Hệ thống thờ cúng thần của người Việt

blogpost thumb

I – Khái niệm “Thần” trong văn hóa người Việt

“Thần” là một khái niệm rất khó định nghĩa cho dù ở bất cứ nền văn hóa nào. Một cách mơ hồ, ta có thể hiểu “thần” như một lực lượng siêu nhiên ở bên ngoài đời sống hiện hữu của con người nhưng vẫn có thể tác động đến số phận của mỗi cá nhân. Con người một các tự nhiên, đã sớm ý thức được cái chết của mình và sợ hãi tới mức lo lắng về tính chất hư vô của cái chết, và không chỉ có thế, họ tìm mọi cách để giữ gìn đời sống an toàn mà họ đang sở hữu với những người họ yêu thương, những gì họ sở hữu… Thế nhưng theo quy luật tự nhiên, không có gì là vĩnh cửu, con người phải đối mặt với sự mất mát ngoài tầm kiểm soát của bản thân. Nguyên nhân của sự mất mát cho dù là khách quan hay chủ quan thì cũng dễ khiến con người cảm nhận thấy một điều gì đó vô hình chi phối số phận của bản thân. Thế giới vô hình là bí ẩn đối với con người và con người diễn giải thế giới vô hình theo các cách khác nhau, một trong các cách ấy là do sự chi phối của thần linh.

Khi tìm hiểu về thờ cúng thần của một tộc người hay của một nền văn hóa, đương nhiên ta sẽ phải đối mặt với một nan đề khó giải, đó là tâm thức của người nguyên thủy. Tại sao người nguyên thủy lại thờ cúng thần? Thái độ của họ đối với vị thần của mình như thế nào? Sự phân biệt chính tà dựa trên cơ sở nào? Nguồn gốc của các vị thần mà họ tôn thờ ra sao?… Một loạt các câu hỏi được đặt ra mà với mỗi câu trong số đó, ta chỉ có thể tiệm cận đáp án, chỉ có thể đưa ra các giả thuyết chứ gần như không thể nhìn ra sự thật. Đáp án của chúng, thôi thì cũng chỉ có thể bí ẩn như thế giới vô hình kia, nhưng những con người tò mò lại không thể ngừng kiếm tìm lời giải. Bởi thế, ở đây tôi chỉ có thể mô tả về thế giới thần trong tâm thức của người Việt dựa trên những biểu hiện bề mặt thờ cúng, truyện dân gian được truyền lại, và những ảnh hưởng văn hóa của các vị thần linh trong đời sống tinh thần người Việt. Chỉ riêng vậy thôi cũng đã là một cuộc phiêu lưu lớn vào thế giới đa thần của một quốc gia đa tộc người và hỗn hợp nhiều luồng văn hóa.

Như đã nói, khái niệm “thần” vốn dĩ rất khó định nghĩa bởi yếu tố huyền bí của nó, thế nên ta chỉ có thể chấp nhận một định nghĩa sơ sài, chung chung. Theo như Từ Điển Tiếng Việt (Giáo sư Hoàng Phê, Trung tâm Từ Điển học), “Thần”“lực lượng siêu tự nhiên  được tôn thờ, coi là linh thiêng, có sức mạnh và phép lạ phi thường, có thể gây họa hoặc làm phúc cho người đời, theo quan niệm mê tín hoặc theo quan niệm tôn giáo”(tr1450, bản in 2015). Thật khó để nhận ra từ trên cơ sở nào Trung tâm Từ Điển học đưa ra định nghĩa này, bởi xưa nay các nhà làm từ điển ở Việt Nam chỉ quan tâm đến định nghĩa của từ trong cách hiểu của thời đại mình chứ không quan tâm đến từ nguyên của một khái niệm.

Một cách hiểu tương tự với “thần” mà giáo sư Hoàng Phê định nghĩa ta có thể tìm thấy trong khái niệm của văn hóa Mường – Thái. Khái niệm “ma” của người Mường vừa giống với cách hiểu của chúng ta, lại vừa khác. Người Mường dùng “ma” để gọi tất cả linh hồn của người chết cho dù họ ác hay thiện, họ có vai trò phù trợ hay gây họa cho con người. Thế giới của các ma sống được gọi là “Mường Ma”, một thế giới song song và đối xứng với Mường Người, cả hai đều nằm dưới sự chi phối của Mường Trời  và Mường Nước (tr33,34 – Tín ngưỡng dân gian của người Mường ở Hòa Bình, tác giả Lương Quỳnh Khuê, NXB Văn hóa dân tộc). Người Thái cũng mô tả thế giới tương tự người Mường, họ gọi linh hồn người chết là “phi”;  tổ tiên thường được gọi là « phi hườn », trong đó những người được làm đám ma to để lên trời được gọi là “đắm trào”, có vai trò phù hộ cho con cháu và phục vụ “then luông” tức vua trời:

« Hồn chủ ông mo đưa về ngự ở ban thờ

Hồn thứ ông mo mới đưa về ngự ở nhà mồ

Hồn chót ông mo dẫn lên mường trời cùng với đắm trào ».

(Trích sử thi “Ẳm ệt luông”)

Như vậy, trong quan niệm của người Mường và người Thái, những tổ tiên có cơ hội lên “mường trời” và có khả năng phù trợ người đang sống thì đều đóng vai trò như những vị thần. Ngoài ra, trên “mường trời” cũng có rất nhiều các vị thần thuộc nhóm sáng thế khác và thường gắn với các hiện tượng tự nhiên. Văn hóa thờ cúng của nhóm Mường Thái là điển hình cho mô tuýp thờ cúng của người Việt cổ, thế nên dù cho sau này người Việt cổ đã tiếp thu các lớp văn hóa nào trong dòng lịch sử thì vũ trụ luận của người Mường Thái vẫn đóng vai trò cốt lõi của văn hóa tâm linh Việt.

“Thần”, đương nhiên là một từ vay mượn từ tiếng Hán. Trong tiếng Hán, “Thần” cũng là một khái niệm không rõ ràng. “Thần” vừa để ám chỉ một đấng siêu nhiên, lại vừa ám chỉ sự huyền diệu và phi thường, ở cả hai nghĩa đó “thần” đều vô hình không thể nhận biết nhưng lại chi phối thế giới hữu hình. Chữ “Thần” 神 được ghép bởi chữ Kỳ 示 và chữ Thân 申. “Kỳ” là cách để gọi các vị thần đất có vai trò mách bảo cho con người, còn chữ “Thân” có nghĩa là nói hay trình bày. Thông qua chiết tự  ta có thể hiểu “thần” đóng vai trò như một thế lực siêu nhiên đưa ra các mách bảo cho thế giới con người. Khái niệm “thần” được dùng từ bao giờ không rõ, nhưng ta có thể thấy có một loạt các khái niệm tương đương với “thần” như “đế” 帝 hay “quân” 君 hay “vương” 王 – những từ để chỉ các vị vua ở thế giới con người. Có khả năng rằng, đây đều là các nhân thần được một triều đình hoặc dân chúng yêu quý và trọng vọng. Trong khi đó, “thần” hay “kỳ” lại có nghĩa rộng hơn, bao hàm các linh hồn (bất kể người hay vật) có quyền năng chi phối đời sống con người. Quan niệm này của người Trung Quốc cổ đại, ta có thể thấy là tương đồng với quan niệm của người Mường Thái. Do đó, trong quá trình văn hóa  Trung Quốc ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam trong suốt hơn 2000 năm qua, thế giới của các âm hồn và các vị thần dường như không có quá nhiều sự khác biệt.

Với cách hiểu mơ hồ về Thần như vậy, người Việt dễ dàng “thuận miệng” quy kết bất cứ hiện tượng siêu nhiên nào cũng đều liên quan đến các vị thần, và ngay cả các hồn ma vất vưởng cũng dễ dàng được phong thần bởi dân gian. Không chỉ những linh hồn tổ tiên có công lao hay các vị thần sáng tạo được kể lại trong thần thoại và sử thi được gọi là thần, mà ngay cả linh hồn của các vật (như cây đa, tảng đá, con hổ, con chó…) hay các linh hồn chết oan (như trường hợp Tứ vị thánh nương, linh hồn Cô Bé – Cậu Bé…) cũng đều có thể được gọi là thần. Đó là một thế giới hỗn tạp khó có thể phân định, dung chứa nhiều vị thần từ nhiều nền văn hóa khác nhau, từ các vị thần địa phương, các vị tổ thần của các tộc; cho đến ảnh hưởng từ Đạo giáo, Nho giáo, Phật giáo; rồi đến Chăm pa, Chân Lạp… Số lượng các vị thần không ngừng tăng lên theo sự giao hòa phức tạp giữa các lớp văn hóa ảnh hưởng tới Việt Nam và đương nhiên nghi lễ cũng đa dạng không kém.

