Tại sao tôi viết? – George Orwell (1): Động lực của nhà văn

blogpost thumb

Từ khi ít tuổi, có lẽ là năm hay sáu gì đó, tôi đã biết rằng khi tôi lớn lên tôi sẽ trở thành một nhà văn. Trong quãng từ mười bảy đến hăm tư tuổi tôi đã cố từ bỏ ý định này, nhưng tôi thực hiện điều đó với ý thức rằng tôi đang lăng mạ bản chất đích thực của mình và dù sớm hay muộn tôi sẽ ngồi xuống và sáng tác.

Tôi là đứa thứ hai trong số ba anh em, nhưng tôi kém anh cả và hơn em út những 5 tuổi, và tôi gần như không được thấy cha mình cho tới khi tôi tám tuổi. Vì lý do này và một vài nguyên nhân khác tôi khá đơn độc, và sớm hình thành lối sống bất tuân khiến tôi không được yêu quý trong suốt thời đi học của mình. Tôi có thói quen của một đứa trẻ cô đơn khi tạo nên các câu truyện và dựng nên những cuộc đối thoại với những người tưởng tượng, và tôi nghĩ rằng ngay từ ban đầu niềm đam mê văn học của tôi đã được trộn lẫn với cảm giác cô độc và bị đánh giá thấp. Tôi biết rằng tôi có lợi thế trong sử dụng ngôn từ và một năng lực đối mặt với những sự thật phũ vàng, và tôi cảm thấy rằng điều này tạo ra một dạng thế giới riêng tư mà trong đó tôi có thể lấy lại thế giới của riêng tôi vì những thất bại trong cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên tập hợp những bài viết nghiêm túc – đúng hơn là có ý định một cách nghiêm túc – mà tôi viết ra trong suốt thời thơ ấu và niên thiếu của mình chẳng đến sáu trang giấy. Tôi đã viết bài thơ đầu tiên lúc bốn hay năm tuổi, mẹ tôi mang ra để soát chính tả. Tôi không thể nhớ chút nào về nó ngoại trừ nội dung của nó về một con hổ và con hổ có “răng giống ghế” – một cụm từ đủ hay, nhưng tôi nghĩ rằng đây là một trường hợp đạo thơ bài “Hổ này hổ” (Tiger, tiger) của Blake. Ở tuổi mười một, khi thế chiến 1914 – 1918 nổ ra, tôi đã viết một bài thơ yêu nước và được in trên tờ báo địa phương, cũng như vài bài khác hai năm sau đó về cái chết của Kitchener. Thi thoảng, khi tôi lớn hơn một chút, tôi cũng viết những bài thơ thiên nhiên dở tệ theo đúng phong cách của George và thường chẳng bao giờ hoàn thành được. Tôi cũng đôi lần cố gắng viết những truyện truyện ngắn mà đó là một thất bại khủng khiếp. Đó là tổng cộng tất cả những gì nghiêm túc mà tôi đã tực sự viết trong suốt những năm tháng ấy.

Dù sao đi nữa, trong suốt tời gian này tôi đã tham gia vào các hoạt động văn chương. Bắt đầu với những thứ được sản xuất theo đơn đặt hàng mà tôi đã thực hiện rất nhanh chóng, dễ dàng và không vui vẻ gì. Ngoài công việc ở trường, tôi đã viết thơ, những bài thơ minh họa mà tôi có thể bật ra với tốc độ đáng kinh ngạc – ở tuổi mười bốn tôi đã viết hẳn một vở kịch thơ, bắt chước Aristophanes, trong khoảng một tuần – và giúp biên tập tạp chí của trường, vừa in vừa làm bản thảo. Những tạp chí này khôi hài một cách đáng thương và tôi gặp ít rắc rối với nó hơn nhiều so với thứ báo chí rẻ tiền nhất hiện nay. Nhưng sau tất cả những điều này, trong khoảng mười lăm năm ấy, tôi đã thực hành một bài tập văn chương rất khác biệt: đây là câu truyện tiếp diễn về chính bản thân tôi, một dạng nhật ký chỉ tồn tại trong tâm trí mà thôi. Tôi tin rằng đây là thói quen phổ biến của trẻ em và các thanh thiếu niên. Bởi vì từ khi còn rất nhỏ tôi đã từng tưởng tượng rằng tôi là, nói thế nào nhỉ, Robinhood, và tự hình dung mình là người hùng trong các cuộc phiêu lưu li kỳ, nhưng chẳng mấy chốc “câu truyện” của tôi đã không còn là một dạng ái kỷ thô thiển và ngày càng trở thành một dạng mô tả giản đơn những gì tôi làm và những gì tôi thấy. Trong phút chốc những điều này chạy qua đầu tôi: “Anh đẩy cửa và bước vào phòng. Một tia nắng mặt trời vàng vọt, chiếu qua tấm rèm sa mỏng, xiên vào bàn, nơi những hộp diêm, hé nửa, nằm cạnh lọ mực. Với tay phải trong túi anh bước qua cửa sổ. Dưới con phố con mèo đầu rùa đang đuổi theo một chiếc lá héo tàn.” Vân vân và vân vân. Thói quen viết này còn kéo dài cho tới khi tôi khoảng hăm lăm tuổi, ngay trong những năm tôi không có chút văn chương nào. Mặc dù tôi đã phải kiếm tìm, và kiếm tìm những ngôn từ đúng đắn, tôi dường như vẫn nỗ lực miêu tả những điều trái với ý muốn của tôi, theo đúng những gì bên ngoài ép buộc. “Câu truyện” phải, tôi cho rằng, phản ánh phong cách của những nhà văn khác nhau mà tôi đã ngưỡng mộ ở mỗi độ tuổi khác nhau, nhưng cho tới giờ tôi nhớ là chúng đều có cùng chất lượng miêu tả chi tiết giống nhau.

Khi tôi khoảng mười sáu tuổi tôi đột nhiên khám phá ra thú vui đơn thuần là ngôn từ, ví dụ như âm điệu hay phối từ. Những dòng này từ “Thiên đường lạc lối” (Paradise Lost):

“Thế là chàng với khổ cực và cần lao
Được đổi thành: khổ cực và cần lao chính chàng”

giờ đây chẳng có vẻ gì là tuyệt vời với tôi, lại đã từng khiến tôi ớn lạnh xương sống, và hứng khởi đánh vần “hee” thay cho “he”. Đối với nhu cầu miêu tả mọi thứ, tôi đã biết toàn bộ rồi. Do đó, rõ ràng rằng loại sách ấy tôi có thể viết trong tầm tay vào thời điểm đó. Tôi muốn viết những cuốn tiểu thuyết thực sự vĩ đại với những cái kết không tốt đẹp, tràn ngập các miêu tả chi tiết và những hình ảnh ví von, và cũng tràn ngập những đoạn văn thẫm đỏ mà trong đó ngôn từ được sử dụng tạo ra nhịp điệu riêng của mình. Và trên thực tế là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của tôi, “Những ngày Miến Điện”, tôi đã viết khi tôi ba mươi tuổi, nhưng đã được nhen nhóm ý tưởng sớm hơn nhiều, khá là tiêu biểu cho thể loại này.

