và bắt học sinh phải xé tan nát chúng. Tất cả các học sinh đều vô cùng ngỡ ngàng, sợ hãi xen lẫn thích thú. Xem chừng, cái cảm giác muốn đập tan mọi khuôn khổ của trường học đều nằm sâu bên trong các chàng trai trẻ. Không chỉ có vậy, thầy Keating thúc đẩy tính cá nhân và sự tự do của những cậu trai trẻ bằng việc cho họ tập đi tự do. Đi tự do theo cách của mình, kể cả đó là cách ngớ ngẩn, chính là một trong những phương pháp để đập phá khuôn khổ vốn dĩ đã được cài đặt vào não trạng của học sinh bằng thói quen xếp hàng. Đến đây, tôi lại nhớ đến video clip “Another brick in the wall” của Pink Floyd. Trong clip ấy, những em bé học sinh phải đi theo hàng, bước đều bước trên một cỗ máy. Keating còn khuyến khích học trò của mình trèo lên bàn để nhắc nhở học trò rằng cần phải nhìn thế giới theo nhiều cách khác nhau. Đó chính là khởi nguồn của sự bất tuân. Phải chăng, chỉ những con người bất tuân mới có thể cảm nhận được văn chương và thi ca.

Trong không khí kỳ quặc đến phi thường ấy, khi những cậu học sinh đã được trải nghiệm cảm giác thoải mái, tự do, đó là lúc Keating nói về thi ca. Ông không đọc văn chương bằng thứ giọng chán ngắt mà biến tấu giọng dựa trên nhịp điệu cảm xúc của tác phẩm. Ông để những đứa trẻ vừa đá bóng, vừa nghe giao hưởng, vừa đọc thơ. Ông ngấm ngầm chuyển cho học trò cuốn sách ghi chép lại những vần thơ hay của William Shakespeares, Henry David Thoreau, Walt Whitman, Paoblo Neruda… Vậy là những chàng trai trẻ cứ đêm đêm đến một hang động, đọc thơ và thổi saxophone cho nhau nghe bên ngọn lửa. Có lẽ, đây là những giây phút vui vẻ nhất, say đắm nhất, tự do nhất của những chàng trai. Và lẽ đương, một khi đã quen với say đắm, với tự do, làm sao có thể chấp nhận được những khuôn khổ ngớ ngẩn và chán ngắt.

Những chàng trai “tim non dại” ấy đã nổi loạn. Không phải biểu tình đập phá. Sự nổi loạn đơn giản chỉ là sống hết mình. Khi một chàng trai dám đi theo giấc mơ diễn kịch của mình chứ không muốn làm kỹ sư, bác sĩ, đó là nổi loạn. Khi một chàng trai dám vượt qua mọi khó khăn cản trở để đến với người mình yêu, đó là nổi loạn. Khi một chàng trai dám cất lên tiếng dữ dội từ sâu thẳm bên trong mình, đó chính là nổi loạn. Đúng như lời giảng của thầy Keating: “Các chàng trai, các em phải cố gắng tìm kiếm tiếng nói riêng của mình. Bởi vì còn chờ gì nữa mà không bắt đầu, không thể chắc chắn rằng sau này các em còn có thể tìm thấy. Như Thoreau nói: “Hầu hết những người đàn ông đều sống trong sự yên tĩnh đến tuyệt vọng” Đừng chần chừ nữa! Hãy phá tung!”