II –  Các nghi lễ thờ cúng Thần của người Việt

…dường như trong thế giới cổ đại người ta tin rằng chỉ bằng cách tham dự vào cuộc sống thần thánh này thì họ mới trở thành con người đích thực. Cuộc sống trần thế mong manh một cách hiển nhiên và bị phủ bóng bởi cái chết nhưng nếu con người bắt chước những hành động của các vị thần, họ hẳn sẽ được dự phần vòa sức mạnh và hiệu năng của các thần ở một mức độ nào đó.”(“Lịch sử Thượng Đế” – Karen Amstrong)

Nghi lễ – đó là một trong các cách con người tham dự vào cuộc sống thần thánh. Mỗi hệ thống thờ cúng thần, dù là tôn giáo lớn hay các tín ngưỡng nhỏ sơ khai cũng đều có các nghi lễ riêng được thực hiện bởi những con người sùng tín. Sự đa dạng trong nghi lễ thờ cúng thần của người Việt cũng tỉ lệ thuận với sự phong phú của các loại thần thuộc nhiều lớp văn hóa khác nhau, và thậm chí còn mang tính thời đại. Tuy nhiên, có thể phân loại các nghi lễ thờ cúng thần theo các mô hình sau:

Nhập đồng

“Nhập đồng” ở hình thức nguyên sơ, là một hình thức nghi lễ đưa âm hồn vào cơ thể người sống để thông qua cơ thể người sống truyền đạt ý nguyện hoặc chỉ dẫn nào đó. Âm hồn có thể là thần hoặc quỷ, điều này không dễ để phân biệt và còn tùy thuộc và quan niệm của mỗi người. Tính xác thực của hiện tượng này cũng là điều khiến nhiều nhà khoa học tranh cãi. Đây là hình thức nghi lễ nguyên sơ nhất của nhân loại còn biết đến ngày nay còn được gọi là “shaman giáo” mà ta cũng dễ dàng tìm thấy trong văn hóa phù thủy của phương Tây hay ở bất kỳ bộ tộc nào. Ở Trung Quốc, hình thức nhập đồng được gọi là “vu thuật”. Giữa vụ thuật, shaman giáo và nhập đồng đều có các nghi lễ chung bao gồm:

  • Ăn mặc theo lối của các vị thần
  • Nhảy múa bắt chước hành vi của các thần
  • Tụng đọc các bài thơ hoặc khúc hát ca ngợi công đức các vị thần hoặc các câu chú liên quan đến thần
  • Để các vị thần nhập vào người lên đồng và thông qua cơ thể của đồng để thần đưa ra chỉ dẫn cho con người.
Image result for hầu đồng
Nhập đồng trong cúng tế thần. Nguồn ảnh: Tạp chí truyền thống và phát triển

Đó là hình thức sơ khai. Tinh vi hơn, các “vu sư” hay “thầy mo” hoặc “thầy đồng” có thể có năng lực giao tiếp với các cõi giới khác nhau. Họ không cần biến cơ thể của mình thành công cụ “xuống đồng” cho các thần nữa, mà đã trở thành sứ giả của thế giới bên kia. Những vị sứ giả này khá tương đồng với các vị tiên tri trong Thiên Chúa giáo hay thủ lĩnh Muhammed của Islam hay các vị đạo sư khai tông lập phái của Đạo giáo như Trương Đạo Lăng, Vu Cát, Trương Giác…

Nhập đồng của người Việt đương nhiên có từ xa xưa. Truyền thuyết về Cao Biền được ghi chép lại trong “Lĩnh Nam chích quái” có nhắc đến việc Cao Biền thường hô thần của nước Việt nhập đồng rồi dùng kiếm để chém thần. Qua lời kể này, ta có thể phần nào mường tượng rằng việc nhập đồng là hiện tượng tâm linh phổ quát đối với Trung Quốc và Việt Nam trong thời Bắc thuộc. Do lớp ảnh hưởng của Đạo giáo từ Trung Quốc, hình thức giao tiếp với thần thánh càng phổ biến hơn trong suốt dòng lịch sử của người Việt. Sự giao tiếp ấy được ghi lại qua các sự tích liên quan đến thần Đồng Cổ (thời Lý) hay về thần của đình Ứng Thiên (thời Lý). Trong “Truyền kỳ tân phả” (Đoàn Thị Điểm), “Truyền kỳ mạn lục” (Nguyễn Dữ) hay “Tang thương ngẫu lục” (Phạm Đình Hổ & Nguyễn Án), sự giao tiếp qua lại giữa hai cõi âm dương, giữa thần và người càng phổ biến hơn và có màu sắc tiên đạo của Trung Quốc. Ta có thể thấy thông qua các truyện về Liễu Hạnh công chúa hay Từ Thức gặp tiên hay chuyện nàng Vũ Nương…

Hình thức nhập đồng phổ biến hiện nay ở Việt Nam là hình thức nguyên sơ có từ thời nguyên thủy, có trong tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng thờ Bà Chúa Kho và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần. Sự giao tiếp với thế giới bên kia cũng tồn tại nhưng không có tính tổ chức như thầy mo trong tín ngưỡng Mường Thái cổ mà thường chỉ là các cá nhân tự nhận mình có năng lực này. Họ có thực có năng lực giao tiếp với thế giới bên kia hay không thì khó có thể xét đoán, ta chỉ có thể đánh giá rằng có hiện tượng này đang tồn tại trong xã hội.

Cúng tế và cầu nguyện

Cúng tế và cầu nguyện là một cách thức tham dự vào thế giới thần linh. Nếu “nhập đồng” là để thần linh đưa ra các mách bảo cho con người thì cúng tế và cầu nguyện là cách để con người gửi các thông điệp của mình cho thần linh. Cúng tế vừa là một phần của nhập đồng vừa tách biệt, tùy các mục đích của nghi lễ.

Trong phong tục của người dân tộc thiểu số miền bắc như Mường, Thái đều có thầy mo để thực hiện các nghi thức thờ cúng vào các dịp lễ hội hoặc lễ tang ma, cưới hỏi, trừ tà… Họ giữ quy trình cúng tế và hướng dẫn người dân thực hiện. Tương tự với thầy mo là thầy tào trong truyền thống người Dao, Tày, Nùng. Thầy mo và thầy tào đều đóng vai trò cao trong xã hội của các dân tộc này, mọi lời nói của họ đều được tin cậy vì người dân cho rằng họ có kiến thức và hiểu biết về truyền thống cha ông để lại. Một mô hình tương tự là thầy cúng trong các làng của người Việt. Mỗi làng đều có một thầy cúng hành nghề cúng thuê cho các nhà. Những người cúng thuê này có thể học nghề cúng theo nhiều hệ thống khác nhau như Nho giáo, Đạo giáo, đạo Mẫu, hoặc truyền thống địa phương… Mặc dù khác nhau về nghi lễ nhưng về căn bản tế lễ và cầu nguyện của người Việt có mấy điểm chung như sau:

Image result for đền Qủa Sơn
Cúng tế và cầu nguyện tại đền Qủa Sơn, Đô Lương, Nghệ An

Cúng tế và cầu nguyện để mong được lợi cho bản thân

Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyên viết về mục đích thờ cúng của người Việt như sau: “Mọi người chỉ cầu tới tôn giáo do nhu cầu vật chất. Ở  một số trường hợp, người ta chỉ tìm kiếm một kết quả trước mắt như khỏi bệnh, xin con, cầu tài. Người ta chỉ cầu thần để cho đời sống của  một người đã khuất ở thế giới bên kia được dễ dàng, để thi đỗ, để thành công trong mọi việc, để một chuyến đi xa được bình yên…Thường thường, trong ý thức dân gian, tôn giáo được quy lại chỉ còn là một lô thực hành thờ cúng đã trở thành bắt buộc, vì hiệu quả của hành động này hanh hành động khác trong đời sống hàng ngày là phụ thuộc vào sự thực hiện đúng những lễ nghi thờ cúng đó. Lễ nghi là tất cả, nó đôi khi bao gồm những lễ rắc rối, dưới một hình thức long trọng bề ngoài phức tạp.” (Tr 256, “Văn minh Việt Nam”, Nguyễn Văn Huyên,  Nhã Nam, bản in 2017)

Những lời này của Nguyễn Văn Huyên không thể chính xác hơn về thái độ thờ cúng của người Việt. Nỗi sợ hãi trước những nguy cơ có thể xảy ra trong cuộc đời dễ dàng khiến họ đặt niềm tin vào thần thánh và sẵn sàng thực hiện mọi nghi lễ phức tạp, thậm chí là đắt đỏ để cúng tế. Đây cũng là tâm thức nguyên thủy khi con người chưa trang bị cho mình những kiến thức và công cụ để tự bảo vệ bản thân. Nỗi sợ hãi ấy đã khiến con người càng ám thị bản thân tuân theo các nghi lễ thờ cúng mà không cần phải hiểu. Hành vi lặp đi lặp lại trong một loạt các nghi thức ở khắp nơi với cường độ liên tục, đều đặn càng củng cố thêm niềm tin của người hành lễ. Hãy thử thống kê các dịp cúng lễ “bắt buộc” mà không hiểu vì sao của người Việt: rằm và mồng 1 hàng tháng (riêng các rằm tháng giêng,7,8,chạp thì lễ cúng phức tạp hơn), các dịp lễ tiết nguyên đán (tháng 1), thanh minh (tháng 3), đoan ngọ (tháng 5), lễ ông táo (tháng chạp); đó là còn chưa kể đến những cúng tế hàng ngày đối với đại đa số người buôn bán dành cho các ông thần tài hay các dịp giỗ chạp của mỗi gia đình (tối thiểu mỗi gia đình có trung bình khoảng 5 dịp giỗ mỗi năm bao gồm 2 dịp bên nội, 2 dịp bên ngoại, 1 dịp giỗ tổ) . Đời sống của người Việt thực sự bị bủa vây bởi các hoạt động cúng tế. Ở nông thôn, những nghi lễ còn được thực hiện phức tạp vào long trọng hơn ở thành thị. 

Hoạt động cúng tế mang tính tập thể hơn thì xuất hiện trong các dịp tế lễ ở đền, đình, chùa. Ngoài các dịp “bắt buộc” vừa kể trên, các đền, đình, chùa, miếu…cũng có một hệ thống ngày cúng lễ riêng liên quan đến quy định của tín ngưỡng hoặc liên quan đến sự tích gắn với địa điểm. Chủ trì các nghi lễ này thường là người đứng đầu địa điểm thiêng, mà trong mô hình hiện đại được gọi bằng tên chung là “ban quản lý di tích”. Những người dân đến lễ ở các địa điểm này có thể là dân địa phương cũng có thể là người ở các vùng khác. Tùy vào sự nổi tiếng của các địa điểm hoặc các vị thần mà việc thờ cúng diễn ra thường xuyên hay định kỳ.