Tôi đưa ra tất cả những thông tin cơ bản này bởi vì tôi không nghĩ rằng người ta có thể đánh giá động cơ của một nhà văn mà không biết gì về thời kỳ phát triển ban đầu của nhà văn ấy. Đối tượng của nhà văn sẽ được xác định bởi thời đại, ít nhất điều này đúng ở thời loạn lạc và nổi dậy như thời của chúng ta – nhưng trước khi nhà văn ấy bắt đầu viết thì sẽ có sẵn một thái độ cảm xúc bao trùm khiến không thể thoát ra. Không nghi ngờ gì nữa, chính sự chuyên nghiệp là để thuần hóa tính khí của nhà văn và tránh mắc ket trong tình trạng thiếu trưởng thành, hay trong những tâm trạng đồi trụy: nhưng nếu nhà văn thoát khỏi những ảnh hưởng ban đầu của chính mình thì đồng thời cũng tự giết chết những thôi thúc viết lách của mình. Bỏ qua nhu cầu kiếm sống, tôi nghĩ rằng có bốn động lực lớn cho viết lách ở mọi cấp độ văn chương. Chúng tồn tại ở nhiều mức độ khác nhau với mỗi nhà văn, và trong mỗi nhà văn tỉ lệ sẽ thay đổi theo từng thời điểm, theo bầu không khí mà nhà văn sống trong đó. Chúng bao gồm:

(1) Bản ngã siêu tuyệt. Mong muốn có được vẻ thông tuệ, được nói đến, được nhớ tới sau khi chết, để lấy lại tự tôn từ những người đã hắt hủi bạn khi bạn còn tơ ấu, vân vân và vân vân. Các nhà văn có cùng đặc tính này với nhà khoa học, nghệ sĩ, chính trị gia, luật sư, quân nhân, các doanh nhân thành đạt – tóm lại là toàn bộ những cái mẽ đỉnh cao của nhân loại. Đám đông vĩ đại của loài người không ích kỷ hoàn toàn. Sau độ tuổi ba mươi, họ hầu như tắt lịm tham vọng cá nhân – nhiều trường hợp, thay vì đó, họ gần như từ bỏ ý thức về cá nhân – và sống chủ yếu vì người khác, hoặc đơn giản là bị vùi dập tàn tệ. Nhưng một số ít những người tài năng, có ý chí, quyết tâm đeo đuổi đến cùng, và các nhà văn đều nằm trong lớp này. Tôi phải nói là các nhà văn nghiêm túc, hão huyền và thích tự coi mình là trung tâm hơn các nhà báo, mặc dù ít quan tâm tới tiền bạc hơn.

(2) Đam mê thẩm mỹ. Nhận thức về cái đẹp ở thế giới bên ngoài, hoặc, mặt khác, là ngôn từ và cấu trúc chuẩn mực của họ. Sung sướng được tác động hết âm thanh này tới âm thanh khác, trong sự chặt chẽ của lời văn đẹp đẽ hay những nhịp điệu của các cốt truyện hay ho. Ham muốn được chia sẻ một trải nghiệm mà người ta cảm thấy đáng giá và không thể bỏ lỡ. Động lực cái đẹp khá yếu ớt đối với đa số nhà văn, nhưng ngay cả với một người viết hay tác giả của sách giáo khoa đều sẽ có những từ và cụm từ yêu thích vì lý do ngớ ngẩn nào đó, hoặc đơn giản là thấy ấn tượng vì phông chứ hoặc độ rộng của lề, vân vân. Từ cấp độ của một hướng dẫn xe lửa trở lên, chẳng cuốn sách nào thoát khỏi những tính toán thẩm mỹ.

(3) Xúc cảm lịch sử. Mong muốn được thấy mọi thứ đúng như chúng là, tìm kiếm những thực tại đích thực và lưu lại cho hậu thế.

(4) Mục đích chính trị – từ “chính trị” được sử dụng theo nghĩa rộng nhất có thể. Mong muốn thúc đẩy thế giới theo hướng nào đó, để thay đổi ý tưởng của người khác về một loại xã hội nào đó mà họ nên phấn đấu theo. Một lần nữa phải nói là, không cuốn sách nào thực sự thoát khỏi thiên kiến chính trị. Ý kiến cho rằng nghệ thuật chẳng liên quan gì đến chính trị thì chính bản thân nó cũng là một thái độ chính trị.

 

(Còn nữa)

Hà Thủy Nguyên dịch

Nguyên tác: https://orwell.ru/library/essays/wiw/english/e_wiw

Bắc phong hành - Lý Bạch

blogpost thumb

Hôm qua mình dịch Yên ca hành bài Thu phong của Tào Phi, rồi chợt nhớ ra bài Bắc phong hành của Lý Bạch, cũng là thể tài chinh phụ. Bài này có mấy bản dịch, nhưng các bản dịch đều biến bài hành này thành nhịp điệu thơ thất ngôn, làm sai đi tính hiện thực khắc nghiệt của bài thơ. Vẻ đẹp của bài thơ không phải ở câu thơ chau chuốt bóng bẩy theo lối Đường thi phổ biến, mà là nỗi đau dữ dội như gió tuyết. Mình thử dịch lại, cố giữ nhịp của điệu hành.

Chúc long thê hàn môn,
Quang diệu do đán khai.
Nhật nguyệt chiếu chi hà bất cập thử,
Duy hữu bắc phong hào nộ thiên thượng lai.
Yên sơn tuyết hoa đại như tịch,
Phiến phiến xuy lạc Hiên Viên đài.
U Châu tư phụ thập nhị nguyệt,
Đình ca bãi tiếu song nga tồi.
Ỷ môn vọng hành nhân,
Niệm quân Trường Thành khổ hàn lương khả ai.
Biệt thời đề kiếm cứu biên khứ,
Di thử hổ văn kim bính cách xoa.
Trung hữu nhất song bạch vũ tiễn,
Tri thù kết võng sinh trần ai.
Tiễn không tại,
Nhân kim chiến tử bất phục hồi.
Bất nhẫn kiến thử vật,
Phần chi dĩ thành khôi.
Hoàng Hà phủng thổ thượng khả tái,
Bắc phong vũ tuyết hận nan tài.

*Bản dịch

Đuốc rồng soi hàn môn *
Ánh trời bừng ngày mới
Nhật nguyệt sao chiếu rọi chốn đây
Chỉ gió bắc trên cao thét gào lui tới
Núi Yên tuyết hoa hồ dệt chiếu
Phấp phới rụng trắng Hiên Viên đài
U Châu cô phụ năm ròng rã
Ngưng tiếng hát cười, nét mày chau
Tựa cửa ngóng chinh phu
Nhớ chàng lưu lạc Trường Thành ôi giá lạnh
Ngày ly biệt chàng vung gươm ải xa
Nay còn đây túi tên đã rỗng
Đâu còn mũi tên lông trắng
Chỉ thấy nhện giăng kết bụi trần
Tên còn đâu
Người nay vùi xác sa trường
Ngắm vật lòng chẳng cam
Đốt thành tro tàn cả
Hoàng Hà có lúc dòng đổi thay
Gió bắc hận tháng năm sao ngừng đây

(*) Trong câu này, tác giả dùng điển tích “chúc long” để ám chỉ ánh sáng của phương bắc xa xôi gió tuyết. Người Trung Quốc xưa quan niệm ở phương bắc lạnh giá không có ánh mặt trời soi sáng mà chỉ có loài chúc long thắp sáng.