Qua bộ phim, chúng ta có thể tìm thấy cho mình câu trả lời về mục đích thật sự của văn chương, mà thi ca là một phần trong đó. “Chúng ta không đọc thơ viết thơ vì nó dễ thương. Chúng ta đọc thơ và viết thơ bởi vì chúng ta là thành viên của loài người. Và loài người được lấp đầy bởi đam mê. Và Y học, Pháp luật, Kinh doanh, Kỹ thuật đều là những đeo đuổi cần thiết để duy trì sự sống. Nhưng thơ ca, vẻ đẹp, tình yêu, đó là những gì xứng đáng để  ta sống vì chúng. Một trích dẫn từ Whitman: “Ồ tôi, ồ cuộc sống!… trong những câu hỏi lặp đi lặp lại, của đoàn tàu vô tận không có niềm tin… của những thành phố đầy những kẻ ngốc, có gì tốt đẹp ở đây. Ồ tôi, ồ cuộc sống?” Đó chính là câu trả lời. Giờ thì các em đang ở đây, cuộc sống luôn tồn tại và có bản sắc riêng, hãy mạnh mẽ lên và các em sẽ góp vào đó câu thơ của mình. Thế đó, mạnh mẽ lên và góp vào câu thơ của mình. Câu thơ đó sẽ là gì?” Mục đích cao nhất của văn chương, theo những gì thầy Keating dậy, không phải sự cứu rỗi, mà là thúc đẩy. Không phải ve vuốt sự nhân văn giả dối mà mở rộng các phạm vi của nhân tính, chắp thêm đôi cánh cho con người để bay tới tự do. Và bởi thế, các thế lực muốn kiểm soát xã hội không bao giờ muốn văn chương được cất lên tiếng nói của mình. Giáo hội Công giáo đã từng coi văn chương và nhiều ngành nghệ thuật khác là quỷ dữ cần bị bài trừ. Cách mạng văn hóa Trung Quốc đã tiêu diệt văn chương bằng bần cùng hóa và tra tấn tinh thần. Vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm và Xét lại ở Việt Nam đã đẩy văn chương đích thực vào tù ngục, bị cô lập và tẩy chay. Đến nay, văn chương tưởng như đã an toàn. Không, truyền thông đã đẩy văn chương vào một xó, rẻ rúng nó, làm nó biến chất thành một thứ quái vật. Nhưng không, văn chương vẫn cứ là văn chương. Và truyền thông lại ca ngợi những thứ mạo nhận văn chương.

Tác giả kịch bản của bộ phim “Dead Poets Society” hẳn phải thấm thía thân phận của văn chương một cách sâu sắc. Sau tất cả những giây phút đam mê nhất, đẹp đẽ nhất, là cái chết của một chàng trai trẻ đã dám nổi loạn đi theo tiếng gọi của nghệ thuật. Cậu chết bởi cảm thấy rằng cuộc đời này sẽ không cho phép cậu được cất lên tiếng nói bay bổng của riêng mình. Rằng cuộc đời này sẽ trói buộc cậu trong trật tự xã hội. Và một con người, nếu không thể là chính mình thì còn sống làm gì nữa!

Còn Keating, người thầy say mê với văn chương ấy bị đuổi khỏi trường học. Lần gặp mặt cuối cùng của Keating với những người học trò của mình, ông bước đi trong buồn bã. Nhưng rồi, tiếng gọi “O captain my captain” vang lên. Những người học trò của ông đã đứng lên bàn, như một lời chào từ biệt, như một lời hứa hẹn rằng: Chúng em sẽ không quên những điều này! Chúng em sẽ nhìn thế giới theo nhiều cách khác nhau! Chúng em sẽ không cúi đầu! Chúng em sẽ có một cuộc sống phi thường!

Hà Thủy Nguyên

THUẬT TRỊ NƯỚC TRONG BÁT BÚN THANG

blogpost thumb

Sau mỗi dịp Tết, thừa gà đấy, thừa giò đấy, mà chán không muốn ăn, vì quá ngán ngẩm mâm cao cỗ đầy. Vậy làm gì với chỗ thức ăn thừa ấy bây giờ? Đổ đi thì không nỡ! Mà ăn cả miếng to thì không thể chịu được. Thế là các cụ nhà ta xé nhỏ thịt gà ra, thái chỉ giò lụa, thái chỉ củ cải muối, tráng trứng không dầu mỡ rồi thái lát mỏng, nấu cùng với nước dùng gà và nấm hương, chan bún ăn, và đương nhiên không thể thiếu tinh dầu cà cuống, rồi rắc thêm hành và răm. Không thể tưởng tượng được từ sự hỗn tạp của rất nhiều đồ ăn như vậy lại kết hợp một cách hài hòa đến mức tinh tế trong cái bát nhỏ xinh. Qủa thật không dễ! Ai đó sáng tạo ra cách nấu bún thang hẳn phải là một kẻ thiên tài trong việc hòa giải các vị tưởng như đối lập với nhau. Điều này không khỏi khiến tôi nghĩ đến thuật trị nước.