Địa điểmChức năngXuất xứNghi lễ điển hìnhBiến đổi & tích hợp
ChùaThờ Phật, giảng giải đạo lý Phật giáoPhật giáoThắp hương cúng PhậtTụng kinh và giảng kinhThường thờ thêm các ban Đức Ông, Đức thánh Trần, thờ MẫuXin lộc từ Phật hoặc cầu Phật trừ tàDâng sao giải hạn
ĐềnThờ thầnĐịa điểm thiêng của người Việt cổCác đạo quán của Đạo giáoThắp hương cầu khấn, đưa các nguyện vọng của mình tới các vị thầnMột số nơi nhập đồng để xin chỉ dẫnCác lễ hội mang tính chất nghi lễ diễn xướng đặc trưngXem bóiBán khoánTích hợp thêm ban thờ mẫu hoặc ban thờ Phật
ĐìnhThờ thành hoàng làngCó thể từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có công trong làngHoặc do ảnh hưởng từ Trung Quốc trong thời phong kiếnCác lễ hội diễn xướng liên quan đến thành hoàngDâng sớ cầu xin Thêm ban thờ mẫu hoặc một số vị thần nổi tiếngMột số nơi thêm ban thờ Phật
MiếuThờ vong hồnXuất phát từ tục cúng hồn người chết có trong nhiều tộc ngườiẢnh hưởng từ Trung Quốc thời phong kiến trong cấu trúc và nghi lễThắp hương và đồ cúng để cầu xinMiếu thờ Phật được gọi là am 
LăngMộ của các nhân vật quan trọngẢnh hưởng từ Trung Quốc thời phong kiếnThắp hương tưởng nhớTích hợp thêm với đền hoặc miếu để người đến thăm có thể cầu xin
ĐiệnThờ các thần trong Tứ phủThực hiện các lễ nhập đồngĐọa Mẫu

Trong nghi lễ thờ cúng thần đều sử dụng lửa

Cũng giống như nhiều dân tộc khác, lửa đối với người Việt luôn là vật dẫn để liên kết với thần thánh (ở một số tôn giáo khác của Ai Cập cổ đại và Kito giáo thì nước mới là vật dẫn). Lửa đóng hai vai trò chính:

Một là được thắp lên dưới dạng hương hay còn gọi là nhang. Nguồn gốc của hương và nhang không rõ ràng, chỉ biết là được sử dụng rất rộng rãi từ Ai Cập, Babylon cho đến Ấn Độ và Trung Quốc. Hương thường phải tạo ra mùi thơm nên thường được làm từ bột của các loại thực vật thơm. Về hình thức, hương ở Ấn Độ và hương của Trung Quốc khá giống của Việt Nam, vậy nên khó có thể khẳng định được tục đốt hương của người Việt là do ảnh hưởng từ phía nam lên qua sự du thuyết của các tu sĩ Bà La Môn và Phật giáo hay từ phương Bắc xuống theo con đường di dân.

Tôi cho rằng đốt hương là một biến tướng của tục đốt lửa tế thần. Lửa đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống con người cổ xưa. Lửa, có thể nói là lớp phòng thủ đầu tiên của con người, để con người có thể tự bảo vệ mình khỏi thú dữ, cái lạnh giá và nỗi sợ hãi bóng đêm trong rừng thẳm. Lửa thực sự là một món quà của tự nhiên ban phát cho con người, mà trong tâm thức của người nguyên thủy thì đó là vật của các vị thần (như Prometheus ăn trộm lửa của Olympus để cứu con người). Với vai trò như vậy, lửa sẽ luôn được sử dụng trong các nghi lễ tế thần, mang tính chất đại diện cho thần thánh hoặc tính thần thánh (ở Ấn  Độ, lửa được sử dụng để thanh tẩy). Người Dao Đỏ đến nay vẫn còn lưu giữ tục nhảy lửa, những chàng trai người Dao dẫm chân vào đống lửa để được ngọn lửa thần thánh ban cho sức mạnh và trừ tà ma trên người. Còn người Mường vẫn coi bếp lửa là vật trung tâm của ngôi nhà, thế nên việc nhóm bếp được coi trọng, lần nhóm bếp đầu tiên được coi là dựng lên ngọn lửa ấm no cho gia đình. Họ còn thờ ba ông đầu rau, tức ba hòn đá kê bếp, một hình thức cổ xưa của ba vị táo quân trong tâm thức Việt cổ. Người phương Tây đã biến chuyển từ việc sử dụng lửa sang nến ở các bàn thờ trong nhà, tương tự như thế, người Ấn Độ và Trung Quốc có thể đã biến chuyển thành hương (nhang).

Hai là được dùng để hóa vàng mã. Việc hóa vàng mã được bắt đầu vào thời Đường, vốn là một cách chuyển các đồ minh khí chôn cùng người chết vào thời cổ vốn rất tốn kém (có thể là vàng, bạc, đồng, gỗ, đất sét…) sang loại bằng giấy tiết kiệm và thuận tiện hơn. Người chế ra đồ vàng mã là  Vương Dũ. Sách “ Thông giám cương mục” có chép: vì vua Huyền Tôn, mê thuật quỉ thần mới dùng ông Vương Dũ làm quan thái thường bác sĩ để coi việc chế vàng mã dùng khi nhà vua có tế lễ. Chúng ta có thể liệt Vương Dũ là hàng Thuỷ tổ nghề vàng mã.” (Phần dịch của hòa thượng Tố Liên, Nguồn gốc tục đốt vàng mã, NXB Đuốc Tuệ 1957, bản đánh máy đăng trên Tễu Blog ). Như vậy, trong chức năng đốt vàng mã thì lửa đóng vai trò phụ.

Image result for hóa vàng
Hóa vàng trong thờ cúng thần của người Việt

Luôn có đồ hiến tế trong thờ cúng thần

Đồ hiến tế là vật không thể thiếu trong các cuộc cúng tế ở mọi nền văn hóa. Tùy các đặc trưng của dân tộc mà mỗi dân tộc lại có tục hiến tế khác nhau. Đồ hiến tế cũng biến chuyển theo thời đại. Ở Việt Nam, đã từng có thời người dân phải hiến tế người sống cho quỷ thần. Trong “Lĩnh Nam chích quái” còn ghi chép lại dấu vết người dân Việt hiến tế người sống cho thần Xương Cuồng (Truyện mộc tinh). Truyền thuyết dân gian còn lưu lại sự tích bánh chưng bánh dầy qua việc Lang Liêu tạo ra đồ hiến tế từ các nông sản thu hoạch được trong vụ mùa. Điều này cho thấy ở thời Hùng vương, tập tục hiến tế chính thống đã sử dụng thức ăn chín để tế lễ (chứ không phải là người sống hay động vật sống). Do ảnh hưởng từ Trung Quốc, đồ tế lễ của người Việt có thêm vàng mã. Tuy nhiên, việc đốt vàng mã của Việt Nam thiếu lề luật. Trong quy định tiền âm phủ, người Trung Quốc phân chia rất rõ các loại tờ tiền: vàng dành cho ngọc hoàng, bạc dành cho tổ tiên và thổ địa, tiền mặt dành cho các linh hồn mới chết; trong khi người Việt thì đốt chung các loại tờ tiền và đồ đạc giấy cho tất cả các loại thần thánh cũng như linh hồn, chỉ trừ hình nhân thế mạng và ngựa xe thì được sắp đặt theo quy định của từng tín ngưỡng. Việc tích hợp phức tạp trong các mô hình địa điểm thờ cúng dần dần khiến cho việc đốt vàng mã phổ biến rộng rãi ngay cả trong những nơi không thích hợp như chùa hay am.

III – Mô tả thế giới thần của người  Việt

Các lớp tín ngưỡng và tôn giáo ảnh hưởng đến thế giới thần của người Việt

Dải đất Việt Nam của chúng ta trải qua nhiều biến chuyển lịch sử, thế nên người Việt cũng theo đó mà thay đổi các tập tục thờ cúng. Dưới đây là các lớp biến chuyển về phong tục thờ cúng của người Việt:

Lớp văn hóa ảnh hưởngĐặc trưng thờ cúngThời gian bắt đầuDấu vếtKhu vực ảnh hưởng
Việt cổThờ cúng tổ tiênThờ cúng vật linh (cây, đá, rồng, rái cá, chim…)Thờ cúng trời đấtThờ các vị nữ thần hoặc nữ phù thủyTừ giai đoạn nước Xích Qủy, Văn Lang, rất khó xác định niên đại cụ thểTín ngưỡng thờ cúng của người Mường, Thái. Thói quen thờ vong hồn, hoặc các ma cây, thần đá còn lưu đến nayTín ngưỡng đạo Mẫu và các nghi lễ nhập đồngKhắp cả nước, chủ yếu tập trung ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ & Bắc Trung bộ
Nho giáoThờ thành hoàngThờ tổ tiên đề cao chữ hiếuThờ trời đất qua nghi lễ tế ở đền Xã Tắc và Nam GiaoBắt đầu thời kỳ thuộc Hán (111TCN)Nghi lễ trong các đình thờ thành hoàngCác lăng mộ và miếu của quý tộcKhắp cả nước, chủ yếu tập trung ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ & Bắc Trung bộ
Bà La Môn giáo được Việt hóaNghi lễ mùa màng và thời tiếtKhoảng thế kỷ 3Tín ngưỡng Tứ phápĐồng bằng Bắc bộ
Đạo giáoThờ Ngọc Hoàng và các vị tiên thánh thuộc Đạo giáo Trung HoaKhoảng thế kỷ 3Các đạo quánCác đền có chữ “Quán”Tín ngưỡng thờ Ngọc  HoàngTín ngưỡng thờ tiênKhắp cả nước, đặc biệt là những nơi có nhiều người Trung Quốc sinh sống như Hà Nội, Sài Gòn, Hội An, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh…
Phật giáoCác vị Phật cũng được “thần hóa” để thờ cúngCác vị thần được nhắc đến trong Phật giáo (Đế Thích, Tì Sa Môn thiên vương…)Các nhà sư người Việt có uy tín trong lịch sửKhoảng thế kỷ 3Chùa Khắp cả nước
Các danh nhân người Việt hoặc có công với người ViệtBan đầu là để tưởng nhớ tinh thần yêu nước, sau đó chuyển sang cúng tế để cầu nguyệnCó thể được biến đổi từ tục thờ cúng tổ tiên hoặc anh hùng trong các tộc người.Xuất phát điểm không rõThường được thờ trong các đền được xây ở quê hương, những nơi danh nhân đã đi qua, nơi mất…Khắp cả nước
Chăm pa & Chân LạpCác vị nữ thần người Chăm pa dần được Việt hóa và được người Việt thờ cúng (Thiên Y A Na, Bà chúa Xứ Sở…)Tục thờ Cá ÔngThế kỷ 11Các đền thờ nữ thần ChămpaCác đền thờ xác Cá lớn trôi dạt vào bờChủ yếu ở Nam trung bộ và miền Nam, rải rác ở Bắc trung bộ.
Người Minh Hương lưu vongCác vị thần bảo vệ người dân Minh Hương như Thiên Hậu, Quan VũThế kỷ 16Các đền thờ & Hội quánCác vùng ven biển, Hà Nội và Sài Gòn
Công giáo & Tin LànhTheo đúng các quy định của nhà thờThế kỷ 18Nhà thờKhắp cả nước
Chính quyền Cộng SảnThờ các quan chức và tướng lĩnh cấp cao theo lối thờ các danh nhân của người ViệtThờ Hồ Chí Minh như một vị thánhThờ các anh hùng liệt sĩSau năm 1945Đài tưởng niệm liệt sĩLăng mộ của các quan chức và tướng lĩnh cấp cao Khắp cả nước