Tranh minh họa: Y Xuy Ngũ Nguyệt

Thú thực là vẫn thích không khí trong Yên ca hành của Tào Phi hơn. Dịch bài thơ này là vì có một đoạn viết trong “Thiên địa phong trần” tập 2 có nhắc tới! 😇

Vạn vật lụi tàn - Lord Alfred Tennyson

blogpost thumb

Sông xanh hòa điệu thủy lưu

Dưới mắt tôi
Gió nam ùa lồng lộng

Cao trên trời
Lớp lớp mây bạc nổi trôi
Mỗi trái tim đập nhịp hoan ca sáng tháng Năm rực rỡ

Ngập tràn lạc thú:
Thế rồi vạn vật cũng lụi tàn
Suối sông ngừng chảy
Gió ngừng thổi
Mây ngừng trôi
Tim ngừng đập
Vì vạn vật tới lúc tàn lụi
Vạn vật lụi tàn
Mùa xuân nào quay lại
Ôi, hư vô!
Cái chết đợi rồi
Kìa! Bạn bè tôi xa xôi
Rượu và lạc thú
Chúng ta được gọi tới rồi lại ra đi
Nằm sâu, rất sâu
Chìm trong tịch mịch nơi phải vậy
Chỉ hân hoan đọng lại
Tiếng chim ngân vang
Không thể nào nghe
Cũng như gió thổi đồi cao.
Ôi chao bất hạnh!
Nghe này! Cái chết gọi mời
Ngay lúc này tôi đang nói
Quai hàm rụng rời
Má hồng phai nhạt
Tráng kiện nhược dần
Băng đá trộn cùng máu nóng
Mắt thì đông cứng
Bao lần chuông đã điểm tang
Này linh hồn lạc thú, biệt ly thôi.
Đất già nua
Chỉ một lần sinh
Ai cũng biết
Xa xưa.
Và đất già nua sẽ diệt
Hãy để gió ấm nồng băng qua
Và sóng xanh vỗ bờ
Đêm đêm lại ngày ngày
Ai nào thấy
Nơi vĩnh cửu.
Vạn vật đã sinh
Nào quay lại
Vạn vật lụi tàn cả thôi.

Nguyên tác:

ALL THINGS MUST DIE

Clearly the blue river chimes in its flowing

Under my eye;
Warmly and broadly the south winds are blowing

Over the sky.
One after another the white clouds are fleeting;
Every heart this May morning in joyance is beating

Full merrily;
Yet all things must die.
The stream will cease to flow;
The wind will cease to blow;
The clouds will cease to fleet;
The heart will cease to beat;
For all things must die.
All things must die.
Spring will come never more.
O, vanity!
Death waits at the door.
See! our friends are all forsaking
The wine and the merrymaking.
We are call’d–we must go.
Laid low, very low,
In the dark we must lie.
The merry glees are still;
The voice of the bird
Shall no more be heard,
Nor the wind on the hill.
O, misery!
Hark! death is calling
While I speak to ye,
The jaw is falling,
The red cheek paling,
The strong limbs failing;
Ice with the warm blood mixing;
The eyeballs fixing.
Nine times goes the passing bell:
Ye merry souls, farewell.
The old earth
Had a birth,
As all men know,
Long ago.
And the old earth must die.
So let the warm winds range,
And the blue wave beat the shore;
For even and morn
Ye will never see
Thro’ eternity.
All things were born.
Ye will come never more,
For all things must die.

 

Yên ca hành kỳ 1: Thu Phong - Tào Phi

blogpost thumb

Thấy bạn Nguyễn Hoàng Dương dịch cả chùm thơ Tào Tháo, mình cũng hứng chí dịch thơ Tào Phi. Người đời khen thơ Tào Thực, nhưng với mình tài thơ của Thực không thể so với Phi: So về tình không lai láng bằng, so về hình ảnh thơ không đẹp đẽ bằng, so về thủ pháp để lại cho đời sau cũng còn thua xa. Có lẽ người ta yêu thích thơ Tào Thực chỉ vì ông này thường ngày thích rượu chè với các văn nhân, chứ không đau đáu đại nghiệp như Tào Phi. “Tam quốc diễn nghĩa” chê bai Tào Phi và ghen tài đố kị với Tào Thực, nhưng xét về tài thì Phi hơn hẳn Thực cả về văn chương lẫn chính trị.

Bài Yên ca hành- Thu phong này là bài thơ thất ngôn đầu tiên trong lịch sử văn học Trung Quốc trung đại. Tản Đà dịch bài này sang tiếng Việt bằng thơ lục bát, đọc cũng hay, nhưng làm mất đi vị trí quan trọng trong lịch sử văn học của bài thơ. Mình bèn dịch lại, lúc dịch không khỏi không nhớ đến “Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn.

Thu phong tiêu sắt thiên khí lương,
Thảo mộc dao lạc lộ vi sương.
Quần yến từ quy nhạn Nam tường,
Niệm quân khách du tứ đoạn trường.
Khiểm khiểm tư quy luyến cố hương,
Quân hà yêm lưu ký tha phương.
Tiện thiếp cung cung thủ không phòng,
Ưu lai tư quân bất cảm vong.
Bất giác lệ hạ chiêm y thường,
Viện cầm minh huyền phát “Thanh thương”.
Đoản ca vi ngâm bất năng trường,
Minh nguyệt hạo hạo chiếu ngã sàng.
Tinh Hán tây lưu dạ vi ương,
Khiên Ngưu, Chức Nữ dao tương vọng,
Nhĩ độc hà cô hạn hà lương.

Dịch thơ:

Gió hiu thu lạnh khí bạc màu
Cỏ cây rơi rụng đọng sương thâu
Én kêu trời nam nhạn chao mình
Nhớ chàng rong ruổi lòng đứt đoạn
Dằng dặc lòng chàng nhớ quê xa
Cớ sao trôi nổi kiếp không nhà.
Thiếp phận đơn côi căn phòng trống
Buồn dâng nhung nhớ chẳng nguôi lòng
Nào biết lệ rơi đầm xiêm áo
Mượn khúc “Thanh thương” nguyện tỏ lòng
Đoản khúc sao thỏa lòng nhung nhớ
Vằng vặc đầu giường trăng vãi vương
Dòng Hán trời tây đêm còn tuôn
Chàng Ngưu nàng Chức còn xa ngái
Duy chàng thơ thẩn nhịp cầu chi?