Đất nước giống như bát bún thang vậy. Mỗi vị giống như một tầng lớp người trong xã hội. Có tầng lớp người có thể hòa hợp với nhau, có tầng lớp người lại đối nhau chan chat. Kẻ trị nước tài giỏi không phải chỉ cho dân ăn cho no mà còn phải biết dung hợp rất nhiều những nét văn hóa của từng tầng lớp khác nhau sao cho ai cũng được thỏa lòng mà không xâm phạm đến kẻ khác. Đặc biệt là nền chính trị ở Việt Nam. Việt Nam nằm trong tuyến giao thương giữa Trung Quốc, Đông Nam Á và Ấn Độ, nên sắc dân đa dạng, rất nhiều truyền thống lẫn lộn với nhau, thật chẳng khác nào như chỗ thức ăn thừa ngày Tết. Nay lại còn thêm Âu Mỹ, Nhật Hàn… sự phức tạp càng gia tăng. Nhưng rồi thì người ta vẫn cứ phải nấu tất cả những thứ tưởng như chẳng liên quan ấy thành một món ăn ngon. Khó nhỉ! Thôi thì để Âu Mỹ, Nhật Hàn sang một bên, để thử xem các cụ nhà ta đã trị bát bún thang như thế nào.

Khi bạn bưng một bát bún thang trên tay, bạn chú ý nhất điều gì? Có phải nước dùng có ngọt không, thịt gà có ngon không? Phải, điều quan trọng đầu tiên của bát bún thang chính là thịt gà và nước dùng gà. Người ta dịch tiếng Anh từ bún thang là “vermicelli and chicken soup”, như vậy đủ thấy gà là thứ nổi bật nhất mà người ta có thể nhận diện. Qủa nhiên, nước dùng gà là nền chính để tất cả các vị khác đều được đẩy lên. Bởi thế, gà nhất thiết phải là gà ta, nước dùng nhất thiết phải là ninh xương gà (chứ không phải là xương lợn và mì chính). Thế đấy, yếu tố “gà” trong bát bún thang giống như một phẩm tính chủ đạo trong nếp sống xã hội. Thịt gà là thứ thực phẩm nhạt, rất đám đông. Nhưng xương gà ninh lên lại rất ngọt, càng ninh lâu lại càng ngọt. Nếu ăn phải bát bún thang nấu với gà công nghiệp thì ôi thôi, tất cả đều nhạt nhẽo và tệ hại. Tương tự như thế, một xã hội mà nếp sống không được tuân thủ một cách chỉn chu và đúng đắn thì mọi thứ sẽ xộc xệch. Để nước gà thêm ngọt, người ta ninh thêm với sá sùng khô, một loài sâu biển. Nhiều người nghĩ đến sâu, sợ quá, bèn bỏ sâu đi. Cũng được thôi, nước bớt ngọt. Các loài sâu vốn là loài chứa nhiều đạm nhất và bổ nhất. Người không ăn sâu thì cũng đến lúc sâu ăn người mà thôi. Nên đừng có sợ, đừng có vì mấy cái hãi hùng ra vẻ mà bỏ mất cơ hội có nồi nước dùng ngon. Đừng vì sợ một điều gì đó khác biệt trong văn hóa sống của mình mà gạt bỏ đi những cơ hội để có một xã hội tốt đẹp. Người Việt Nam đã nhiều lần dại dột như thế đó.