Cách gọi các vị thần theo từng lớp văn hóa ảnh hưởng

Cách gọiNghĩaNguồn gốc
Bua, MaVua (dùng để gọi vua trời và vua nước), linh hồnMường
Then luông, đắm tràoVua trời, tổ tiên được lên làm thầnThái
ThầnLực lượng siêu nhiên chi phối đời sống cõi dươngVăn hóa dân gian Trung QuốcNho giáo
ThánhVị nhân thần được nhân dân ca tụng công đứcĐạo giáoNho giáo
TiênNgười hoặc vật tu luyện có phép thuậtĐạo giáo
Mẫu (Mẹ), BốVị thần gắn liền với dân tộc ViệtNgười Việt cổ ở đồng bằng Bắc Bộ
VươngCác vị thần địa phương được triều đình phongNho giáoĐạo giáo
ĐếCác vị thần chủ chốt trong Đạo giáoĐạo giáo
QuânCác vị thần chủ chốt trong Đạo giáoĐạo giáo
Ông hoàng, Bà chúaCác vị thần gọi theo lối dân gianThói quen của người Việt
Cô,  CậuCác vong hồn đi theo hệ thống Đạo Mẫu, phục vụ cua các mẫu, ông hoàng, bà chúaĐạo Mẫu

Danh mục các thần quan trọng theo từng lớp văn hóa và nghi thức thờ cúng

(Lưu ý, không thống kê lớp ảnh hưởng từ Công giáo & Tin Lành, Chính quyền Cộng Sản, và Đạo Mẫu)

Lớp văn hóaSTTTên thần/nhóm thầnNghi thức đặc trưngKhu vực thờ chính
Việt cổ1Lạc Long Quân & Âu CơTế lễ nhân dịp giỗ tổTuyên Quang, Vĩnh Phúc, Phú ThọBan thờ Âu Cơ trong một số đền thờ Mẫu hoặc Đạo giáo
2Tản Viên Sơn Thánh + Cao Sơn Đại Vương + Qúy Minh Đại VươngDiễn xướng và rước trong các dịp lễ hội liên quanKhu vực núi Ba Vì, Thanh Sơn (Phú Thọ), miền núi phía Đông Bắc, Thanh Hóa & Nghệ An
3Bà chúa KhoCúng tế cầu tài lộcNhập đồngHà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang
4Phù Đổng Thiên VươngDiễn xướng và rước trong các dịp lễ hội liên quanSóc Sơn (Hà Nội), Bắc Giang
5Thánh Tam Giang (Trương Hống & Trương Hát)Diễn xướng và rước trong các dịp lễ hội liên quanBắc Ninh
6Các thần & vong hồn trong đạo MẫuNhập đồngĐồng bằng & Trung du thuộc Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (Đặc biệt ở Thanh Hóa, Nam Định, Hòa Bình, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc)
7Thần Đồng CổHội thề mang nhiều màu sắc Nho giáoThụy Khuê (Hà Nội), Yên Đinh (Thanh Hóa)
8Chử Đồng TửĐã được Phật giáo hóa & Đạo giáo hóaHưng Yên
9Thần Xương Cuồng (mộc tinh hoặc thần hổ)Hiến tế ngườiĐã bị loại bỏ từ 1800Chỉ còn lưu trong truyền thuyết, lối nói
10Thần rắn (Ông Cụt, thủy thần…)Cúng tế xin tài lộc Khắp cả nước
11Các thần câyCúng tế xin tài lộc hoặc tránh bị phạtKhắp cả nước
Nho giáo1Khổng Tử, Chu Công, Chu Văn An, Nguyễn Trãi… & nhiều vị Nho thần người Việt khácTế lễ tầm cỡ quốc giaCầu xin đỗ đạtVăn Miếu, Văn Từ, Văn Chỉ
2Nam Giao Học Tổ Sĩ NhiếpTế lễ tầm cỡ quốc gia (thời phong kiến)Đến nay chỉ còn lễ dâng hương tại đềnThuận Thành (Bắc Ninh)
3Xã Thần (đất) & Tắc Thần (nông)Tế lễ tầm cỡ quốc gia (thời phong kiến)Đến nay chỉ còn lễ dâng hươngĐàn Xã Tắc tại kinh đô của các triều đại cũ
4Thờ Hoàng ThiênTế lễ tầm cỡ quốc gia (thời phong kiến)Đến nay chỉ còn lễ dâng hươngĐàn Xã Tắc tại kinh đô của các triều đại cũ
5Hoàng tộc của các triều đai phong kiến Việt namDâng hươngCác lăng miếu ở miền Bắc và miền Trung
6Các danh tướng của triều đình phong kiến Việt NamLễ rước & diễn xướngKhắp cả nước
Bà La Môn giáo được Việt hóa1Man Nương & Tứ phápNghi lễ rước tượng cầu xin mùa màng bội thuBắc Ninh, Thường Tín (Hà Tây), Hưng Yên
2Đế Thích (được Hán hóa thành vị vua cờ, sau đó là Đạo giáo hóa)Ngoài nghi lễ rước thì còn có các hội chơi cờ người, hoặc thi cờĐồng bằng Bắc Bộ
Đạo giáo1Chân Võ Tinh Quân hoặc Huyền Thiên Trấn VõThờ cúng theo nghi thức Đạo giáoKhu vực phía Bắc thành Thăng  Long xưa, Bắc Ninh
2Tam ThanhThờ cúng theo nghi thức Đạo giáoTrung du và đồng bằng Bắc Bộ
3Ngọc HoàngThờ cúng theo nghi thức Đạo giáoĐược tích hợp với tín ngưỡng thờ vua Trời của người Mường – Thái.Được thờ trong một số đền thờ của đạo MẫuKhu vực người Tàu ở Hội An, Huế & Sài GònCác đền thờ đạo Mẫu ở miền Bắc
4Cửu Thiên Huyền NữĐược đồng nhất với Mẫu Cửu Trùng Thiên trong đạo Mẫu, nhưng không giáng đồngThờ trong các ban thờ Mẫu Cửu Trùng Thiên trong đạo Mẫu
5Các đạo sĩ như Yên Kỳ Sinh, ông Tu Nưa, Cao Biền…Đặt ban thờ trong các địa điểm thiêngĐược thờ tại nơi họ tu hành
6Thần chính khí của các vùng như Long Đỗ, sông Tô Lịch, Hà bá sông Hồng…Lễ rướcĐặt ở vị trí phong thủy đẹp của địa phương
7Thần Tài, Táo quân, Thổ côngThờ cúng để cầu xin tài lộc, no ấmViệc thờ Táo quân được tích hợp với tục thờ ông đầu rau của người MườngBan thờ ở góc nhà hoặc trong các miếu
8Thần giữ của (liên quan đến hiến tế trinh nữ ở các mộ chôn nhiều minh khí), đã được chuyển thành thờ các cô.Thờ cúng để cầu xin tài lộc hoặc vì sợ bị phạtMiếu
9Thần NôngCúng tế cầu mùa màng (đến nay chỉ thắp hương)Ban thờ nhỏ, miếu nhỏ trong một số đền
Phật giáo1Quán Thế Âm Bồ Tát (dưới nhiều cách thức tạo hình)Cúng tế để cầu xin cứu độCó trong tất cả các chùa Phật giáo
2Tam Thế PhậtCúng tế để cầu xin cứu độCó trong tất cả các chùa Phật giáo
3Địa Tạng VươngCầu siêu cho các vong hồnĐặc biệt có vai trò quan trọng trong các chùa địa phương hoặc các nơi gần nghĩa địa, nhiều người chết oan
4Thập Điện Diêm Vương (đã được Đạo giáo hóa)Cúng tế để cầu xin cứu độCó trong hầu hết các chùa
5Tam Tổ Trúc LâmCúng tế để cầu xin cứu độ và tưởng nhớCó trong các chùa theo Thiền tông hoặc các Thiền viện  Phật giáo
6Bát Bộ Kim Cương (hộ pháp)Thắp hương để vào chùaCó trong tất cả các chùa Phật giáo
7Đức Chúa Ông (vị thần giàu có hộ pháp).Nguyên bản là Cấp Cô Độc, sau đó được đồng nhất với những người có công bỏ tiền xây chùa.Cúng tế xin phò trợ về tài chínhCó trong tất cả các chùa Phật giáo
8Từ Đạo  Hạnh & Nguyễn Minh KhôngCúng tế & tưởng nhớSài Sơn & đền Lý Quốc Sư (Hà Nội), Ninh Bình
9Di Lặc (tạo hình Bố Đại hòa thượng), Tế CôngCúng tế & cầu xin tài lộcCó trong nhiều chùaTrang trí tại nhiều gia đình để xin tài lộc
Các nhân thần người Việt hoặc có công với người Việt1Hai Bà Trưng & các tướng trong cuộc khởi nghĩaLễ rước & diễn xướngNhập đồng (trong một số trường hợp)Trung du và đồng bằng Bắc bộ
2Lữ GiaLễ rướcHưng Yên, Nam Định
3An Dương Vương & Mị ChâuLễ rướcĐông Anh, Ven biển Thanh Hóa, Nghệ An
4Tứ vị thánh nương (linh hồn chết oan)Cúng tế để cầu xin tài lộcNhập đồngVen biển miền Bắc và Bắc Trung bộ
5Lý Phục Man & các tướng theo Lý Nam Đế, Triệu Quang PhụcLễ rước & diễn xướngHà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên
6Linh Lang Đại VươngLễ rướcHà Nội, Hải Phòng
7Đức thánh Trần & Ban Trần TriềuCúng tế để cầu xin tài lộc, phù trợ, trừ tàNhập đồngBắc bộ, đặc biệt là khu vực ven biển như Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định
8Đông Hải Đại Vương Đoàn ThượngCúng tế để tưởng nhớLễ rướcHà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng
9Các vị tướng trấn thủ, khai phá các khu vựcLễ rước & diễn xướngKhắp cả nước
10Các tổ nghềCúng tế để tưởng nhớLễ rướcKhắp cả nước
Chăm pa & Chân Lạp1Mỵ ÊCúng tế và tưởng nhớHà Nội, Hà Nam,
2Thiên Y A Na hay gọi làThánh Mẫu Chúa NgọcGắn liền với nghi lễ phồn thực của người ChămBan đầu là tượng khỏa thânNam Bộ và Nam Trung Bộ
3Bà chúa Xứ (thực ra là tượng nam thần Khmer)Lễ vía bàNhập đồngĐồng bằng sông Cửu Long
4Hậu Thổ phu nhân, đã được Đạo giáo hóaLễ rước & cúng tế cầu tài lộcHà Nội
5Bà Đen (Nguồn gốc không rõ ràng, có giả thuyết là từ tín ngưỡng thờ cặp bà đen – bà trắng của Khmer)Lễ vía bà, rước tượngĐồng bằng sông Cửu Long
6Cá ÔngCúng tế cầu tài lộc, bình an khi đi biểnLễ rướcVen biển miền Trung
Người Minh Hương lưu vong1Thiên Hậu nương nươngCúng tế để cầu tài lộc, bình anCác khu người Tàu ven biển Việt Nam
2Quan VũCúng tế để cầu tài lộc và xin sự bảo vệ, trừ tàHà Nội, Hội An, Sài Gòn
3Ngọc Hoàng & Thiên đình Đạo giáoCúng tếHội An, Huế, Sài Gòn