Dịch nghĩa:
Gió thu hiu hiu lạnh khí trời bạc màu
Cây cỏ tiêu điều móc giăng thành màn sương
Chim én gọi bầy nhạn chao liệng về Nam
Nhớ chàng phương xa mà lòng thiếp đớn đau
Lòng chàng nhớ quê dằng dặc
Thế mà vẫn phải tha phương
Tiện thiếp một mình nơi phòng trống
Nỗi buồn nhớ chàng không thể nguôi ngoai
Nào biết lệ đã rơi ướt đầm xiêm áo
Chỉ biết mượn khúc Thanh Thương để tỏ nỗi lòng
Nhưng khúc nhạc ngắn quá không thể giãi bầy
Đầu giường thiếp trăng sáng vằng vặc
Dòng sông Hán trên trời còn đổ về tây thì đêm còn dài (*)
Sao Ngưu Lang và sao Chức Nữ còn chưa gặp nhau
Thế mà chàng vẫn đứng trên cầu một mình ngẫm ngợi điều gì?

(*) Trong câu này, khi Tào Phi nhắc đến “Tinh Hán” ý muốn nhắc đến Thiên Hà ám chỉ bầu trời đêm. Tuy nhiên, từ “Hán”, vừa có ý chỉ dòng sông Hán, vừa chỉ nhà Hán, lại vừa chỉ Thiên Hà, nên mình nghĩ rằng ở đây tác giả chơi chữ, vừa muốn nói đến nhà Hán, vừa muốn ám chỉ bầu trời đêm.

SONNET 070: VẺ ĐẸP ĐẮM SAY - WILLIAM SHAKESPEARE

blogpost thumb

 

Điều tiếng ấy nào phải đâu tội lỗi
Thị phi kia nào đâu lẽ công bằng
Cạm bẫy nhan sắc đều nghi hoặc
Cánh quạ kia chao liệng đắm trời xanh

Nàng tuyệt đẹp, và những lời phỉ báng
Càng tôn thêm vẻ tuyệt diệu muôn đời
Quằn quại nỗi đau, tình yêu say đắm
Kìa nàng hiển hiện tinh khôi.

Nàng đi qua những vất vả ngày xanh
Nào những tấn công, nào là chiến thắng
Những lời tụng ca đều dần vô nghĩa
Còn điều tiếng kia, nàng thây kệ lan truyền

Nếu nghi hoặc của người đời không vướng bận
Cả thế gian đều quy thuận dưới chân nàng

 

*Bản gốc:

That thou art blamed shall not be thy defect,
For slander’s mark was ever yet the fair;
The ornament of beauty is suspect,
A crow that flies in heaven’s sweetest air.

So thou be good, slander doth but approve
Thy worth the greater being wooed of time;
For canker vice the sweetest buds doth love,
And thou present’st a pure unstained prime.

Thou hast passed by the ambush of young days
Either not assailed, or victor being charged;
Yet this thy praise cannot be so thy praise,
To tie up envy, evermore enlarged,

If some suspect of ill masked not thy show,
Then thou alone kingdoms of hearts shouldst owe.

 

Hà  Thủy Nguyên dịch

Hoa hạ túy - Lý Thương Ẩn

blogpost thumb

Tầm phương bất giác tuý lưu hà,
Ỷ thụ trầm miên nhật dĩ tà.
Khách tán tửu tỉnh thâm dạ hậu,
Cánh trì hồng chúc thưởng tàn hoa.

*Bản dịch của mình:

Say ánh chiều tà bãi cỏ thơm
Tựa cây chìm bóng giấc hoàng hôn
Nửa đêm sực tỉnh người đâu tá
Đuốc rọi tàn hoa bước cô đơn.”
———
Đang viết Thiên địa phong trần Tập 2, chợt nổi hứng dịch bài thơ này!

 

Hà Thủy Nguyên dịch

HÃY ĐẾN TRÀN CUNG MÂY - OMAR KHAYYAM

blogpost thumb

(Chán quá, lôi thơ Omar Khayyam ra dịch)

Hãy đến, tràn cung mây, nơi ngọn lửa xuân tươi
Tấm áo choàng đông vương hận tuột rồi
Hỡi chim thời gian nào tung cánh
Và chim đà bay bổng trên trời

Bản tiếng Anh của Edward FitzGerald:

Come, fill the cup, and in the fire of spring
Your winter garment of repentance fling.
The bird of time has but a little way
To flutter – and the bird is on the wing.

Hà Thủy Nguyên dịch

Lời mưa - Walt Whitman

blogpost thumb

 

Mi là ai? tôi thốt lên dưới làn mưa mềm mại
Mà, lạ lùng sao, trả lời dùm tôi, như chuyển ngữ:
Tôi là Bài thơ của Đất, lời mưa cất tiếng,
Tôi bất diệt êm ái vùng lên từ đất và biển sâu không đáy
Hướng tới thiên đường, khởi nguyên, hư ảnh, dù đổi thay, đều thế cả
Tôi hạ phàm gột rửa những cơn gió nam khô hạn, những hạt nguyên tử, những phong trần thế gian,
Và thăm thẳm bên trong nơi chưa từng có tôi đều là những hạt giống, tiềm ẩn, chưa chào đời
Và mãi mãi, ngày lại đêm, tôi mang lại sự sống nơi cội nguồn chính tôi, thanh tẩy và tô điểm;
(Cho khúc ca, nảy lên nơi tôi khởi sinh, và thành toàn cuộc viễn du
Băn khoăn hay không băn khoăn, đều đáng khi tình yêu trở lại.)

Nguyên tác:
THE VOICE OF RAIN

And who art thou? said I to the soft-falling shower,
Which, strange to tell, gave me an answer, as here translated:
I am the Poem of Earth, said the voice of the rain,
Eternal I rise impalpable out of the land and the bottomless sea,
Upward to heaven, whence, vaguely form’d, altogether changed, and yet the same,
I descend to lave the drouths, atomies, dust-layers of the globe,
And all that in them without me were seeds only, latent, unborn;
And forever, by day and night, I give back life to my own origin, and make pure and beautify it;
(For song, issuing from its birth-place, after fulfilment, wandering,
Reck’d or unreck’d, duly with love returns.)