Nhưng nếu bún thang chỉ có bún và gà, giống như tên tiếng Anh của nó thì nó đã không phải là bún thang, mà đã là bún gà. Có bún rồi, có gà xé rồi, nhưng vẫn cần phải có cả trứng, giò, củ cải thái chỉ, lại còn phải thêm nấm hương, hành răm, đa dạng quá. Tất cả đều được thái chỉ, nhất thiết là phải thái chỉ, càng mỏng càng tốt. Tại sao không để cả mảng trứng, mảng giò như người ta vẫn cho xá xíu và trứng vào  mì vằn thắn? Đơn giản thôi, vị thì nhiều mà bát lại nhỏ, mà lòng người thì đã ngán ngẩm từng tảng thịt tảng xôi ngày Tết. Vậy là cứ xé nhỏ ra, như thức ăn trẻ con, để không phải  cắn cắn từng miếng. Mặc dù từng đồ đều được thái mỏng, nhưng vị của chúng thuần nhất. Trứng thuần túy là trứng mà không pha dầu mỡ, nấm hương đúng vị nấm nương, giò phải chuẩn giò lụa, củ cải muối cũng phải bóp hết toàn bộ vị hăng hăng đi, chỉ giữ lại cái giòn giòn sần sật. Hành hoa phải chẻ ra mỏng mảnh  lụa hành, răm phải thái nhỏ lắc rắc lên thôi. Thế đấy,  muốn ăn được bát bún thang thì mấy thứ nguyên liệu ấy phải thanh nhất có thể, thuần nhất có thể. Đồ thừa nhưng không phải bạ cái gì cũng cho vào mà được!

Đa phần các hàng bún thang ở Hà Nội bây giờ, chỉ cần có vậy là đủ một bát bún thang tạm gọi là ăn được. Người ta cũng dễ dàng chấp nhận với cái giá 25.000 đến 30.000 một bát. Món quà bún này rẻ, lại dễ ăn, dễ nấu. Nhưng mà ăn thế thì chả có vị gì. Bún thang vẫn cần phải có ít mắm tôm. Điều kỳ lạ của những tay nấu mắm tôm lão luyện đó là một thứ nặng mùi như mắm tôm thả và bát bún tưởng như rất thanh cảnh ấy, thế mà ăn vẫn ngon tuyệt, thậm chí không cảm thấy mùi mắm tôm đâu. Như thể sự thanh tao đã xóa đi mọi tố chất ô trọc để giữ lại những gì tinh túy nhất. Người ta nói nhiều đến việc sự sạch sẽ dễ dàng bị dơ bẩn, chứ ít khi nào lại chứng kiến sự tao nhã thuần hóa sự bất kham như thế. Đương nhiên, việc dùng mắm tôm ăn với các quà bún như bún ốc, bún riêu cũng khá thông dụng. Nhưng mắm tôm dùng trong hai thứ quà bún ấy là lấy độc trị độc, dùng mùi nặng của mắm tôm để át đi mùi tanh của cua, của ốc. Đằng này, mắm tôm không phải chiến đấu chống lại cái gì, mà êm dịu trở một phần của bát bún thang.

Như thế vẫn chưa gọi là đủ, một bát bún thang hoàn hảo không thể thiếu chấm đũa tinh dầu cả cuống. Chỉ cần một cái chấm đũa tinh dầu cà cuống thôi cũng dậy lên toàn bộ mùi thơm  tuyệt vời của bún thang. Ngày nay, các hàng bún thang ít dùng tinh dầu cà cuống. Vì nó quá đắt. 5000 một cái chấm đũa, người ta có thể thấy điều ấy là không đáng. Tinh dầu cà cuống hình như còn đắt hơn tinh dầu quế, tinh dầu tràm… Nhưng một giọt ấy thôi cũng đủ đưa bát bún thang lên hẳn một đẳng cấp khác. Không còn là đồ ăn thừa của ngày Tết nữa, với hương cà cuống, bát bún thang đã trở thành một tuyệt phẩm. Hương cà cuống kết nối mọi thứ tưởng như rời rạc nhau lại, quện mắm tôm với vị hành răm; quện từng sợi gà, sợi trứng, sợi củ cải với nhau; thậm chí đến sợi bún cũng như có sức sống không còn vô duyên giữa ngổn ngang các mùi vị nữa. Hiện nay ở Hà Nội chỉ còn mỗi  một hàng bún thang không vì chiều cái sự tiếc tiền của đại chúng mà lãng quên hương cà cuống, đó là hiệu Thanh Vân ở 14 Hàng Gà. Hiệu này đắt hơn hẳn những quán bún thang khác như ở Giảng Võ, ở Cầu Gỗ, ở Hàng Hòm, Hàng Hành, Hàng Lược… Nhưng đắt cũng đáng. Ăn xong bát bún thang ở hiệu Thanh Vân, vị trứng, vị giò, vị nấm, vị gà, vị củ cải… dần dần tan biến, rồi đến vị hành răm cũng biến mất, còn đọng lại rất lâu là dư vị của hương cà cuống. Thế đấy, những gì tinh túy đều  không dễ dàng biến mất.