Hà Thủy Nguyên

Bài đã được đăng trên Book Hunter

Tết và giả dối, phù phiếm, rác rưởi

blogpost thumb

Mỗi năm một lần Tết âm lịch lại đến như một cái gông đè nặng lên cổ từng người. Hết thế hệ này đến thế hệ khác, chúng ta tổ chức một kỳ lễ Tết mà chẳng hiểu ý nghĩa của nó, chúng ta tiêu tốn một lượng lớn thời gian – công sức – tiền bạc để hoàn thành những nghi lễ vô giá trị được dán nhãn “truyền thống”, chúng ta cười cười nói nói với những người mà chúng ta chẳng hiểu gì về họ ngoài những thứ họ phô diễn. Tết trở thành một nghi thức mà trong đó mọi sự giả dối, rác rưởi và phù phiếm được cho phép dưới danh nghĩa chúc tụng và cầu cúng.

Phô diễn lòng thành không thật

Chúng ta thường được dạy rằng Tết là lúc chúng ta tưởng nhớ những người đã khuất trong gia tộc. Nhiều gia đình ra nghĩa trang dọn sạch mồ mả, thắp hương cho người đã khuất. Sau đó, là nhộn nhịp chuẩn bị một loạt mâm cúng linh đình: nào bánh chưng, thịt kho, nem rán, giò…. Nào thì mâm ngũ quả, nào thì vàng mã…

Thời xa xưa, những nghi lễ này thường liên quan đến vụ mùa: một mùa xuân mới đang đến và một vụ mùa mới sắp bắt đầu. Cúng tế tổ tiên đối với người xưa về bản chất là một hình thức cúng người chết – những người mà thân thể của họ đã trở thành phân bón để nuôi dưỡng cây cối, và cúng tế mang tính chất thể hiện một sự tri ân của người sống đối với thân thể của người chết, và của người sống với những ký ức về người chết khi họ còn ở dương trần. Linh hồn người chết, bởi thế, luôn ngự trị trong xã hội người sống thông qua lương thực – thực phẩm thu hoạch được; và những ký ức mà người sống lưu lại. Nhưng rồi, ý nghĩa tri ân ấy hoàn toàn trở nên mờ nhạt trước lòng tham của con người. Họ cúng tế Tết vì muốn được người chết phù hộ độ trì cho họ thêm tài lộc, phúc phận; hoặc vì sợ bị quật do không đảm bảo đúng nghi lễ (một nỗi sợ vô hình). Vậy là thay vì thực sự chỉn chu và kỹ tính trong nghi lễ, họ làm ra mâm cao cỗ đầy với hi vọng rằng sẽ không làm mất lòng người đã chết.

Mâm ngũ quả để làm gì? Có ai tự hỏi xem những người đã khuất đang được thờ trên bàn thờ có thực sự muốn ăn những món quả màu mè ấy? Họ có thực sự lúc nào cũng muốn ngắm con gà khỏa thân chổng mông trên đĩa? Hay mùi dầu mỡ của thịt thà lẫn lộn át hương trầm? Người sống bày mâm cỗ cúng bởi vì trong lòng họ nghĩ rằng những món ăn ấy hẳn sẽ cho họ một bữa ăn nhậu thích thú với bè lũ mà họ đã kết giao trong dòng tộc. Trong tâm trí họ không có người đã chết.

Hãy nghe những người sống tụng các bài văn cúng được in sẵn trong quyển sách được bày bán đầy ở cổng chùa, cổng đền. Một danh sách dài tên các thần Phật mà chính họ còn chẳng biết nguồn gốc được tụng lên trước khi trong tâm họ nhớ đến những người đã khuất – vô nghĩa! Đức tin của họ thậm chí còn chẳng đặt vào những vị thần trong bài tụng. Tâm tư của họ chẳng có một chút lặng để kết nối với tinh thần của người thân đã qua đời.

Qúa nhiều thịt thà, quá nhiều lời lẽ, quá nhiều lòng tham, quá nhiều nghi thức đã cắt đứt đời sống tinh thần trong khoảnh khắc đón xuân. Những ký ức cũng chẳng có cơ hội được tái hiện trong tâm trí bởi sau những buổi quần quật cỗ bàn, đâu còn góc riêng nào cho nhung nhớ. Sau tất cả, người đã chết cứ khuất dần đi trong dòng chảy thời gian, chỉ còn những nghi thức cũ vẫn ngự trị một cách trớ trêu và kệch cỡm.

Gặp gỡ những người xa lạ bằng bộ mặt giả dối

Những người đến thăm ta ngày Tết ắt hẳn là những người xa lạ: Họ hàng và những người đến để nịnh nọt, biếu xén. Nịnh nọt và biếu xén thì có lẽ chẳng có gì đáng để đề cập nhiều: những con người ấy với ta tuyệt đối xa lạ.

Họ hàng: những con người cả năm chúng ta không gặp gỡ vì lý do: bân bịu với công việc. Hãy thẳng thắn với nhau: giữa ta và họ chẳng có điểm gì chung, từ nền tảng văn hóa đến lợi ích kinh tế, từ sự tương giao tinh thần đến sự hứng thú. Chẳng có tình thân gì ở đó, chỉ có một thứ ràng buộc: lễ nghĩa dòng tộc. Lễ nghĩa dòng tộc quy định một thứ luật bất thành văn: họ hàng phải thăm hỏi nhau ngày Tết. Nhưng họ không thăm hỏi vì họ đâu có quan tâm đến tâm tư tình cảm của ta, kỳ thực họ chẳng hề quan tâm. Họ thăm hỏi ta vì thói quen cửa miệng, vứt cho ta những lời khuyên như thể họ là con người đầy kinh nghiệm, tặng ta những món quà mà họ còn không thèm tìm hiểu xem chúng ta có thực sự thích hay cần không.

Hãy nhìn những con người này mừng tuổi cho con trẻ và người già! Họ nhét tiền vào các phong bao in sẵn chẳng chút tính cá nhân, đo đếm số tiền dựa trên thân – sơ hay tầm quan trọng. Rồi con cái của họ lại nhân tiếp những phong bao như thế từ những gia đình mà họ đến chúc Tết hay chúc Tết nhà họ. Lì xì giống như một hình thức đổi tiền, còn những đứa trẻ thì vui mừng đếm tiền, được nuôi dưỡng trong tinh thần đồng nhất tiền với vận may mà nó nhân được trong đời. Bao nhiêu đứa trẻ sẽ đánh giá người lớn dựa trên số tiền họ  mừng tuổi chúng? Bao nhiêu đứa trẻ sẽ đánh giá vị thế của gia đình mình dựa trên “tổng thu nhập” của chúng ngày Tết.