Trích tập thơ Leaves of Grass của Walt Whitman

Hà Thủy Nguyên dịch

Sống không phản kháng - Krishnamurti

blogpost thumb

Tôi thực sự không biết tại sao tôi ngồi trên bục này. Tôi cảm thấy tôi nên ngồi trên mặt đất cùng với tất cả những người còn lại, nhưng tôi đã ở đây rồi. Đó không phải là vị trí thẩm quyền. Tôi nghĩ rằng điều này cần phải được làm rõ ngay từ đầu. Tôi không ngồi đây với tư cách là Hội đồng Delphi, đặt ra giới luật hoặc cố gắng thuyết phục bạn nên có bất kỳ thái độ, hành động hoặc suy nghĩ nào. Nhưng vì tất cả chúng ta đều ở đây, và chúng ta đều khá nghiêm túc về vấn đề này, vì bạn đã gặp phải tất cả những rắc rối để dẫn đến bước này , và tất cả những gì sau đó, tôi nghĩ rằng, nếu chúng ta có thể, hãy tìm hiểu tại sao con người lại sống chính xác trong một thế giới bị cô lập, chia rẽ bởi niềm tin, thú vui, lo toan, lý tưởng, thuộc về các giáo phái và cộng đồng khác nhau – cộng sản, xã hội chủ nghĩa, Đảng Lao động, Kitô hữu chia thành vô số giáo phái, như người Ấn giáo, Phật tử cũng vậy – tại sao chúng ta sống trong sự chia rẽ, nhị nguyên, đi ngược lại mọi dạng tồn tại, chống đối lẫn nhau, để rồi xung đột và chiến tranh. Đây là hình mẫu của loài người trên khắp thế giới – nghệ sĩ, quân nhân, nhạc sĩ, khoa học gia, những con người được gọi là tôn giáo, doanh nhân…, những quốc tịch, định kiến chủng tộc, chúng ta sống theo cách này dường như từ thuở sơ khai. Và người ta liệu có tự hỏi rằng có phải luôn như thế này, bởi vì điều này không thể mang đến hòa bình, đây là cách con người tạo ra chiến tranh dù cho họ nói về tình yêu hay hòa bình trên trái đất hay gì đó khác.

Vì vậy, liệu có cơ hội cho những con người hoàn toàn nghiêm túc tìm kiếm lối sống bất nhị, không hệ tư tưởng hay lý thuyết, nhưng thực sự là một trạng thái bên ngoài ngôn ngữ dù trong hình thức hay bản chất, liệu bạn và tôi có thể sống một cuộc sống trong đó sự biện biệt tuyệt đối chấm dứt, không chỉ ở cấp độ lời nói mà còn ở các tầng sâu, trầm lắng trong tâm tưởng của chính mình. Vì lẽ tôi thấy nếu giữa chúng ta không thể tồn tại điều này thì chúng ta ắt phải gây chiến với nhau. Bạn cùng ý kiến, niềm tin và tín điều và nhận định của mình, còn tôi thì cũng có của tôi. Và thế là không có sự giao tiếp thực sự, không bao giờ có sự liên hệ với nhau. Đây chính xác là điều đang diễn ra trên khắp thế giới. Đạo sư cùng các đệ tử chân truyền của mình, các tông phái, cộng đồng, giáo phái với các giáo điều của mình, và tất thảy. Rồi chúng ta ở đây, đối mặt với những điều này, không phải chỉ ở mặt ý thức hệ, mà thực sự bởi vì đó là… một trong những vấn đề chính trị quan trọng, là sự thống nhất giữa người và người, của nhân loại – cho dù điều ấy có xảy đến hay không. Và liệu con người, các cá nhân, bạn và tôi, có thể sống một cuộc sống không đối lập hay không, khi các ý kiến khác nhau không chia rẽ con người, dù là niềm tin, nhận định hay sự phản kháng. Tôi không biết đã bao giờ bạn đặt câu hỏi đó cho mình chưa, và nếu có, nếu có, tôi tự hỏi người ta sẽ nói gì, trong thẳm sâu, không phải nằm ở ý nghĩa của lời nói hay trí tuệ, mà bằng trái tim với toàn bộ bản thân mình để trả lời câu hỏi như vậy.

Liệu sáng nay chúng ta có thể đi sâu hơn vào vấn đề này? Liệu chúng ta có thể tự do thăm hỏi nhau? Bởi vì giao tiếp và mối quan hệ luôn đi cùng nhau. Nếu không có giao tiếp thì không có mối quan hệ, không chỉ giữa bạn và người đang nói mà còn với mỗi người. Nếu chúng ta chỉ duy trì ở mức độ lời nói, ở cấp độ xã giao, sự giao tiếp sẽ rất hời hợt, không thể đi xa hơn được. Nhưng để liên đới ở cấp độ phi ngôn ngữ đòi hỏi phải chấm dứt sự tồn tại nhị nguyên – giữa “tôi” và “bạn”, “chúng ta” và “họ”, người Công giáo và người Tin Lành, vân vân và vân vân.

Sau khi đặt câu hỏi, chúng ta có thể đi sâu vào và chứng kiến những gì phi ngôn ngữ và truyền đạt ra ngoài về việc có hay không một cuộc sống không chia rẽ và phân tách. Để thực hiện được điều đó, chúng ta phải nhận thức về bản thân bởi vì chúng ta là những gì thế giới biểu hiện. Thế giới không tách rời khỏi chúng ta, cộng đồng hay tập thể không tách rời khỏi mỗi chúng ta – chúng ta là tập thể, chúng ta là cộng đồng, chúng ta là thế giới. Một lần nữa, hãy ở cấp độ vô ngôn. Chúng ta có thể tuyên bố “Chúng ta là thế giới”, nhưng để cảm được điều này, chúng ta phải thực sự cảm thấy rằng chúng ta hoàn toàn là một phần của toàn bộ. Để giải quyết câu hỏi này, chắc chắn người ta phải nhận thức được toàn bộ cấu trúc và bản chất của chính mình, không chỉ nội tại mà cả bên ngoài – ẩn bên trong mọi hình thức, mọi ngôn từ, và biết rằng ngôn từ có thể gây chia rẽ. (Âm thanh từ đâu vọng đến làm gián đoạn bài nói chuyện) Đây là lần đầu tiên chúng ta có máy bay chốn này. (Tạm ngừng)

Như chúng ta đã nói, thế giới phân chia: người Anh, người Pháp. Tư tưởng phân chia. Nhận định trong mọi hình thức đều mang đến chia rẽ, cô lập. Hiển nhiên là cả các đức tin và sự phân chia tôn giáo như Công giáo hay Tin Lành, hay những thứ khác. Bên ngoài là hình thức, ngôn từ, việc tôi ngồi cao thế này tạo ra phân chia. Và bên trong, dưới lớp da này, cũng có những dạng phân chia và chia tách khác nhau, mà bản chất là “tôi”, cái tôi, bản ngã, bị suy nghĩ đặt cạnh nhau. Qúa trình này, khi người ta phải nhận thức cả bên trong cũng như bên ngoài, liệu có thể được hiểu và giải trừ? Tôi nghĩ rằng đó là một trong những vấn đề chính yêu trên thế giới, không phải chỉ là vấn đề kinh tế, nếu bạn ở trên đất nước này, với an sinh xã hội, nhà nước phúc lợi và đủ thứ, con người vẫn bị phân chia theo các cách khác nhau qua các vấn đề cá nhân, sự cô lập, thú vui, sự độc quyền… Và để trở nên nhận biết về bản thân, cả ở bên ngoài hay bên trong, quá trình cô lập này, sự kháng cự này có thể thực sự được hóa giải. Bởi vì điều này rất phức tạp, bởi vì suy nghĩ là chia rẽ. Bản chất của suy nghĩ là biện biệt, là mang đến sự phân mảnh khi quan sát – khoảng cách được tạo ra bởi người quan sát và đối tượng. Có sự phân chia.. Và sự phân chia do suy nghĩ mang tới. Chúng ta không bàn điều này một cách giáo điều nhưng ai đó có thể quan sát nó, trải nghiệm nó, kiểm tra nó.