Có điều, xin đừng vắt chanh vào bát bún thang, cũng đừng ăn bún thang với quẩy. Bát bún thang cùng hương cà cuống đã quá hoàn hảo. Tất cả sự thêm thắt những thứ không liên quan ấy sẽ phá vỡ trật tự này. Vị chua chua của chanh rất ngon, nhưng vắt vào bún thang thì lại đối lập với vị trứng. Quẩy giòn ăn cũng thú, lại no lâu, nhưng nó ngấy quá, lại làm mất đi sự thích thú khi nếm từng thìa nước dùng. Tuy nhiên, bạn có thể rắc thêm ít tiêu cho thơm hay cho một ít tương ớt để mang lại sự đậm đà.

Các bạn thấy không, để có bát bún thang ngon khác gì thuật trị nước. Muốn trị tốt phải có nền tảng xịn như nước dùng ninh từ xương gà ta, phải cho dân cái chuẩn mực thuần chất như trứng, như gà, như nấm, như hành răm…, rồi thì phải biết cách thuần hóa những đối tượng bất kham sao cho đối tượng ấy được thi triển toàn bộ năng lực của mình mà không phá hoại tổng thể, và quan trọng hơn hết phải nhận thức được vai trò của tầng lớp tinh hoa. Tầng lớp tinh hoa giống như hương cà cuống ấy, chỉ một chấm ấy thôi mà giải quyết mọi vấn đề, lại còn  lưu lại sự sâu đậm khó phai. Mà đến khi thêm thắt ít vị từ bên ngoài, cũng phải chọn lựa sao cho không phá đi tổng thể mà lại dậy lên được sự thơm ngon của bát bún thang. Lý thuyết là thế, nhưng làm thì không dễ. Đấy, kiếm gà ta xịn không dễ (giờ người ta nuôi cám nhiều, mà lại để lưu cữu nữa thì khó ngon lắm). Đến trứng gà giờ cũng đa phần là trứng gà công nghiệp, ăn khô khốc. Giò thì nhiều hàn the. Cà cuống thì ngày một hiếm do quá trình đô thị hóa phá nát hết ruộng đồng. Ăn một bát bún thang cho ngon cũng khó như giải quyết tình hình chính trị văn hóa Việt Nam hiện nay vậy.

Mà thôi, chừng nào vẫn còn một hàng có bún thang ngon, chừng ấy nước ta hẳn vẫn còn cách để chấn chỉnh lại. Không  lo! Tôi không nói đùa đâu. Còn hàng bún thang ngon nghĩa là vẫn còn có người nấu ăn tử tế, vẫn còn khách biết hưởng thụ. Còn khách biết hưởng thụ tức là còn người biết phân biệt đúng sai, hay dở, tức là còn người dân có lý trí. Mà còn người dân có lý trí thì xã hội còn có cơ tốt lên. Tôi chỉ sợ nhất là xã hội Việt Nam lại như cái món mì cay 7 độ đang thịnh hành. Mì cay 7 độ cũng là món được nấu từ thức ăn thừa. Thức ăn thừa đổ tất cả lại với nhau, rồi cho nước sốt cay thật cay, cay đến mức lấn át hết mùi vị xuống cấp của đồ ăn, cay đến mức lưỡi tê dại đi không còn cảm nhận thấy vị gì nữa, thế là qua một bữa. Xã hội kiểu mì cay 7 độ là thứ xã hội thiếu đói của cả vật chất và tinh thần, và để lấp liếm cho sự thiếu đói đó, người ta cho vào những thứ văn hóa gia vị gây tê dại, làm liệt mọi giác quan đến mức chỉ cần nốc cho đầy bụng đầy mồm. Cho nên, một bát mì cay 7 độ, dù có ăn với tôm hùm thì vẫn cứ là thứ thức ăn hạ cấp. Mà bún thang, năm này sang năm khác chỉ đơn giản như vậy, mà vẫn cứ là đại diện cho sự tinh tế.