Toàn bộ vòng quay giả dối của quà cáp, thăm hỏi, lì xì… đang mỗi năm lại thêm bào mòn sự kết nối giữa con người với con người. Con người không có khoảng lặng cho chính mình để suy ngẫm, để tận hưởng những ngày xuân. Thay vì đó, con người gia tăng thêm những lớp mặt nạ của sự yên ổn, hạnh phúc, thành công, thân tình để vừa lòng những người trong dòng tộc.

Dòng tộc trong xã hội Việt Nam hiện đại đã mất dần đi vai trò đích thực của mình. Dòng tộc không tan rã, nó biến tướng thành mô hình nhóm truyền miệng  những nghi thức được cho là truyền thống và những giá trị được cho là thành công trong xã hội. Sự kết nối của dòng tộc đời xưa đến từ mối quan hệ gìn giữ đất đai và nghề truyền thống, nhưng sự kết nối ngày nay chỉ xoay quanh chăm sóc mồ mả ở quê. Người ta buộc phải quan hệ với nhau vì chung nhau một khu nghĩa địa. Vì sợ “động mồ động mả” hoặc sợ “sau này chết đi thì mộ ở quê ai chăm sóc” mà chúng ta buộc phải cười cười nói nói với toàn bộ những người xa lạ mà chúng ta gọi là họ hàng. Sự thân tình này đến từ nỗi sợ bị bỏ rơi bởi chính dòng tộc của mình và sự hoài nghi tính trách nhiệm của họ hàng. Tóm lại, ta chấp nhân là một phần của dòng tộc, vì hoang mang không biết cách tiếp cận thế giới cõi chết nơi mà ta sẽ đến trong tương lai và những người ruột thịt của ta đã đến trong quá khứ. Thế rồi, ta chấp nhân thăm hỏi một cách giả dối với những người có khả năng sẽ tác động đến khu nghĩa trang chung chạ của dòng tộc.

Tại sao chúng ta phải trói cuộc đời của chúng ta vào khu nghĩa địa của dòng tộc? Tại sao chúng ta lại chấp nhận cõi chết chi phối xã hội cõi sống đến thế? Bởi vì chúng ta tham lam đủ thứ cả khi sống lẫn khi chết, tham lam những thứ chẳng thể mang theo người, những thứ chẳng hề thuộc về chúng ta. Còn tâm hồn ta thì bị ta bỏ vương vãi, còn thân thể ta thì ta biến chúng thành thứ chỉ để treo mặt nạ.

Lẽ tất yếu là rác rưởi

Để đáp ứng những nhu cầu giả dối và phù phiếm ấy, ta đã xả ra đủ thứ rác rưởi vào ngày Tết – ngày mà đáng lẽ ta phải thể hiện sự trân trọng với thiên nhiên. Thử đếm các đầu mục rác mà một gia đình vứt ra môi trường nhé:

Rác hữu cơ:

  • Xác cây và hoa cảnh sau khi cắm chỉ để nhân lấy vài câu khen của người xa lạ, để tỏ ra ta là những người tao nhã, hoặc để đưa ít mùa xuân về nhà bất chấp ta đang giết mùa xuân.
  • Thức ăn thừa hoặc đồ bị cắt bỏ trong quá trình nấu ăn phục vụ đủ các loại mâm cúng cho một cõi chết mà ta không hề tưởng nhớ.

Rác vô cơ:

  • Đủ các loại bao bì hộp quà, hộp đựng sản phẩm, lon bia, chai rượu… chủ yếu để tỏ ra sang chảnh theo điều hướng của các chuyên gia marketing của các thương hiệu.
  • Bao lì xì để khiến trẻ con sớm băng hoại đạo đức
  • Đồ trang trí nhà cửa, vụn pháo hoa, kim tuyến rắc… mà có lẽ sẽ chỉ dùng vài ngày chỉ để thỏa mãn thứ thị hiếu được xây dựng bằng sự khát khao lộng lẫy trong vòng hào quang hư ảo mô phỏng giàu có.
  • Vàng mã chỉ để đốt cho những vong hồn không thể sử dụng và tiếp tục giam lỏng vong hồn trong sự nuối tiếc sự sống tới mức chối bỏ giải thoát.

Rác tinh thần:

  • ­Những lời chúc tụng, thăm hỏi hoàn toàn vô nghĩa mà chẳng ai nhớ, và ngay cả đến ta là người mở miệng ra nói cũng chẳng nhớ.
  • Những bài hát karaoke để giải trí ngày xuân mà chủ yếu là để khoa dàn loa khủng – chiến tích của một năm làm ăn phát đạt.
  • Những đồng tiền lì xì nuôi dưỡng lòng tham của lũ trẻ, biến lũ trẻ thành súc vật, không hơn.
  • Những nghi thức hoàn toàn vô giá trị về mặt thực tiễn mà chỉ kích thích chủ nghĩa tiêu dùng với các chiến lược xả hàng, khuyến mại, quảng cáo…

Vâng, đủ loại rác rưởi ấy đã bào mòn tinh thần của mỗi cá nhân, bào mòn cảm xúc của mỗi gia đình. Tết trở thành một dịp để người nhà ràng buộc nhau vào vòng xoay bất tận của xả rác được định danh bằng mỹ từ “truyền thống”. Và có lẽ truyền thống mới cần tiết được xây dựng trong đời sống của chúng ta: Xin đừng xả rác để không phải dọn rác.

Hà Thủy Nguyên

Nhớ#9: Trăng

blogpost thumb

Trong Tarot, quân The Moon đại diện cho những hiểm nguy khi ta bước vào những gì còn đang bị bóng tối che khuất. Bóng tối ấy có thể là một cuộc phiêu lưu, cũng có thể là chính bản thân mình. Mặt trăng soi không đủ tỏ để nhìn rõ những hiểm họa xung quanh.

Trong đêm tối, mặt trăng như thể một hi vọng đầy ảo giác. Ánh sáng của nó không thực của nó. Chỉ là sự phản chiếu của mặt trời. Một phản chiếu tuyệt mỹ từ một mặt trời đã không còn năng lực kiểm soát chính mình.

Tôi đã viết rất nhiều dưới ánh trăng khi tôi mười chín, hai mươi. Trăng hắt vào song cửa sổ phòng ngủ của tôi, đánh thức rạo rực từng mạch máu, từng sợi thần kinh. Đánh thức những hình ảnh bệnh hoạn và biến thái được ẩn giấu sau vẻ ngoài có vẻ nghiêm cẩn của tôi lúc bấy giờ. Ánh trăng tinh ranh và ma quái, nó không bao giờ để tôi yên vị với chiếc mặt nạ thường nhật của mình.

Năng lực này của mặt trăng là do chính mặt trăng, hay do sự phản chiếu kỳ ảo của mặt trời?

Có một đêm trăng sáng khác, năm 2014, tôi đã uống rượu và say dưới ánh trăng. Lần duy nhất tôi thực sự say, bởi vì đó là lần tôi không còn thấy bản thân mình nữa. Ký ức đêm ấy chỉ loáng thoáng: cuồng loạn, bạo lực và mê đắm trong tình dục. Tôi biết tôi không say rượu, vì đêm đó tôi chỉ uống rất ít, và trong những chuỗi ngày rượu triền miên của mình, tôi chưa biết say là gì. Nhưng sau đêm ấy, tôi không còn thấy trăng đẹp nữa, và cũng thôi say sưa rượu.

Cơn điên một khi bị đẩy lên cực điểm thì sẽ tắt lịm. Từ ấy lòng tôi phẳng lặng dần. Chẳng còn bị mặt trăng kích động.

Những dòng viết về trăng của tôi sau này đều chỉ là những vầng trăng ký ức. Là vầng trăng của tôi từ thuở thiếu nữ. Không phải vầng trăng mà giờ tôi chứng kiến. Với trăng, thực sự giờ đây tôi đã nguội lạnh.

Khi đi vào bóng tối với những nguy hiểm rình rập, không cần ánh trăng dẫn lối. Ánh trăng có thể chỉ đường cho ta bằng ảo giác, không phải hiện thực. Có thể đi vào bóng tối bằng một cách đơn giản hơn: chấp nhận bóng tối và thây mặc những nguy hiểm đang chờ đợi.

Hà Thủy Nguyên

Nhớ#8: Ốm

blogpost thumb

Sau một trận ốm dài, tôi thấm thía sâu sắc cảm giác rằng có những chuyện nằm ngoài khả năng tác động của mình cho dù năng lực của bản thân có thừa để thực hiện. Đó là bực bội, là bất lực, là chán nản, là tuyệt vọng. Như thể đóa hoa đến kỳ đẹp nhất để khoe sắc lại gặp phải một cơn bão táp mưa sa. Khi bừng mắt tỉnh dậy, thế cục đã chả thể cứu vãn được. Tôi mất đi những cơ hội để chiến thắng.

Đây không phải lần đầu. Lúc nào cũng vậy, cứ mỗi khi những cơ hội tốt đẹp đang đến, và tôi đã chuẩn bị năng lực của mình đầy đủ cho cơ hội ấy, thì tức thì một cơn ốm sẽ quật tôi đổ xuống. Rồi cơ hội đi qua, và khi tỉnh dậy, tôi không những không được nếm mùi vị của thành công, mà ngay cả thất bại cũng chẳng có. Chỉ có một tình trạng duy nhất: Mình đang bị tụt lại ở phía sau. Xa xa kia là những kẻ ung dung bước đi bất kể bản thân có đủ năng lực hay không.

Tôi đã từng rất hận những cơn ốm của mình. Chúng khiến tôi và thế giới cách xa nhau vạn dặm. Nhưng rồi một ngày, tôi nhận ra rằng tôi cần chúng biết bao. Bởi vì đó là khoảng cách an toàn để tôi không bị văng theo quỹ đạo của thế giới – những thứ quy luật tự được gán cho nhân loại.