Và như chúng ta đã nói, không thể có sự giao tiếp chừng nào còn tồn tại phân chia. Và những gì chúng ta coi là tình yêu, nếu đó là sản phẩm của suy nghĩ hoặc bị bủa vây bởi suy nghĩ, thì tình yêu đó bị chia rẽ. Và khi ai đó nhận thức được tất cả những điều này, họ phải làm gì, làm thế nào để hành động? Phải có sự rèn luyện về tư duy, một cách logic, tổng thể, lành mạnh, toàn bộ, và chính suy nghĩ đó phải… hiển nhiên là không tạo ra phân chia.

Thế nên đó là một vấn đề. Và nếu có sự nhạy cảm, chính là một phần của tình yêu, thế rồi suy nghĩ không có nơi để tồn tại, biết rằng suy nghĩ mang tới vụn vỡ, chia tách , phân chia. Vậy nên một ai đó có thể sống trong một thế giới bị chia rẽ hoàn toàn và có được vinh quang trong sự chia rẽ ấy? Bằng cách nào một người có thể sống hoàn toàn trong sự hài hòa cả bên trong và bên ngoài? Khoảnh khắc chúng ta có một công thức, một hệ thống, thì chính thứ công thức và hệ thống ấy mang lại chia rẽ – kể cả của bạn hay của tôi. Thế thì câu hỏi là “bằng cách nào” không giải quyết được vấn đề của chúng ta. Nếu tôi nói với bản thân rằng, bằng cách nào tôi sống với sự nhạy cảm vĩ đại, mà bản chất trong đó có vẻ là tình yêu, và làm cách nào tôi hành động, làm điều gì đó mà không mang lại sự chia rẽ? – khi tôi hỏi bản thân tôi rằng tôi làm thế nào để thực hiện điều đó, thì “làm thế nào” ẩn chứa một phương pháp, đúng không, một hệ thống – bằng cách này bạn sẽ thực hiện được điều đó, bạn sẽ nhận thấy sự hòa hợp này, trạng thái bất nhị này. Nhưng đó là ngôn từ, “bằng cách nào” gây ra phân tách. Đó là, có một ý tưởng, một hệ tư tưởng, một công thức mà suy nghĩ đã trở nên hài hòa: sống không phân tách – đó là thành tựu cuối cùng, và có sự phân chia giữa điều ấy và trạng thái thực tế của tôi. Và “bằng cách nào” là trung gian. Do đó “bằng cách nào” ngay lập tức sinh ra phân tách, chia rẽ giữa “nên là gì” và “ là gì”. Do đó, nếu ai đó có thể loại bỏ hoàn toàn “bằng cách nào”, tức là phương pháp, hệ thống, thực hành, thì sẽ không có hệ tư tưởng nào nữa cả, tức là “nên là gì”. Vậy thì sẽ chỉ còn “là gì” và không gì khác. “Là gì” là cách chúng ta sống, cảm nhận, suy nghĩ, hành động, yêu đương, là cách thức phân tách và chia rẽ. Đó là thực tế. Bây giờ bằng cách nào mà thực tế bị chuyển đổi thành điều gì đó bất nhị?

Tôi xin lỗi có quá nhiều ruồi. Tôi mừng rằng các bạn cũng thấy phiền toái về điều này.

Liệu tôi có thể quan sát cuộc đời nhị nguyên, chia rẽ và biệt lập của tôi? Dù tôi có thể nói nhiều đến thế nào với vợ tôi rồi “Tôi yêu em”,… thế thì tôi vẫn đang trong sự phân tách, bởi vì tôi ham muốn, tham lam, ghen tuông, đầy mâu thuẫn, thù ghét và những gì sôi sục trong tôi. Và đó là thực tế. Liệu tôi có thể chứng kiến… liệu tâm trí có thể chứng kiến thực tế bất nhị này? – tôi như người quan sát cứ thế chứng kiến dù cho có gì đó đã chia tách khỏi tôi. Liệu tôi có thể chứng kiến mà không phân tách? Liệu tôi có thể chứng kiến… liệu tâm thức có thể chứng kiến, không phải như người quan sát, không phải như một thực thể mong muốn thay đổi và biến chuyển những gì nó quan sát, mà chứng kiến không cần người quan sát. Liệu tôi có thể… mở rộng cái nhìn của mình – tâm trí, thứ muốn được gọi là tâm trí của tôi ấy – liệu có thể chứng kiến mà không kết luận ngoại trừ việc quan sát. Chỉ quan sát thực tế, không phải những gì suy nghĩ nói về thực tế – những tư tưởng, nhận định, định kiến, phán xét, như thích và không thích, cảm giác thất vọng, tuyệt vọng khi bạn chứng kiến thực tế – chỉ quan sát mà không suy nghĩ phản ứng lại những gì đã thấy. Tôi nghĩ rằng đó là nhận thức thực sự: quan sát với sự nhạy cảm trong toàn bộ não trạng, vốn bị ảnh hưởng và quá tải bởi những nhận định, ý tưởng, vui thú, hi vọng và vô vàn thứ khác của chính nó, để quan sát với bộ não hoàn toàn yên tĩnh và vẫn sống động với những gì đang quan sát. Tôi nói mọi người có thấy hiểu rõ hơn không hay mọi thứ quá phức tạp?

Hãy xem này, các ngài: chúng ta quan sát những gì diễn ra trên thế giới, bên ngoài – chia rẽ, phân tách, phân chia tôn giáo, chính trị, cuộc chiến này tiếp diễn suốt dòng thời gian, không chỉ giữa hai cá nhân, mà còn khắp thế giới. Và một người muốn sống hoàn toàn bình an vì họ nhận ra rằng mâu thuẫn dù ở bất cứ hình thức nào đều không mang tính sáng tạo và không phải là nền tảng mà điều thiện nở hoa. Và thế giới này là một phần của tôi. Tôi là thế giới, không phải chỉ là bằng lời nói mà trên thực tế là nội tại. Tôi đã tạo ra thế giới này, thế giới này tạo nên tôi. Tôi là một phần của xã hội này và xã hội này do tôi định đoạt. Và liệu có thể sống một cuộc sống với hành động, suy nghĩ, cảm nhận không chỉ bên ngoài mà còn sâu thẳm bên trong mà không có sự biệt lập nào? Bởi vì duy chỉ có thế mới sống bình yên. Không phải thực vật, mà còn cao hơn thế, sống động, tỉnh táo, nhạy cảm.

Theo cách hành động nào thì sẽ không có chia rẽ? Đối xử, trò chuyện, sử dụng ngôn từ không tạo ra sự chia rẽ giữa bạn và tôi, và trong bản thân mình. Chắc chắn rằng chỉ khi nhận thức toàn triệt, hoàn toàn nhạy cảm, không chỉ những gì diễn ra nội tại mà cả bên ngoài, cách phát ngôn, ngôn từ, cử chỉ, hành động. Nhận thức đòi hỏi rất nhiều năng lượng. Và liệu có ai có năng lượng đó?