Xin nói thêm về tên gọi bún thang. Từ “thang” ở đây là muốn nói đến “thang thuốc”. Gọi tên “bún thang”, các cụ ta ý muốn nói rằng đây là món hỗn hợp từ nhiều thứ, giống như một thang thuốc vậy đó. Đến đây, tôi chợt nhớ tới tác phẩm “Hồ Qúy Ly” của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh. Trong tác phẩm này, tác giả và các nhân vật của ông đều đau đáu đi tìm thang thuốc lớn cho dân tộc. Tôi bật cười, giá như ngày đó thay vì đau đáu nghĩ, họ đi ăn bún thang (nếu có) thì liệu họ có nghĩ ra giải pháp để cứu nước cứu đời không nhỉ…

Hà Thủy Nguyên

Phúc âm sói lang thang

blogpost thumb

Trút bỏ những vai diễn tầm thường và giả dối
Trút bỏ lớp mặt nạ đạo đức đớn hèn
Móng vuốt cào ánh trăng ứa máu lả tả bụi vàng rơi
Lóng lánh khung trời thẫm đỏ

Ta lang thang, lang thang trong đêm, gặm đứt những nóc nhà, phủ trắng đô thành bằng màn sương huyền thoại
Ta lang thang, lang thang trong rừng rậm, bấu chặt thảo hoa ướt đẫm sương đêm, say men nồng hơi sợ hãi của lũ người tanh hôi mùi tinh thần thối rữa
Ta lang thang, lang thang trong hẻm núi, cô độc liếm láp vết thương hoen ố mủ thời gian, muôn đời không thể chữa lành bởi quyền năng bất tử
Ta lang thang, lang thang trong miền vô thức, đánh hơi kiếm tìm chính ta nơi sâu thẳm ngàn vạn kiếp huy hoàng
Ta lang thang, lang thang trong định mệnh đẫm máu kiếm tìm dòng thanh âm dữ dội thét gào đánh thức bầy đàn đang ngủ yên trong cõi đời chật hẹp của khoảnh sân nhà

Tru lên: Thực Tại: Máu
Trăng: Máu
Rừng: Máu
Đô thành: Máu
Miền vô thức thẫm máu
Những cánh hoa trắng muốt xuôi trên dòng sông tanh đỏ thả trôi linh hồn trinh nguyên bập bềnh giữa thác ngàn
Thực tại còn lại gì? Những mạch đập sợ hãi? Hay cơn cuồng nộ của con dã thú bị phong ấn hàng ngàn năm dưới niềm tin nhân tính?

Thực tại không còn lại gì thối nát… Thuần huyết đặc quánh ngưng đọng nơi vầng thái dương buổi ban mai…
Ta đã lang thang trong những đêm vô thức,
Bới tung ruột gan những kẻ giả dối đớn hèn,
Tru lên dưới ánh trăng xua tan tạp âm xô bồ của hàng tỉ linh hồn thiểu năng thần khí
Trên những đô thành mất nóc, dưới lớp sương mù, ta chiếm đóng giấc mơ của bầy đàn ngủ quên bằng cơn mưa máu
Để sớm mai đây, dưới lốt người thường, bầy đàn của ta bừng tỉnh, để mỗi linh hồn đồng vọng bản thanh âm hoang dã của rừng đêm.

(2015)

Trích tập thơ “Mùa dã cổ”

Link mua sách: https://hangcao.info/shop/van-chuong/mua-da-co/