Lùi ra xa…tôi đã tự mình quy ẩn… Bước vào thế giới riêng của mình. Nơi ấy chỉ có một ngọn đèn là ý thức của chính mình.

Lùi ra xa, thế giới chỉ là cái bóng khổng lồ mờ nhạt không rõ khuôn hình trôi đi vào vô định.

Tôi cảm thấy sự yếu đuối của tôi trỗi dậy. Sự yếu đuối ấy là những tổn thương mà bình thường khi khỏe mạnh tôi tạm bợ che lấp bằng sự hào hứng sống và niềm đam mê cuồng nhiệt. Những cơn ốm khơi lại chúng để tôi chứng kiến và điều trị chúng, dần dần…

Những đứa trẻ cần đau ốm ở mức độ nhất định để chúng trở nên thông minh hơn. Còn tôi, cũng cần đau ốm để trưởng thành hơn, với điều kiện là không chết quá sớm vì một căn bệnh ngớ ngẩn nào đó.

Ngẫm lại thì, cái sự không may của các cơn ốm lại là một điều may mắn với tôi. Có lẽ, nếu thiếu chúng, giờ đây tôi đang giương giương tự đắc như những kẻ hãnh tiến, quá mải mê đuổi theo những cơ hội mà cuộc đời thả thính trước mũi. Có lẽ, tôi sẽ quên mất những cuộc đối thoại với chính mình, quên mất mình và vội vã trói bản thân trong một mớ mỹ từ cái tôi chật hẹp.

Lùi ra xa… Đêm đã khuya… Thế giới càng xa…

Hà Thủy Nguyên

Nhớ #7: Mặt trời

blogpost thumb

Tôi không còn nhớ lần cuối cùng tôi ngắm mặt trời là lần nào.

Những tia sáng mặt trời đang thay đổi, và có lẽ tôi cũng thế, nên chúng tôi đã chẳng thể hợp nhau.

Tôi còn nhớ những ngày nhỏ, tôi yêu ngày mưa, và tôi cũng yêu ngày nắng. Tôi có thể chạy đầu trần giữa trưa, không ốm và da vẫn trắng. Mặt trời và tôi thân nhau là thế. Mặt trời cùng tôi nhảy múa trên những cánh đồng cỏ hoang gần khu tập thể, cùng tôi bắt cào cào xanh, chuồn chuồn đỏ. Mặt trời cùng tôi đi sưu tầm hoa trong khu vườn rực rỡ nơi bố tôi làm việc và thả vào tôi rất nhiều thơ. Chiều về, tôi nằm trên bể nước của khu nhà, ngắm hoàng hôn chảy dài trên mình, mặc lũ trẻ ở khu phố đang chơi xông phi. Những ngày ấy, xa lắm rồi…

Từ bao giờ mặt trời với tôi đã là hai thế lực thù địch nhau. Biến đổi khí hậu ư? Có thể! Nhưng tôi nghĩ đó chỉ là hệ quả của sự biến đổi bên trong mặt trời.

Hãy nhìn mặt trời chúng ta đang có xem! Đó là một mặt trời cô đơn, chẳng thể làm ai vui!

Người ta nói mặt trời ban cho chúng ta ánh sáng vô điều kiện và không muốn nhận gì từ ta cả. Nói xàm! Mặt trời chỉ đang sống đúng với bản chất mạnh mẽ của mình, chúng ta chỉ là một giấc mơ miên viễn của mặt trời. Nếu ta muốn hồi đáp, thì ta đã cố thoát khỏi giấc mơ ấy, và ta sẽ bị thiêu rụi như Ikaros.

Mặt trời là kẻ cô đơn đang mơ tưởng và trói buộc chúng ta trong chính giấc mơ của hắn.

Nhưng đây có phải người bạn mặt trời cùng tôi vui đùa hồi thơ bé không? Tôi không biết nữa! Thân xác mặt trời có một, nhưng linh hồn mặt trời lại có rất nhiều. Như một kẻ rối loạn đa nhân cách.

Những giấc mơ khác nhau đã chiếm hữu mặt trời. Những giấc mơ ấy được tạo thành từ những giấc mơ hoang loạn của chính nhân loại. Những giấc mơ ấy chính là từng phần của nhân cách mặt trời. Những linh hồn mặt trời khác nhau.

Tôi sẽ chọn lấy cho mình một giấc mơ để tiếp tục là bạn với mặt trời và một lúc nào đó lại nhận ra mặt trời không còn là người bạn ấy nữa? Hay tôi nên đơn giản là đóng cửa để không bị những tia nắng xuyên vào xương thịt mình như vô vàn lưỡi kiếm?

Mặt trời đang quằn quại, đang đấu tranh với chính mình để tìm ra nhân cách ngự trị. Một cơn ác mộng khác của mặt trời.

Cơn ác mộng đã làm tan hoang nhân loại.

Và cõi lòng tôi từ lâu cũng đã tan hoang.

Hà Thủy Nguyên

Nhớ#6: Thay đổi thế giới

blogpost thumb

Thay đổi thế giới, hay nói trắng ra là thanh tẩy thế giới, là đam mê quỷ ám của những con người lý tưởng. Đó thực sự là một cái bẫy. Người ta bước vào bẫy với sự hồ hởi, với niềm tin rằng mình sẽ mang lại tương lai tươi đẹp hơn cho thế giới.

Công kích thế giới cũ là một chiến lược! Họ quên mất rằng, trong tương lai, họ cũng sẽ là những điều tệ hại như con người ở thế giới cũ. Hoặc tệ hơn, trong khi họ hô hào viển vông về một thế giới tươi đẹp, thì họ vẫn hành xử như những kẻ phá hoại quen thuộc vốn đại diện cho thế giới cũ. Ai đó vẫn có thể độc tài khi họ liên mồm nói về tự do, vẫn lạm quyền ỷ thế dù nói về dân chủ, vẫn gặm thiên nhiên để sống dù nói tệ thiên nhiên, vẫn đối xử tàn tệ với người khác và hô hào chó là bạn, vẫn lải nhải về hòa bình bằng cách kích động chiến tranh, vẫn bàn về thanh khiết dù không thể sống thiếu tiền… Ôi chao đủ kiểu!

Tôi đã từng ôm mộng thay đổi thế giới tôi đang sống. Nhưng tôi thấy sự bất lực nơi mình. Những điều tôi đang làm đây có thực sẽ mang lại tương lai mới cho thế giới? Những vĩ nhân, họ thay đổi thế giới thật chăng? Hay chỉ là những sai lầm lặp lại theo các cách khác nhau.

Nhiều người thúc giục tôi, hãy dấn thân, hãy là một nhân vật lớn trong một thời đại. Nhưng tôi không thể! Tôi không thể huênh hoang tuyên bố về những điều không thật! Tôi không thể truyền đạt cho một ý tưởng khi bản thân mình không trở thành toàn bộ ý tưởng ấy. Và tôi chọn cho mình một góc nhỏ, để suy tư, để khám phá, để thay đổi bản thân một cách chậm rãi, nhưng không thể lường trước về con người tôi sẽ trở thành… Không! Thực ra tôi còn không biết thứ tôi sẽ trở thành là gì…

Thay đổi nơi tôi chẳng đến như một cuộc khải huyền chết chóc. Nó đến nhè nhẹ như không khí, chợt đến, chợt đi. Thực ra, hãy nghĩ theo chiều hướng khác! Khải huyền tới trong mọi khoảnh khắc tôi sống. Mỗi khoảnh khắc, có những phần trong tôi chết đi và sinh ra.

Tôi nghĩ một nhóm, một tổ chức hay một cộng đồng, một xã hội, đều giống với cá nhân, luôn phải ở cơ chế thay đổi liên tục, thì nó sẽ ổn định. Nếu nó cưỡng lại thay đổi, nó sẽ phải đối mặt với cuộc khải huyền chết chóc. Loạn, đó là phản lực tất yếu cho một cơ chế cứng nhắc và đóng kín. Loạn chỉ thực sự kết thúc khi các nhân tố trong một tổng thể chấp nhận linh hoạt.

Sau tất cả, điều đáng để thay đổi thế giới nhất, đó là thế giới cần nhận ra thay đổi là bản chất của sự sống, không phải một hành vi cần thực hiện hay một lý tưởng. Chấp nhận thay đổi, đó là luật của tự nhiên.

Hà Thủy Nguyên

Nhớ #5: Ngược chiều

blogpost thumb

Đi ngược chiều gió là một trải nghiệm cực khoái. Khoái cảm của cơn gió táp vào khuôn mặt, vào ngực, thổi tung những gì lả lướt như tóc và tà váy!

Khoái cảm của một kẻ cưỡng lại tự nhiên. Những kẻ xuôi chiều không có được sự hưng phấn ấy.

Tôi luôn thích thú khi cái lạnh luồn vào da thịt và cũng sợ hãi run rẩy khi cơn gió thấm vào bên trong. Đây là một thú vui hoàn toàn phản khoa học, một thú vui mang tính hủy hoại cơ thể. Có khoái cảm nào không giết dần giết mòn con người ta đâu.

Có những mùa đông cô đơn, tôi leo lên xe máy, tay cầm chiếc máy ảnh đi săn từng khoảnh khắc những con người co cụm bên bếp lửa. Những ngày tháng ấy mới đây nhưng cũng thật xa. Gió rét khiến con người gần nhau hơn, còn ấm áp khiến con người trở nên hời hợt lướt qua nhau.

Mây trời xám xịt, nhưng không gian trước mắt lại rất rõ ràng. Rõ ràng bởi các giác quan đều đóng lại, chỉ trừ đôi mắt. Như thể nhìn thấy được các vệt gió lồng lộn đuổi nhau trên từng nẻo phố. Trong những ngày nắng đẹp, lạ thay ta chẳng thấy gì ngoài cơn phởn phơ của bản thân mình. Còn trong cơn gió, ta thấy mọi thứ vì bản thân mình bất chợt nhỏ bé tới cực tiểu.