Điều này có nghĩa là, bằng cách nào điều này có thể – lại “bằng cách nào”, tôi xin lỗi, tôi rút lại từ đó. Ai đó nhận ra rằng một lượng lớn năng lượng là cần thiết để cảnh tỉnh, nhận thức, nhạy cảm để hiểu sự phân chia này, đời sống nhị nguyên đầy phản kháng này. Để cảnh tỉnh cần quan sát rất nhiều, và điều đó có nghĩa là năng lượng, cả nặng lượng thể chất và suy nghĩ, nặng lượng của sự nhạy cảm lớn. Bằng cách nào mà toàn bộ năng lượng này có được, biết rằng chúng ta hoang phí năng lượng trong những cuộc chuyện trò vô dụng, hưởng thụ nhiều loại ảo ảnh, tình dục và nhiều thứ khác, năng lượng này bị tiêu xài vào ham muốn, đấu tranh, nhiều dạng nhị nguyên khác. Và xã hội xây đắp con đường của đấu tranh và ham muốn.

Liệu tâm trí, trí não của chúng ta cũng thế, liệu có phải toàn bộ cấu trúc này, thứ được gọi là “tôi” nhận thức được những điều này, từng chút từng chút một, bị vỡ thành từng mảnh? Bạn biết đấy, đó là thiền định đích thực – tôi hơi ngại giới thiệu từ này. Do đó tâm trí nhận thức bản thân và không tạo nên người quan sát, thứ ở bên ngoài chứng kiến bên trong. Điều này chỉ có thể khi không có hệ tư tưởng, không mong muốn kết quả. Đó là không có cảm nhận gì về thời gian. Chỉ có thời gian cũng giống như tiến hóa khi cảm nhận được sự khác biệt giữa “là gì” và “nên là gì”. Và toàn bộ sự nỗ lực, sự căng thẳng và đấu tranh dùng để đạt được “nên là gì”, thật là sự lãng phí năng lượng. Để nhận thức được điều này, để nhận thức được sự thật này, một sự thật mà chính suy nghĩ, khi không biết nó nên làm gì với “là gì”, một thứ xấu, đẹp hay thế nào đi chăng nữa, một thứ “là gì” bên trong chính mình, suy nghĩ không thể vượt qua nó, thế nên nó đã vẽ ra ý tưởng “nên là gì” với hi vọng bằng cách đó có thể vượt qua “là gì”. Và để vượt qua “là gì” bạn phải có thời gian, dần dần, chậm rãi, ngày qua ngày.

Cho nên đây là con đường suy nghĩ mang đến sự phân chia, chia tách. Ngay lúc này, hãy quan sát điều đó, nhận thức về nó, không phải những gì bạn nên làm, không phải bằng cách nào để vượt qua, mà chỉ bởi nhận thức hoàn toàn với độ nhạy cảm cao. Tôi nghĩ rằng đó là tất cả những gì… tâm trí có thể làm, để thực sự nhận thức về quá trình nhị nguyên diễn ra trong dòng thời gian, và nhận thức về tình trạng nhị nguyên và phân chia đã đi vào tồn tại, rồi quan sát, rồi cảnh tỉnh, nhạy cảm chỉ với “là gì” và không gì khác. Nếu có ghét bỏ, giận dữ, tham lam, cứ nhận thức, đừng cố chuyển hóa. Bởi vì khi bạn cố thay đổi ghét bỏ, lo lắng, sợ hãi thế thì trong đó đã có “tôi” người đang thay đổi nó. Nhưng nếu ai đó có thể quan sát ghét bỏ hay lo lắng, sợ hãi, mà không có người quan sát, chỉ quan sát thôi, thì toàn bộ cảm giác chia rẽ về thời gian, nỗ lực, thành quả, đều dẫn đến một kết cục, và vì vậy họ có thể sống trong thế giới nội tại và bên ngoài trong trạng thái bất nhị… trong một trạng thái bất nhị không phản kháng. Vậy là tôi đã nói xong rồi. Giờ chúng ta hãy tiếp tục.

Liệu chúng ta có thể trao đổi thêm về điều này, dù sẽ có buổi trao đổi vào thứ 3 và thứ 5 – liệu chúng ta có thể đi sâu hơn bằng cách đặt ra các câu hỏi? Không phải tôi đang cho phép, mặc dù tôi đang ngồi ở đây, thật không may chút nào.

Người hỏi: Một trong những phức tạp trong dòng suy nghĩ mà ông đã theo đuổi, với tôi đó là nếu ông chứng kiến thế giới như nó tồn tại hôm nay, và ông muốn sống trong bình yên nội tại, và ông cảm thấy mình là một phần của xã hội mà ông chịu trách nhiệm vì những gì đang diễn ra trên thế giới, bằng cách nào ông có thể sống yên bình hay một mức độ hạnh phúc nào đó, mà vẫn biết về những điều khủng khiếp và đau lòng đang diễn ra trên thế giới ngày nay?

Krishnamurti: Tôi hi vọng rằng các bạn đã lắng nghe được câu hỏi. Nếu tôi chịu trách nhiệm cho toàn bộ mớ lộn xộn này, và tôi là – cuộc chiến tranh Việt Nam, Trung Đông, bạo loạn chủng tộc, định kiến – Tôi chịu trách nhiệm vì điều đó, bởi vì tôi là một phần của tất thảy, tôi góp phần vào đó, tôi tạo ra điều đó bởi chủ nghĩa quốc quyền nơi tôi – và cả những thứ khác nữa. Và câu hỏi là, bằng cách nào tôi có thể sống bình yên khi tôi mang tới toàn bộ mớ lộn xộn này, những sai lầm quan tôi, vì những gì tôi phải chịu trách nhiệm. Đó có phải câu hỏi mà bạn muốn hỏi không?

Người hỏi: Vâng, đúng vậy.

Krishnamurti: Tôi phải thay đổi bản thân mình, có vậy thôi. Tôi phải thay đổi bản thân mình toàn bộ và triệt để. Liệu có thể không? Khi tôi coi bản thân mình là người Anh, người Hindu hay gì đó khác, hay thuộc về một nhóm người nào đó, một giáo phái, đức tin, nhận thức hay hệ tư tưởng, tôi còn góp phần vào sự hỗn loạn này, vào tất cả những gì điên rồ quanh tôi. Và liệu tôi có thể vứt bỏ tất cả những nhận định, định kiến, niềm tin, tín điều hoàn toàn khỏi mình? Vứt bỏ mà không cần nỗ lực, bởi vì tôi tạo ra nỗi lực tức là tôi lại bước vào thế giới nhị nguyên. Thế thì liệu tôi có thể hoàn toàn thôi là một người Hindu, không chỉ ở hình thức mà bản chất? Bên ngoài cũng như bên trong cuối cùng đều chấm dứt mọi ý thức về đấu tranh, sự phân chia thứ bậc trong cuộc sống, so sánh tôi với người khác, những người thông minh hơn, giàu có hơn, tài giỏi hơn tôi. Một lần nữa xin nhắc lại không được phép có nỗ lực. Nếu điều này không được thực hiện, tôi là một phần của hỗn độn. Và điều này thay đổi không chỉ là vấn đề thời gian, nó phải diễn ra ngay lúc này, ngay lập tức. Nếu tôi nói “Tôi sẽ dần thay đổi”, thế thì tôi sẽ lại rơi vào bẫy phân chia.