Hà Nội không có tuyết, nhưng đẹp và lạnh bằng ý vị riêng. Trời rất lạnh mới có băng tuyết nhưng băng tuyết khiến cho ta vợi bớt cái lạnh thị giác. Những vệt gió mùa tràn về ở vùng đất này chẳng lạnh tới mức chết cóng tức thì, nhưng nó khiến tôi lạnh lẽo tâm can. Cơn lạnh lẽo cần thiết để lắng dịu lại mọi sân si đời thường.

Ở đất nước xa xôi, có những đồng loại chết trong tuyệt vọng. Họ chọn cho mình một số phận nổi chìm để ước ao một chút ấm áp an ủi mai sau. Họ không chịu nổi những cơn lạnh lẽo và cuộc đời đưa đẩy họ tới một cái chết lạnh lẽo, một cõi hoang vu không lối thoát của tinh thần. Nước mắt nhỏ xuống cõi ấy cũng hóa sương mù. Ngọn lửa nào có thể sưởi ấm được linh hồn họ đây? Chẳng gì ngoài bản thân họ, cụ thể hơn, họ phải từ bỏ ước ao sự ấm áp để có thể mở lòng đón nhận những ấm áp đích thực.

Trong nhiều năm tôi nuôi dưỡng lạnh lẽo nơi mình, dù luôn ở trong những vòng tay ấm áp. Tôi lạnh lẽo để luôn tỉnh táo chứng kiến các hiện tượng diễn ra trong cuộc đời, để không chìm sâu vào giấc mơ miên viễn của phận số.

Tôi không hóa thân làm ngọn gió, nhưng những ngọn gió vì tôi mà thổi đó chăng?

Hà Thủy Nguyên

Nhớ #4: Đêm

blogpost thumb

Đêm, khi tất cả những người thân thiết đã ngủ say, chỉ còn tôi, đó là cô đơn.

Không trăng, không mưa, không cảm hứng, không áp lực công việc, không buồn ngủ, không niềm vui, chẳng nỗi buồn, chẳng giận dữ, chẳng ám ảnh.

Chỉ đơn giản là thao thức và trống trải. Đó là cô đơn. Một nỗi cô đơn không đau đớn, không mệt mỏi, không chán nản.

Không có tiếng động gì ngoài tiếng quạt và tiếng thở của tôi. Cơn gió quá nhẹ để nghe thấy chuyển động của nó.

Ai bảo cô đơn là một căn bệnh!

Nó là một khoảng hẫng của thực tại, khi ta đột ngột bị ngắt khỏi những hành động quen thuộc bị trói buộc bởi các sợi dây liên hệ.

Bỗng nhiên, ta như con rối bị cắt dây, chằng ai điều khiển. Đó là cô đơn.

Những kẻ tự nhận mình là cô đơn và khao khát được lấp đầy, họ không cô đơn, họ chỉ đang thiếu vắng. Thiếu vắng chính là một biểu hiện cho một tinh thần dựa dẫm vào đối tượng bên ngoài.

Khi cô đơn thực sự đến, ta đơn thuần là không cảm thấy gì cả. Chấp nhận nó, và dù có trải nghiệm nó, thì vẫn không có gì cả. Thiếu vắng hủy hoại ta, nhưng cô đơn tái sinh ta.

Cách đây 9 năm, tôi đã từng như hôm nay. Một đêm thu không gì cả, hoàn toàn trống trải và vắng lặng, hoàn toàn cô đơn, tôi đã cứ thế giương tròn mắt nhìn vào màn đêm sau khung cửa sổ. Chẳng suy nghĩ nào ghé thăm.

Tôi cảm thấy tôi hơn bất cứ bao giờ hết. Một tôi khác đã khai sinh vào đêm đó cùng với ba bài thơ liên tiếp.

Một đêm khác sau đó 3 năm, tôi lại cô đơn. Tôi nhận ra tôi hư vô tới nhường nào, và một truyện ngắn đã nảy ra trong đầu tôi.

Đêm nay, tôi lại cô đơn. Nhưng không có gì để viết ngoài những ký ức của mình về chính sự cô đơn. Có lẽ cô đơn của tôi tăng dần cấp độ trạng thái cùng với những lời từ biệt của các ám ảnh.

Cái tôi mới mẻ nào sẽ khai sinh trong đêm nay? Chả quan trọng, rồi thì theo thời gian nó sẽ biến mất. Nhiều cái tôi có hề gì! Nếu chưa thể hoàn toàn vô ngã thì cứ thoải mái với những cái tôi, thay vì biến vô ngã thành một dạng khác của cái tôi.

Khi ta quên mất cảm giác cô đơn là như thế nào, tức là ta hoàn toàn đã quen làm công cụ, làm con rối diễn trò thực tại.

Nhưng nếu ta cố diễn vai kẻ cô đơn, thì đó là một con rối lố bịch và kệch cỡm. Lạ rằng, người đời thích xem kịch, nên họ thích những kẻ vờ vịt cô đơn! Họ thích xem kịch để họ quên đi rằng họ cũng là con rối trong vỉa diễn.

Đêm nay có thể diễn ra sự lan man trong tâm tưởng tôi theo cách này, nhưng tôi sẽ phá hủy sự cô đơn mất.

Dừng ở đây thôi.

Cô đơn là điều đầu tiên tôi có thể nhớ trong cuộc đời của mình. Vậy thôi!

Hà Thủy Nguyên

Nhớ#3: Trống rỗng

blogpost thumb

Trống rỗng…là khi đã quá mệt mỏi và chán nản nhưng vẫn phải tiếp tục bước đi. Đây là một định nghĩa hoàn toàn vô nghĩa. Từ “trống rỗng” chẳng có nội hàm hoặc nội hàm của nó quá trống rỗng để gọi tên.

Thực ra thì khi tôi đã trải qua cả trăm ngàn lần trống rỗng. Đơn giản bởi vì tâm tư của tôi không đặt vào cuộc sống này dù hiện thực tôi đang sống vẫn diễn ra.

Tôi chứng kiến khoảnh khắc tôi chào đời với tràng khóc trống rỗng. Tôi chứng kiến tôi cười nắc nẻ trước mọi sự với trạng thái trống rỗng toàn bộ.

Tôi chứng kiến tôi nhìn sâu vào trống rỗng để thấy mình thuần túy là trống rỗng để rồi viết ra những câu chữ trống rỗng cho ai đó cũng đang trống rỗng như tôi đọc. Đọc rồi quên, viết rồi quên, thế thôi! Trống rỗng mà!

Người đời sợ sự trống rỗng, vì nó lôi người ta khỏi cơn mê đắm cuộc sống, ngăn chặn động lực dẫn đến hạnh phúc và thành công. Nhưng nhận thức về trống rỗng có lẽ là cần thiết, bởi một khi ta thấy trống rỗng tức là việc đó nên được dừng lại, tức là ta đã đi quá xa khỏi bản thân, là giữa mình và mình chẳng còn gì ngoài khoảng trống mênh mang chẳng thể xích gần nhau.

Tôi chọn cách mênh mang trong khoảng trống ấy, mặc cho tâm tư của mình trôi dạt về phía mình. Chứng kiến sự trôi dạt ấy là khoảnh khắc trống rỗng gần như không tồn tại. Lúc này, tôi bị chập cheng, như đứa trẻ hi ha giỡn đùa thế giới, và thấy cuộc sống bất chợt như những vũ điệu liên miên bất tận. Cuộc đời đẹp lên trong mắt tôi theo cách đó.

Tiếc cho ai chưa từng trống rỗng, buồn cho ai chưa từng trôi dạt…

Và bóng chiều đang lướt qua ngoài cửa sổ. Thời gian đi trong một tiếng thở dài.

Hà Thủy Nguyên

*Tranh của Dali

Nhớ#2: Biển

blogpost thumb

Là nơi lửa mặt trời và nước giao hoà… Là nơi tinh tú sa trước mặt… Là đất hung bạo được che giấu bởi bình yên… Là nơi mọi thế lực siêu nhiên tùy nghi phô diễn.

Biển không trôi, biển đứng yên và bành trướng, chỉ đời sống trôi về phía nó, trôi về chìm lấp. Biển không nhấn chìm, mọi sinh mạng chỉ đơn giản là cứ đua nhau trở thành một phần của đáy đại dương.

Địa ngục có thể sâu trong lòng đất, nhưng biển là thế giới của người chết, nền văn minh của người chết. Những con sóng chỉ là sự che đậy thực tại chết chóc này.

Kết nối với biển là kết nối với trùng trùng hàng vạn năm chết chóc, kết nối với những tham vọng và mê luyến chẳng yên. Sóng vỗ – tiếng cõi chết vọng về.

Khám phá biển, khám phá hư vô. Bước vào không có đường ra, đi sâu mãi cũng chỉ là vô cực. Chơi vơi.

Tâm trí như biển, mọi suy tư rồi cũng lộn về chết chóc. Nơi ấy, ta chọn: Hoặc ngước mắt ngóng vọng mặt trời và các vì tinh tú, hoặc vui vầy với hình bóng phản chiếu của chúng. Đằng nào cũng hư ảo như nhau. Sự giao hoà chỉ là ảo tưởng. Tâm trí không trôi, nó chỉ bành trướng và là nơi ẩn chứa những gì đã chết hoặc chưa sinh ra. Tâm trí chính là cõi chết, như biển, và do đó nó phô diễn bằng những cơn sóng và núi đá ngổn ngang.

Thế là đủ cho biển. Cứ để yên, không cố thay đổi, vì đơn giản nó vốn đã là như thế. Sống thì hữu hạn, chết lại vô biên. Đất chật hẹp, biển mênh mông, nhưng không thể sống.

Phận người, từ nguyên bản đã chơi vơi…

Hà Thủy Nguyên

*Tranh minh họa của Aivazovsky