Liệu tôi có thể, liệu tâm trí, là tâm trí có thể quan sát thực tế rằng tôi đang tranh đấu, muốn được lấp đầy bằng bực dọc, sợ hãi, lo lắng, hối hận và tuyệt vọng và gì đó nữa, quan sát nó, nhìn nó, như một mối nguy? Và khi một người nhìn thấy gì đó nguy hiểm, họ phản ứng tức thì. Người đó không hề nói khi tiến đến ranh giới: “Ồ, tôi sẽ đi từ tốn. Tôi sẽ nghĩ về điều đó” – bạn chỉ rời khỏi đó. Thế là có phải chúng ta đã thấy sự nguy hiểm phi ngôn ngữ, nhưng trên thực thế lại là sự nguy hiểm của phân chia? Bạn thuộc về điều gì đó và tôi lại thuộc về thứ khác, với niềm tin của bạn, với sự vui thú, đau buồn, lo toan riêng biệt của bạn và tôi cũng có của tôi. Khi những điều này còn tồn tại, chúng ta vẫn chỉ sống trong hỗn độn.

Vậy câu hỏi là, sống trong một thế giới điên rồ, đáng buồn và đáng thất vọng, cùng với sự nở bừng của phúc lạc và vẻ đẹp của một đám mây hay một bông hoa, điều này liệu có thể… liệu có thể có sự thay đổi hoàn toàn?

Người hỏi: Thưa ngài, yêu cầu chúng tôi nhận thức về “là gì” dường như là quá nhiều. Nỗi đau của “là gì” có vẻ như còn nhiều hơn những gì chúng tôi có thể chịu đựng suốt toàn bộ thời gian mà không cố thoát khỏi nó. Dường như quá nhiều thứ phải xử lý.

Krishnamurti: Để nhận diện “là gì” đúng là quá nhiều, mà không cần phải cố thoát khỏi nó. Chúng ta không thể chịu đựng điều này. Chúng ta có thể bóng gió về “là gì” và thế đã là quá nhiều. Cho nên chúng ta cần bỏ qua sự chú ý vào thời gian mà thỉnh thoảng chẳng cần để ý quá, đúng không. Nếu tôi không thể chịu đựng được điều gì thì tôi phải bỏ nó lại một thời gian. Cứ để nó lại đó, nghỉ ngơi, nhưng trong suốt thời gian còn lại hãy chú ý vào sự lãng tâm của bạn. Bạn hiểu những gì tôi muốn nói chứ? Tôi – chứng kiến: tôi đang ghen tị. Chúng ta sẽ thấy điều đó rất phổ biến. Tôi dành tất cả sự chú ý của mình cho nó, xem những gì liên quan đến nó – ghét, sợ hãi, chiếm hữu, thống trị, cô lập, cô đơn, thiếu bạn đồng hành, tất cả những điều đó – ghen tị – và tôi quan sát điều này trong bất nhị. Nếu tôi dành toàn bộ sự chú ý vào đó, tôi đã hiểu nó hoàn toàn, do đó không cần phải nghỉ ngơi. Tôi đã hoàn toàn hiểu sự nguy hiểm ấy, do đó tôi đã rời xa nó. Chỉ đến khi tôi không tập trung toàn bộ mà chỉ chú ý chút ít thì tôi mới cảm thấy mệt mỏi. Sau rồi, tôi nói “Chúa tể của tôi, tôi phải nghỉ ngơi một chút để thoát khỏi công việc chết tiệt này”. Và vì vậy tôi trốn khỏi nó. Vì vậy, biết rằng ta đã trốn khỏi nó, chúng ta đang gợi ý rằng biết về cách bạn chạy trốn, biết về chạy trốn có sự lãng tâm, nhận thức về sự lãng tâm. Hãy bỏ sự ghen tị của bạn lại nhưng nhận thức về sự lãng tâm trong khi bạn bỏ chạy. Để rồi sự lãng tâm trở thành chú tâm. Điều này sẽ mài sắc tâm trí của bạn.

Hà Thủy Nguyên dịch

Nguồn bài: https://jkrishnamurti.org/content/living-without-resistance

Tôi (thứ gọi là tâm trí của tôi) chọn cách dịch thoát ý bài nói chuyện này của Krishnamurti (có thể chỉ là tâm trí của ông ấy chứ không phải ông ấy), bởi vì đó là một bài nói chuyện, nên có nhiều chỗ bị sai ngữ pháp và diễn đạt không đầy đủ vì ảnh hưởng của văn phong nói. Rất mong các bạn ( thực ra là tâm trí của các bạn) góp ý để tránh trường hợp (tâm trí) tôi hiểu sai điều (tâm trí) Krishnamurti muốn nói, ông ấy không thích điều đó.

Ngỡ ngàng khoái lạc, vội vàng như gió - William Wordsworth

blogpost thumb

Ngỡ ngàng khoái lạc – vội vàng như Gió

Tôi loay hoay chia sẻ hân hoan này – Ồ! Cùng ai đây

Mà Người, đã chôn sâu trong Hầm mộ lặng im,

Nỗi đau ấy nào đâu phai mờ được?

Tình yêu, tình yêu chân thành, hồi tưởng trong tâm tôi –

Nhưng làm sao tôi quên được? Bằng sức mạnh nào,

Dù chỉ trong giây phút thôi,

Tôi đã tự huyễn trong mù quáng

Trước mất mát đau thương? – Ảo tượng quay về

Là nỗi đau tột cùng làm sầu muộn khôn nguôi,

Giữ lại một, chỉ một thôi, khi tôi tuyệt vọng

Gia tài quý nhất trong tim tôi đâu còn nữa ;

Dù lúc này đây, hay những năm tháng tới

Lưu lại nơi đáy mắt tôi khuôn mặt thiên đường.

 

Người dịch: Hà Thủy Nguyên

 

Nguyên tác:

Surprised by joy—impatient as the Wind

I turned to share the transport—Oh! with whom

But Thee, deep buried in the silent Tomb,

That spot which no vicissitude can find?

Love, faithful love, recalled thee to my mind—

But how could I forget thee? Through what power,

Even for the least division of an hour,

Have I been so beguiled as to be blind

To my most grievous loss?—That thought’s return

Was the worst pang that sorrow ever bore,

Save one, one only, when I stood forlorn,

Knowing my heart’s best treasure was no more;

That neither present time, nor years unborn

Could to my sight that heavenly face restore.